|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
5. QUAN ĐIỂM (2) [344] Trong Kinh Phật thứ năm: (1a-1b) Bản ngă và cơi thế gian th́ vĩnh cửu (sassato attā ca loko ca): Họ cho rằng[1] một số mục đặc biệt nơi sắc uẩn v.v…là “bản ngă” và “cơi thế gian” và rồi mô tả chúng là “bất diệt, thường kiến” và cũng hiểu một số điều khác giống như vậy, theo đó có lời nói rằng: “họ công bố sắc uẩn là bản ngă và cơi thế gian. Họ khẳng định những điều đó không những là bản ngă và cơi thế gian nhưng c̣n bất diệt; họ cho rằng thọ…tầm… hành …thức và cơi dục giới cũng lại chính là ngă, họ khẳng định không những chúng chỉ là ngă mà cơi dục giới c̣n tồn tại vĩnh hằng nữa”[2] hay nói cách khác họ lấy “ngă” làm căn “cái tôi” và lấy thế gian làm căn “cái của tôi” được cho là “những ǵ thuộc về ngă”; hay c̣n nữa,“bản ngă” chính là ta vậy và “thế gian” là người khác; c̣n nữa “ngă” chỉ là một trong số ngũ thủ uẩn Upādānakkhandhas, điều c̣n lại là “thế gian”; hoặc giả “ngă” chính là uẩn tương tục tính có thức, “thế gian” cũng như vậy chỉ khác là không có thức mà thôi, cũng giống như vậy họ phân biệt điều này điều kia[3] mang hai đặc tính theo từng trường hợp cụ thể một, tức là, một đàng là “ngă” c̣n đàng kia là “thế gian” và rồi mô tả cả hai gắn kết với quan điểm cho rằng cả hai đều tồn tại vĩnh cửu, bất biến, và bất diệt - bằng cách này Đức Phật đă làm rơ bốn học thuyết về thường kiến toàn bộ bảy học thuyết đoạn kiến bằng cách làm rơ là “vô thường”. (1c) “Thường và vô thường” có nghĩa là chúng mang đặc tính thường và thay đổi theo cách sau đây, tức là một phần “ngă” và “thế gian” th́ thường hằng[4] số khác lại vô thường; hay nói cách khác cùng một “ngă” và cùng một “thế gian” lại có đặc tính vừa thường lại vừa vô thường, giống như những ai cho rằng “ngă” là sanh thú của một ḿnh họ vậy.[5] (ngă) có thể là thường[6]” như vậy đây chính là ư nghĩa ta nên hiểu liên quan đến vấn đề này, theo cách thức này, trong trường hợp này[7], đây chính là học thuyết một phần thường kiến ta muốn làm rơ vậy. (1d) chẳng mang tính chất thường hằng mà cũng không tồn tại vĩnh cửu (’eva sassato ’āsassato): bằng cách này ta làm rơ học thuyết ngụy biện kiến (el-wriggling), đối với những người này, khi nhận thấy thường kiến và vô thường kiến là sai, họ liền đi loanh quanh luồn lách (nhằm đưa ra một câu trả lời)[8] nói rằng, ’ và “thế gian” chẳng tồn tại vĩnh cửu mà cũng chẳng không tồn tại vĩnh hằng.” (2a). Ngă tự tạo (sayaṃkato): được tự tác thành; chính v́ “ngă” thuộc người này người kia cảm nghiệm được hạnh phúc và đau khổ sau khi đă tạo ra Pháp bao gồm pháp của chính ḿnh, chính v́ thế cũng chính “ngă” này đă tạo ra “ngă”[9] và cho rằng[10] ngă này đă tạo ra niềm vui và thế gian được coi như là điều trở ngại. - chính v́ điều này đă lẩn tránh chúng[11] chính v́ thế niềm tin của họ nơi “ngă” cũng chính là niềm tin nơi “tha nhân” vậy. (2b) Do tha nhân tạo ra (paraṃkato [12]): do tha nhân tạo thành (parena kato); ư nghĩa ở đây là, ngă và thế gian là do tha nhân tạo thành (dưới dạng) hoặc là do Isvara[13], Puruṣa. Prajāpati. Time, hay là Prakṛti. Ư nghĩa ở đây là chính chúng đă khiến ngă và thế gian xuất hiện. (2c). Vừa tự ḿnh và vừa do tha nhân tác thành nữa (sayaṃkato ca paraṃkato ca [14]): đây là niềm tin của một số người cho rằng, v́ Isvara v.v…khi khiến cho ngă và thế gian xuất hiện th́ cũng không khiến xuất hiện hoàn toàn do chính họ mà thôi, nhưng chỉ sau khi có được sự hỗ trợ[15] của những pháp[16] thiện hay bất thiện nơi chúng sanh này nọ mà thôi. [345] chính v́ thế ngă và thế gian vừa là tự tạo và cũng do tha nhân tạo thành nữa. (2d) Chẳng xuất hiện v́ tự tác tạo cũng như tha nhân là tác nhân tạo thành (asayaṃkāro aparaṃkāro [17]): đó là những ǵ không do ḿnh tự tạo là “không do ḿnh làm tác nhân tác thành” mà cũng chẳng có tác nhân nào khác tạo ra là “không do tác nhân nào khác tạo thành”[18], aparaṃkāro [19] được nói đến sau phần chèn theo từ giọng mũi (nasal). Loại này [20] nhận ra sai lầm nơi cả hai, lại khước từ cả hai. Thế th́ bằng cách nào cả hai lại khởi sanh? Ngài cho rằng “khởi sanh do t́nh cờ” học thuyết cho rằng những ǵ được khởi sanh một cách t́nh cờ được làm rơ bằng cách những ǵ được cho là khởi sanh một cách t́nh cờ [21], khởi sanh trong lúc không có nguyên nhân nào cả và [22]như vậy học thuyết vô nhân duyên[23] cũng được gồm tóm[24] trong đó. (3a-4d) “có một số vị sa môn bà la môn” v.v… được đề cập đến tiếp theo sau đó nhằm làm rơ học thuyết được liên đến tà kiến họ cũng mô tả hạnh phúc và đau khổ lại chính là “ngă”, thông qua thường kiến v.v… mà gắn kết với quan điểm cho rằng chính hạnh phúc và đau khổ lại tạo thành những ân đức đặc biệt[25] hay những chủ trương holdings. Phương pháp ở đây cũng giống như điều đă được khẳng định ở trên. Thẩm định lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): về vấn đề này, ư nghĩa cần được phân tích chính xác theo cùng một cách như đă khẳng định ở trên ngoại trừ ẩn dụ về những người mù từ lúc mới sanh liên quan đến việc ư nghĩa này không được truyền lại trong trường hợp này; cũng giống với đoạn kệ kể trên. Trong đó[26] sự khác biệt này đă xuất hiện[27], tức là. “họ đă lún ngập đang khi vẫn c̣n tồn tại ở giữa những quan điểm đó, chỉ đơn giản là họ không đạt đến được một nền tảng vững vàng” chính là ư nghĩa như sau: Những người đó v́ liên đến tà kiến, đang khi vẫn c̣n bám víu (āsajjamāna)[28] đến với những tà kiến, và những hỗ trợ đối với những quan điểm về tà kiến đó, lún ngập sâu (visīdanti = saṃsīdanti, là từ đồng nghĩa) đang khi vẫn c̣n lún ngập ở giữa đang khi vẫn c̣n ở giữa, bốn bộc lưu như dục bộc lưu v.v…[29]. hay nói cách khác, nơi đại bộc lưu chính ṿng luân hồi vậy, đơn giản là chưa đạt tới được, đơn giản chưa chứng đắc níp bàn đó được coi như là một nền tảng vững chắc hoặc do chính là bến bờ[30] an toàn cho chính họ hay của người khác hoặc giả cũng được coi như là một xứ, hay chính thánh đạo đó lại trở thành phương tiện nhằm đạt đến níp bàn vậy; đây chính là một “nền tảng vững vàng” (ogādho). Là thánh đạo và là níp bàn vậy, v́ chính tại đó hay tại nơi đây[31] họ t́m ra được nền tảng vững vàng (ogādhanti), đă được thiết lập, cũng chính cùng một ogādhaṃ (nền tảng vững vàng này) liên quan đến vấn đề này, đă được đề cập đến như là ogadhaṃ sau khi đă rút ngắn nguyên âm, đây là cách giải thích từ[32] dành cho từ tamogadhaṃ là taṃ ogadhaṃ. Việc diễn giải Kinh Phật thứ năm kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Be giải thích là gahetvā c̣n bản văn Ce Se ghi là saṅgahetvā. [2]. Rất hiển nhiên đây là một trích đoạn, nhưng không được dịch. [3]. Ce Be Se giải thích là taṃ taṃ c̣n bản văn ghi là tan ti. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attā ca loko ca sassato c̣n bản văn ghi là sassato attā ca loko ca. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attagatidiṭṭhikānaṃ c̣n bản văn ghi là attabhaṅgadiṭṭhikānaṃ; cả từ attagati lẫn từ attabhaṅga đều không thấy được liệt kê trong tự điển Childers, PED, CPD hay BHSD, trong khi đó tự điển SED có một từ mục chỉ dành cho ātmagati, CPD không liệt kê từ attagatika nhưng chỉ trích dẫn cách sử dụng của từ này trong tập chú giải DA 548 và SA iii 204 trong phần giải thích từ attasaraṇa, trong khi đó lại đưa ra ư nghĩa hơi dư thừa như “qui y chính ḿnh” h́nh như lại ám chỉ một số quan điểm trong đó bản ngă, cho dù hiện được coi là vô thường, lại có thể phát triển thành thường hằng, điều này h́nh như không phải là ư nghĩa dự định trong các đoạn văn tự điển CPD trích dẫn; cách giải thích trong bản văn lại trái ngược hẳn; h́nh như lại ám chỉ quan điểm trong đó cho rằng bản ngă hiện hữu vĩnh cửu tiếp theo sau diệt, và trở thành vô thường, chẳng có cách giải thích nào giúp ta có thể hiểu được vấn nạn thế gian này là vĩnh cửu hay không tồn tại vĩnh hằng. [6]. Ce Be Se giải thích là siyā sassato c̣n bản văn ghi là siyā asassato. [7]. Chú giải Be Se giải thích là sabbatthā pi c̣n bản văn Ce ghi là sabbatthā ti. H́nh như chính v́ lư do này ngài Woodward đă coi đây là một cước chú không thấy ghi lại trong chú giải Ud. [8]. Vikkhepaṃ karontā; hay là tạo phóng dật, hỗn loạn. [9]. Chú giải Be Se giải thích là attā c̣n bản văn Ce ghi là attanā. [10]. Be Se giải thích là kiñcanaṃ Pālio c̣n bản văn Ce ghi là kiñcanaPālio; c̣n từ kiñcana có nghĩa là “cố chấp” xin đọc chú giải Ud-a 116 ở trên. [11]. Bản văn Ce coi đây là một cước chú khiến ngài Woodward cho là không thấy giải thích trong chú giải Ud. Tôi chấp nhận chú giải Be. [12]. Chú giải Ce Be Se Ud cũng giải thích như vậy c̣n bản văn lại ghi là parakato; xin đọc chú giải dưới đây. [13]. Vị Tạo Hoá; điều này và những khác biệt tiếp theo sau đây tạo thành cách ám chỉ một số các học thuyết đa dạng do các trường phái Ấn Độ khác nhau đưa ra để chứng tỏ bằng cách nào bản ngă và thế gian này xuất hiện như thế nào, có một danh sách hơi khác nhau được t́m thấy trong Thanh Tịnh Đạo 511, một phần tác phẩm Pm do Ñāṇamoli trích dẫn trong Ppn 584 n 23, ta cũng có thể t́m thấy một cuộc thảo luận ngắn trong K.N. Jayatilleke, Học thuyết trí Phật Giáo cổ xưa. (Early Bhudhist Theory of Knowledge, London, 1963, tr. 260tt. [14]. Chú giải Be Se và Ud cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là sayaṃ kato parakato vā. Chú giải Ce giải thích là sayaṃkato paraṅkato ca. [15]. Sahakārikāraṇaṃ ’va; PED liệt kê từ sahakāra, nhưng chỉ hiểu theo nghĩa “một loại quả xoài toả hương thơm”. Tuy nhiên, chú giải SED các mục từ sahakāra, sahakāriṇ Jayatilleke, loc cit, lại giải thích như sau: “cứu xét đến điều thiện và điều bất thiện nơi mỗi chúng sanh được coi như là nhân duyên đồng cộng tác.” [16]. Dhammādhammānaṃ. [17]. Toàn bộ các bản văn cũng giải thích giống như vậy; chú giải Ud giải thích asayaṃkāro ca aparaṃkāro ca. Ngài Woodward lại ghi thêm một chú thích khẳng định rằng Ud giải thích là asayaṃkāraṃ aparaṃkāraṃ ở đây, nhưng ngài lại lẫn lộn cước chú (2d) với cước chú (4d) [18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aparakāro c̣n bản văn ghi là aparaṅkāro, cái c̣n lại trong câu rơ ràng cho chúng ta thấy bị sai. [19]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là asayaṅkāro aparaṅkāro. [20]. Ayaṃ, số ít, ngược lại chủ từ trong tập chú giải Ud lại ở số nhiều và như vậy h́nh như chỉ rơ hoặc là một loại sa môn bà la môn hay là quan điểm họ chủ trương. [21]. Yadicchāya; không thấy liệt kê trong tự điển PED, nhưng chú giải SED sv ghi là yadṛccha, cũng như Jayatilleke (loc cit). [22]. Chú giải Be giải thích là ca ; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua. [23]. Ahetukavādo. [24]. Ngài Woodward đă chấm câu sai; tôi chấp nhận chú giải Ce Be Se. Jayatilleke lại chấp nhận một cách chấm câu hơi khác một chút, h́nh như đây là cách chấm câu của chính ông ta. [25]. Tassa; h́nh như là bản ngă. [26]. Chú giải Be Se giải thích là tathā gāthāya//Tattha antarā’ va c̣n bản văn Ce ghi là Tattha gāthāya antarā’ va. [27]. Chú giải Ce Be Se giải thích là viseso c̣n bản văn ghi là visesato. [28]. Āsajjati không thấy liệt kê trong tự điển Childers, PED hay CPD, mặc dù từ điển này không có cả từ mục āsatta, được khẳng định là quá khứ phân từ của động từ āsajjati. [29]. Xin đọc td. D iii 230. [30]. Ce Be Se giải thích là pārabhāvena c̣n bản văn ghi là vādābhāvena. [31]. “Theo cách đó” chỉ rơ là thánh đạo,“ở đây” là Níp-bàn. [32]. Padavibhāgo; chú giải chú thích trong Ud-a 6 ở trên. |
|