NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4.  QUAN ĐIỂM (1)

Trong Kinh Phật thứ tư: Các vị sa môn, các vị phạm hạnh, và các du sĩ thuộc nhiều quan điểm khác nhau (nānātitthiyasamaabrahmaaparibbājakā [1]) có một titthaṃ (giao lộ) trong đó ngay chính giao lộ này họ phải vượt qua (taranti [2]) bộc lưu ṿng luân hồi, (có nghĩa là) thánh đạo dẫn đến Níp bàn: nhưng trong trường hợp hiện hữu[3] lại chính là các quan điểm gồm có tà kiến[4] như một số trong họ đă đến tà kiến này bằng những tầm điên đảo gồm những tà tầm v.v…[5] được ám chỉ đến ở đây bằng từ titthaṃ (quan điểm), có rất nhiều “quan điểm” v́ những người này gắn kết với titthaṃ (quan điểm) vừa kể, quan điểm này lại chấp nhận rất nhiều h́nh thức đa dạng như thường kiến v.v… các quan điểm về “sa môn, bà la môn và du sĩ” v́ không chỉ có duy nhất các vị sa môn đại loại như các vị nigaṇṭhas chủ trương loă thể v.v…nhưng c̣n có các ẩn sĩ như thể những người thuộc trường phái Kaha và Kalāpin v.v…[6] và các vị du sĩ như là Pokkharasāta[7] v.v…; (trong lúc) họ là “các sa môn, bà la môn và du sĩ thuộc nhiều quan điểm khác nhau” v́ họ cũng chính là các vị sa môn, bà la môn và du sĩ với nhiều quan điểm đa dạng” chính v́ họ là những người có nhiều quan điểm khác nhau như các vị sa môn, bà la môn và du sĩ[8]. Chính do diṭṭhi (quan điểm), chính do điều này họ coi các pháp theo các quan điểm như vậy, tỷ như “bản ngă và cơi thế gian th́ thường hằng”[9]v.v…. hay nói cách khác chính v́ quan điểm đó đă khớp với những ǵ họ nhận định về các pháp như vậy – và tương tự như vậy, chính v́ đơn giản đây chỉ là một quan điểm[10], thế nên đây chính là một từ đồng nghĩa đối với việc gắn kết quan điểm đó với những ǵ sai trái (tà kiến) – các quan điểm đó lại rất đa dạng, với thiên h́nh vạn trạng khác nhau, do thường kiến và các quan điểm khác họ chủ trương. Một sự “thuyết phục[11]” chính là khi đă được thuyết phục, một “khuynh hướng” chính là ta ngả theo điều ǵ đó. Bằng cùng một khái niệm thường kiến v.v… (các từ này ám chỉ) c̣n về ư nghĩa tầm điên đảo và tâm điên đảo[12] lại bắt nguồn bằng những (quan điểm như thế) “bản ngă và thế gian th́ thường hằng” v.v…[339] lại có rất nhiều cách thuyết phục v́ chính những cách thuyết phục đa dạng đó thuộc về họ, “rất nhiều khuynh hướng đa dạng” v́ những khuynh hướng đa dạng đó chính họ đă chủ trương; đối với người nào nghĩ đến tà kiến, trước tiên sẽ tạo ra trong tâm họ ngả theo hướng nào đó và sẽ bị thuyết phục, cách này cách khác, sau khi đă gắn kết với quan điểm đó (cho rằng chỉ có quan điểm đó mới là đúng, c̣n toàn bộ những ǵ khác đều phù phiếm; hay nói cách khác, đơn giản chỉ có diṭṭhi (quan điểm) là điều ta cần hiểu rơ như ta đă đề cập đến ba từ dưới đây, tức là điều đó là quan điểm do cách ta quan sát các vật, là cách thuyết phục bằng cách ta bị thuyết phục và là một khuynh hướng bằng cách chúng ta thiên về điều đó cách này cách khác, bằng những quan điểm như thể “Điều là vô thường ta lại cho là thường” v.v… dựa trên sự hỗ trợ nhiều mặt về một quan điểm như vậy (nānādiṭṭhinissayanissitā): dựa trên, gắn kết với, gắn chặt vào[13] không rời nhau, (gắn kết với), là điều hỗ trợ, là căn bản, là lư do, v́ quan điểm đó (nhằm hỗ trợ) lại thuộc nhiều loại đa dạng theo cách thức được giả dụ như thường kiến v.v… hay nói cách khác, (dựa trên, v.v…) việc hỗ trợ được coi như là chính quan điểm đó vậy, có nghĩa là kiên định không để cho điều đó vuột mất[14] . Đối với quan điểm cũng như vậy, cũng có thể hành động như những hỗ trợ cho chính những phương cách gắn kết đa dạng đó về phía những người nào nghĩ đến những quan điểm đó.

(1a) Đă hiện hữu: santi = atthi (một dạng ngữ pháp khác), đă thấy tồn tại, đă khám phá ra tồn tại. Một số (eke): một số những người đó (ekacce). Các vị Sa môn bà la môn (samaabrāhmaā): các vị sa môn thông qua việc thực hiện vào việc xuất gia, bà la môn là do bẩm sanh; hay nói cách khác (một số những vị này) đă được toàn thể chúng sanh theo phần đông cho là các vị sa môn là các vị bà la môn[15]. Họ có một học thuyết như vậy (evaṃvādino): họ có học thuyết như vậy (vādino) v́ họ đă phát biểu (vadanti) ngay lúc này theo cách họ đă biểu lộ, họ có quan điểm như vậy, v́ quan điểm được tiến hành theo cách thức giờ đây đă được đề cập đến chính là của họ. Về điểm này, theo cách diễn tả thứ hai được làm rơ việc gắn kết chặt chẽ với điều ǵ là sai trái về phía những người nào luôn nghĩ đến những tà kiến, bằng cách diễn tả thứ nhất chính là lời tuyên bố[16] của họ bằng cách thiết lập những người khác trong đó ăn khớp với những điều gắn kết đó.[17] Cơi thế gian tồn tại vĩnh cửu, và duy chỉ có điều này là đúng, mọi điều ǵ khác đều tỏ ra  phù phiếm (sassato loko idam eva saccaṃ moghaṃ aññaṃ): liên quan đến vấn đề này, “cơi thế gian” chính là bản ngă; v́ đây là điều từ “cơi thế gian” (loko) này muốn ám chỉ chính v́ tại đây ta quan sát thấy các hành vi thiện và bất thiện và dị thục trong đó[18] được những người thường viện đến tà kiến quan sát (lokiyanti)[19] thấy, hay nói cách khác v́  chính những người đó đă tụ tập lại[20](cơi “thế gian” đó (trong đó) đă quan sát do chính họ là người tác thành v.v…cơi thế gian này[21]… ư nghĩa của (cước chú) chính là điều này – tức là quan điểm này của chúng ta có ảnh hưởng đến chính “cơi thế gian này”) lại là vĩnh cửu, bất tử, thường hằng và ổn định – chỉ có điều này là đúng,  rơ ràng , toàn bộ những ǵ khác, như quan điểm của người khác[22] đều không thường kiến v.v…hơn thế nữa, lại là phù phiếm, sai trái. theo cách này ta đă làm rơ[23] toàn bộ bốn học thuyết về thường kiến.

(1b). Không trường cửu (asassato): không trường tồn, ư nghĩa là vô thường, không ổn định, có thể bị diệt. V́ đây chính là đoạn kiến (annihilationism) được làm rơ bằng việc chối bỏ dứt khoát pháp vĩnh cửu[24] trong đó họ chủ trương rằng “cơi thế gian” không trường tồn vĩnh cửu, toàn bộ bảy học thuyết đoạn kiến đă được làm rơ[25].

(2a). Hữu hạn (antavā): bị buộc, bị giới hạn qua một chừng mực nào đó, có nghĩa là không hiện hữu ở khắp mọi nơi; theo cách này trong đó ta giải thích được bản ngă chính là chiều kích của thân, chiều kích của ngón tay, chiều kích của hạt lúa ḿ[26], chiều kích của một hạt nhân[27] nhỏ nhất v.v…

(2b) Bất định (anantavā [28]): vô tận, có nghĩa là hiện hữu ở khắp mọi nơi, theo cách này học thuyết của Kapila và Kaāda[29]v.v…được làm rơ.

(3a) [340] linh hồn và thể xác chỉ là một và chỉ là một vật mà thôi (ta jīva ta sarīra) điều[30] này cho thấy linh hồn và thể xác được đồng nhất với nhau[31], cho rằng “bất luận điều ǵ là thể xác, th́ cũng cùng như vậy điều này được coi như là linh hồn, trong khi đó bất kỳ điều ǵ[32] được coi là linh hồn th́ cũng chính là thể xác nữa.” Theo cách này đây chính là học thuyết nhất ngă thể chất[33], giống như học thuyết của ājīvakas[34] đă được làm rơ; ngược lại,

(3b) Thông qua học thuyết này “linh hồn là một điều, c̣n thể xác lại điều khác[35]”đây chính là học thuyết chủ trương bản ngă vô sắc[36] đă được làm rơ.

(4a) Đă nổi lên vị Như Lai sau khi chết (hoti [37]Tathāgato para maraā): về điểm này “vị Như Lai” chính là bản ngă[38]chính v́ đây người nào có tà kiến mô tả “vị Như Lai” lại chính là “bậc[39] Như Lai”(tathāgatabhāva), được coi như hoặc là người tác tạo và là người cảm nghiệm v.v…hay được coi như là một pháp vĩnh cửu, ổn định v.v…mà ta phải trải qua sau khi diệt (chết); như vậy đă có nghĩa là tồn tại, được thấy hiện hữu. Tiếp theo sau khi đă chết (diệt), tức là sau việc thân ta đă trải qua huỷ hoại theo cách này ta đă làm rơ, dưới tiêu đề am hiểu[40] về thường kiến[41] mười sáu học thuyết về (linh hồn sau khi chết) có tầm, tám học thuyết về (linh hồn sau khi chết) lại không thể tầm được và[42] tám tầm về linh hồn sau khi chết lại phi tầm phi phi tầm.

(4b) Không hiện hữu (na hoti): không tồn tại, không được phát hiện là tồn tại; theo cách này học thuyết đoạn kiến được làm rơ[43].

(4c) Cả hiện hữu lẫn không hiện hữu (hoti ca na ca [44] hoti): trường hợp vừa hiện hữu lẫn không hiện hữu; theo cách này bốn học thuyết một phần thường kiến và bảy học thuyết liên quan đến có tầm[45] được làm rơ; ngược lại,

(4d) nhờ cách này “chẳng hiện hữu và cũng không bất hiện hữu”, đây là học thuyết eel-wriggling [46]. Đây chính là cách ta nên hiểu[47] vạn vật theo cách thức nào.

Người ta nói rằng những người nào liên đến những quan điểm như vậy, đang khi lưu lại Sāvatthi sau khi đă tới đó từ nhiều nơi khác nhau, tụ tập lại làm một và vào cùng một thời điểm tại cùng một nơi thường tranh luận các ư kiến về vấn đề này, lại thấy chê chọc các học thuyết của người khác sau khi mỗi con người đă chọn lựa với chính học thuyết của ḿnh, họ đă ḥa ḿnh vào cuộc tranh căi này, v́ lư do đó có lời nói rằng “Họ đă lưu lại căi cọ lẫn nhau” v.v…

Căi cọ: bhaṇḍanajātā = jātabhaṇḍanā (một dạng ngữ pháp khác) “căi cọ nhau” là tên gọi dành cho giai đoạn trước cuộc tranh luận. Kalaho (tranh luận) chỉ đơn giản là căi nhau (kalaho)[48];hay nói cách khác điều này được coi như là một cuộc  tranh căi (kalaho) liên quan đến chi tiết làm nhiễu loạn thanh tịnh (kalassa hananato)[49]. Họ là những người thường xuyên “ḥa ḿnh vào cuộc tranh căi” v́ họ là những người thường bất đồng trong lời nói với nhau, v́ khẩu có thể trở thành mũi tên, liên quan đến việc thốt lên những cú đấm chí tử (người ta có thể nói đến) “mũi tên miệng” (có nghĩa là) lời nói khó nghe; chính v́ đây là một nguyên nhân có thể được mô tả bằng một ẩn dụ về thánh quả[50] cũng như vậy có thể là kết quả theo ẩn dụ nguyên nhân, như trong “việc xuất hiện Đức Phật thật hạnh phúc biết bao”[51] và hành vi bất thiện cũng đă được cảm nghiệm[52]. Họ đă dùng những lời bất thiện để chỉ trích, đâm thọc lẫn nhau phát ra từ lời nói bất thiện. Phật pháp phải mang đặc tính này (ediso dhammo): Phật Pháp [53], có chính bản chất là  rơ ràng [54] lại mang đặc tính như vậy, có dạng như vậy, như lời ta đă khẳng định, tức là “cơi thế gian th́ thường hằng” Phật Pháp chẳng mang bản chất như vậy (’ediso dhammo): Phật Pháp không mang đặc tính như điều các ngươi khẳng định, tức là “Cơi thế gian này th́ không thường hằng” (đoạn văn này) cần được phân tích[55] theo cách này với các từ c̣n lại nữa[56] và cuộc  tranh căi này về phía những người có các quan điểm khác nhau đă trở nên phổ biến và rất nhiều người trong thành phố đă nghe thấy.

Giờ đây, vừa nghe được điều này, các vị Tỳ khưu đă vào thành Sāvatthi để khất thực: “điều này chắc chắn đang được bàn đến[57]. Giả dụ như chúng ta bạch cho Đức Phật biết [341] về biến cố này chắc chắn chúng ta sẽ nhận được lời giảng giải rơ ràng[58], súc tích từ vị đạo sư [59]của chúng ta dựa trên vấn đề này”, và như vậy, tiếp theo sau bữa ăn trưa, khi đến thời gian dành cho một buổi diễn giải Phật Pháp, họ đă bạch cho Đức Phật biết về vấn đề này, v́ lư do đó có lời nói rằng “Thế rồi có rất nhiều các vị Tỳ khưu” v.v…vừa nghe được điều này, Đức Phật nói, “các vị du sĩ có quan điểm rất khác biệt, hỡi các vị Tỳ khưu” v.v… khiến nẩy sanh thiếu trí về Phật Pháp và thực tế là, về phía những người nào có quan điểm khác. Về điểm này:

Bị Mù (andhā): bị mù do thiếu tuệ giác (cakkhu), chính v́ lư do đó ngài nói rằng “thiếu tầm nh́n (acakkhukā)”. V́ chính tuệ giác ở đây được ám chỉ đến “tầm nh́n” (cakkhu); tương tự như vậy,“xin đừng biết ân huệ dành cho họ là ǵ?”v.v…cũng được nhắc đến. Về điểm này. Không biết được điều ǵ là ân huệ dành cho họ”: không biết được ân huệ dành cho họ trong kiếp này, và ân huệ nào dành cho họ nơi kiếp sau, không biết được điều ǵ đă tạo thành sự phát triển, tính chất cao cả,[60] khi liên quan đến kiếp này và cả kiếp sau nữa; chính v́ thế điều được đề cập đến là lợi ích tuyệt đối, níp bàn có liên quan đến chăng? Tuy nhiên làm thế nào những người đă tỏ ra lẫn lộn ngay cả nơi nào chỉ liên quan đến trí về nivtti và pravitti mà thôi? Không biết đến điều ǵ không phải là ân huệ dành cho họ (anattha na jānamti [61]): tại bất kỳ điểm nào họ biết sẽ đem lại ích lợi ǵ cho họ, th́ họ cũng chẳng biết ở cùng điểm đó sẽ không đem lại lợi ích ǵ cho họ nữa.[62] V́ họ không hay biết ǵ về Phật Pháp, chính v́ thế[63] họ cũng không biết được điều ǵ chẳng phải Phật Pháp nữa. Đối với những người này, liên quan đến việc họ bị cố chấp của tính ngoan cố [64], họ coi Phật Pháp cho dù là điều thiện[65], lại coi đó là điều bất thiện, coi điều không phải là Phật Pháp cho dù là điều bất thiện [66] coi là điều thiện, và không những họ chỉ lẫn lộn ở nơi Phật Pháp và ở chỗ không phải là Phật Pháp [67], nhưng c̣n cả ở những nơi có liên quan đến các dị thục trong đó,[68] v́ cũng giống thế họ mô tả nghiệp chướng được coi như là dị thục, và dị thục lại coi là nghiệp chướng, cũng giống vậy, họ chẳng biết đến Phật Pháp là điều mang bản chất riêng, mà cũng là điều không phải là Phật Pháp  lại là điều thiếu bản chất riêng[69] vậy, và như vậy họ tuyên bố một điều có bản chất riêng lại như thể là điều chẳng hề có bản chất[70] riêng đó; cũng giống như đó là điều mang bản chất riêng vậy. Chính v́ thế sau khi đă làm rơ rằng việc mù quáng nơi những người thuộc các quan điểm khác nhau, kết quả từ việc họ thiếu khả năng tuệ nhăn do chiếm lănh si mê và tà kiến, Đức Phật đă nói tiếp “hỡi các vị Tỳ khưu, nơi kiếp trước” v.v…để làm sáng tỏ một thực chất bằng một ẩn dụ về những người bị mù từ lúc mới sanh.” Về điểm này:[71]

Nơi kiếp trước: bhūtapubba = pubbe bhūta (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), khi xuất hiện trong thời gian đă qua.[72] Có một vị vua nọ (aññataro rājā ahosi): có một vị vua thuộc một cơi thế gian xa xưa không xác định được bằng danh tánh và thân tộc. Vị vua đó cho điều một số người (so rājā aññataraṃ purisaṃ āmantesi): người ta kể lại rằng, vừa nh́n thấy con voi[73] cũng chính là ngọn núi hoàng gia của ngài[74] lại chạy đến hầu hạ ngài, con voi đă đạt đến trạng thái vô cùng mỹ miều. Tứ chi tuyệt hảo, điều xảy đến cho nhà vua là cỗ tượng đó trông rất tuyệt, quả thật là thiện mỹ; và vào thời điểm đó có một người bị mù từ lúc mới sanh đi ngang qua công viên hoàng cung. Khi vừa nh́n thấy người đó[75] nhà vua có suy nghĩ: [342] Thật là điều mất mát to lớn đối với những người mù đă không thể nh́n thấy[76] một vật dưới dạng này dạng nọ, không nh́n thấy điều tốt đẹp để nh́n ngắm; giả sử như ta qui tụ họ lại tất cả những người mù trong thành Sāvatthi như người bị mù từ lúc sanh, ra lệnh cho từng người tiếp xúc một phần con voi này và rồi nghe họ nói xem con voi là như thế nào”. Chính v́ thế vị vua tinh nghịch đó đă truyền một số người cho tụ tập lại toàn bộ những người mù từ lúc mới sanh trong thành Sāvatthi và rồi đưa ra ư tầm cho người đó phải hành động theo cách nào đó để mỗi người trong số những người mù đó phải làm, vừa khi tiếp xúc với từng chi của con voi, như thể đầu voi, chẳng hạn v.v…và tầm tượng xem[77] họ đă nh́n thấy con voi ra sao; người đó thực hiện y như lời nhà vua truyền lệnh. Thế rồi nhà vua hỏi t́m hiểu rất kỹ lưỡng về những người đă bị mù từ lúc mới sanh[78]: “hăy nói cho ta biết, con voi ra làm sao, giống như thế nào? thế rồi họ lên tiếng coi cùng những phần đặc thù của con voi đă được rất nhiều người trong họ xem thấy cho là con voi và rồi họ tranh căi nhau với nhau nói rằng, “con voi quả thật có đặc tính như vậy, con voi không có đặc tính thế kia”; họ tấn công lẫn nhau bằng khuya chân múa tay v.v…tạo ra một cuộc náo loạn lớn trong công viên hoàng gia; vừa nh́n thấy những hành vi không thích hợp của họ, nhà vua cùng với đoàn tùy tùng của ngài với tâm phỉ lạc, xương cốt ră rời họ đă được một bữa cười hả hê. V́ lư do đó có lời nói rằng, “hỡi các vị Tỳ khưu, giờ đây nhà vua đă trở nên sung sướng phấn chấn trong tâm.”[79]Về điểm này:

Hăy nh́n đây (ambho) họ thưa lại với nhà vua. Như thể là: yāvatakā = yattakā (là từ đồng nghĩa). Đă bị mù từ lúc mới sanh: jaccandhā = jātiyā andhā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), khiếm thị từ lúc mới sanh trở lại đây. Cùng nhau (ekajjhaṃ): tụ tập lại làm một. Ta phải nói rằng (bhaṇe) là một lời nói thiếu kính trọng. Làm rơ con voi (hatthiṃ dassehi): ám chỉ đến con voi đă nói đến trước đó[80] sau khi đă để cho con vật ngồi tựa xuống và liên quan đến việc đă được huấn luyện kỹ càng con vật đă nằm xuống mà không một chút loạng choạng[81]. Chúng ta có thể nh́n rơ con voi (diṭṭho no hatthi): họ nói bằng cách dùng tay sờ con voi làm thị giác. Những người bị mù từ lúc mới sanh lên tiếng: “tâu bệ hạ, con voi tự bản chất trông giống như một b́nh đựng nước” chỉ biết con voi mang bản chất như vậy liên quan đến thực chất là, vừa mới lấy tay đụng vào đầu con voi người đó đă chú ư đến điều[82] “con voi có bản chất như vậy” và [83] giống như một b́nh đựng nước có nghĩa là một b́nh đựng nước to; con voi giống như một “cái cọc” chiếc ngà của con voi giống như cái cọc[84], con voi giống như “một thân cây” bốn chân con voi[85] trông giống như “chiếc bắp cày”(nagalīsā) của một chiếc cày (naṅgalassa = sirassa [86], là từ đồng nghĩa, cái xà nhà (īsā), con voi trông giống như “xác con người” (kāyo) thân thể (sarīra), con voi giống như một “cái nhà kho”, lẫm thóc[87], con voi giống như “cẳng chân”[88] xương ống chân, con voi trông giống như một “cây cột” cột trụ, con voi trông giống như một “cái đuôi” phần trên đầu của cái đuôi[89]. Họ dùng nắm tay đấm đá nhau (muṭṭhīhi sasumbhisu [90]): choảng nhau bằng cách dùng nắm tay[91] thọi vào nhau[92]. Cảm thấy sảng khoái trong tâm (attamano ahosi): kết quả trận căi vă từ phía những người mù từ lúc mới sanh, liên quan đến tính cách tinh nghịch của ḿnh, nhà vua cảm thấy sảng khoái trong tâm, là người có tâm sảng khoái[93].

Theo cùng một cách như vậy (evam eva kho) đây là cách ứng dụng ẩn dụ; đây là ư nghĩa của ẩn dụ: “hỡi các vị Tỳ khưu, giống như những người bị mù ngay từ lúc mới sanh, thiếu thị giác, chỉ biết rơ có một chi mà thôi trong khi đó không thể quan sát[94] được các phần c̣n lại của con voi, phần [95] được chính họ quan sát [343]  cũng chính là phần đă được quan sát do những người c̣n lại trong tầm của họ về con voi. Đang khi lại tham gia vào cuộc tranh căi với những người khác, họ đă tạo thành một cuộc ẩu đả, chính v́ thế cũng giống hệt như những người có quan điểm khác nhau. Đang khi quan sát một phần nào đó của cơ thể cụ thể[96], như thể các sắc uẩn hay thọ uẩn v.v… và khi quan sát thông qua chính quan điểm của họ bao gồm cả tà kiến, cho là bản ngă, và gán cho đó một  pháp vĩnh cửu v.v…và thế là, gắn chặt với quan điểm đó cho là chỉ quan điểm này đúng, toàn bộ những ǵ khác đều là phù phiếm cả; họ đă tranh căi với nhau; ngược lại họ đâu có biết thực chất ra làm sao, hoặc là do lợi nhuận đối với họ, hay là không lợi lộc ǵ cho họ cả, cũng chẳng phân biệt được đâu là Phật Pháp và đâu không phải là Phật Pháp. Chính v́ thế những người này v́ bị mù, thiếu thị lực, lại trở thành đối kháng với chính những người cũng bị mù ngay từ lúc mới sanh.

Thẩm định vấn đề (etam attha viditvā): thể hiện nơi toàn bộ pháp của việc gắn kết này[97], trong từng trường hợp một[98] đối với những ǵ là sai trái về phía những người nào có quan điểm khác nhau. Giống như những người bị mù từ lúc mới sanh không thể quan sát vấn đề[99] có liên quan đến con voi, lại không hay biết[100] thực chất ra sao; chính bản chất đích thực của Phật Pháp và họ đă tham dự vào cuộc tranh căi này đến  cuộc tranh căi kia[101] đă khiến cho Đức Phật khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm sáng tỏ vấn đề này. Về điểm này:

Bạn có tin nổi, một số các vị sa môn bà la môn đă gắn bó với những điều này. (imesu kira sajjanti eke samaabrāhmaā): do kết quả của khái niệm về “đây chính là của ta” v.v… một số người ta đang đề cập đến, là các vị sa môn bằng cách tham gia vào việc xuất gia, là bà la môn do bẩm sanh, bạn có tin được rằng, họ đă gắn kết với, dưới đặc tính tự hào về quan điểm của ḿnh, đối với chính những quan điểm họ đă viện tới, lại thiếu thực chất[102] lại tiến hành theo phương pháp “thế gian này là vĩnh cửu” v.v…hoặc giả. (gắn kết với). Dưới đặc tính tự hào về tính tham lam, tự hào về tà kiến của ḿnh, như thể những thủ uẩn[103], như thể sắc uẩn v.v… điều đó quả thật là vô thường, đau khổ và có bản chất thay đổi. Ngài làm rơ: “ôi, quả thực hạng người này lẫn lộn biết bao nhiêu![104]” và về vấn đề này, từ kira (liệu các ngươi có tin rằng) lại mang ư nghĩa thể hiện sự phản đối (không tán thành). Bằng cách này ngài đă làm rơ sự thiếu vắng bất kỳ lư do nào đối với việc lệ thuộc[105] vào đó; và không những họ chỉ đơn giản gắn bó với những lư do đó, hơn thế nữa[106] họ c̣n tranh căi chia rẽ nhau – họ đánh nhau. Họ đưa ḿnh vào cuộc tranh căi, chia rẽ nhau, bằng cách sử dụng đến lời nói gây chia rẽ như thể “chính v́ các ngươi chẳng có chút trí ǵ về Phật Pháp và luật cả; chỉ có ta là người thông hiểu Phật Pháp và luật mà thôi” v.v… và về vấn đề này từ naṃ (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Hay nói cách khác[107], sau khi coi đó là những ǵ đối chọi nhau (viggayha nam): sau khi cho rằng (gahetvā), bằng cách (coi chính học thuyết của ḿnh) như thường kiến v.v…làm (naṃ) – một số hỗ trợ cho quan điểm của một số người khác hay đơn giản chỉ là quan điểm về thân được cụ thể hóa – là điều không thích hợp với (viruddhaṃ [108]) chính học thuyết của họ, liên quan đến những khác biệt[109] về quan điểm, họ liền tán dương (vivadanti), nói những lời lẽ tán tụng (visesato vadanti [110]) mô tả chỉ các học thuyết của họ mà thôi,[111] gán cho chúng như là học thuyết tột đỉnh[112] (visiṭṭhaṃ), và không thể bàn căi ǵ thêm được nữa. Bằng cách nào vậy? (như thể) chúng sanh nào chỉ quan sát được một chi duy nhất (jāna ekagadassino): chính v́ những người đó[113] đă bị mù từ lúc mới sanh, chỉ quan sát được một chi duy nhất của con voi mà thôi, nên họ tranh căi chia rẽ với nhau  sau khi đề cập đến bất kỳ chi nào cần phải được biết đến[114] bằng chính việc tiếp xúc hắn cho là đó là con voi, chính v́ vậy (các vị sa môn bà la môn cũng đấu tranh chia rẽ lẫn nhau) với chính việc tiến tới tinh thần của họ[115] vào lúc này -  đây  là ư nghĩa. Và liên quan đến vấn đề này, từ iva[116](như thể) nên được hiểu là cách chỉ định đọc lướt vậy.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ tư kết thúc tại đây. 

  

-ooOoo-

[1]. Chú giải Be cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn Ce Se ghi là nānātitthiyā samaabrahmaa paribbājakā; xin đọc n 287 dưới đây.

[2]. Như vậy ngài Dhammapāla cho thấy từ titthaṃ xuất phát từ cùng một căn (tī) là tarari, là vượt qua, và lại có cùng nghĩa là ngă ba đường, tức là nơi bờ sông đó là nơi người ta thường xuống tàu để vượt qua sông; điều này có thể so sánh bằng cách nào những người Jainas lại gọi lănh tụ của họ là tīrthakāras, hay những người nào tạo ra hay có những phương tiện để vượt qua sông và đạt đến phần cứu cánh, ư tưởng này xem ra khó có thể duy tŕ được trong cách giải thích thứ hai của ngài  Dhammapāla, trong đó “quan điểm” h́nh như là cách dịch thích hợp nhất, nhấn mạnh đến các quan điểm h́nh như đưa ra nơi lên tàu dành cho các học thuyết và thực hành của từng nhóm đặc biệt khác nhau.

[3]. Idha; hay có thể trong giáo lư này (sāsana) – xin đọc chú giải Asl 348.

[4]. Diṭṭhidassanaṃ; dassanaṃ h́nh như ở đây có thể là từ tương đương với từ darsana hiểu theo nghĩa một trường phái tư tưởng.

[5]. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 325 ở trên; cũng như Nett 85, 126; và AA iii 90 về Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 52.

[6].  Chú giải Ce Be Se giải thích là kahakalāpādibrāhmaā c̣n bản văn ghi là kaṭṭhakalāpādibrāhmaā.

[7].  Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là Pokkarasāa; DPPN không có từ mục nào dành cho cách giải thích này. Nhân vật này cho đến giờ vẫn chưa xác định được thế nên ta không nên lẫn lộn với một cận sự nam thuộc ḍng bà la môn Pokkarasādi/ Pokkharasāti, ta đă đề cập đến trong D i 87. Sn 594 v.v…

[8]. Be giải thích là nānātitthiyā ca te samaabrāhmaaparibbājakā cā ti nānātitthiyasamaabrāhmaaparibbājakā; c̣n bản văn Ce Se ghi là ’ va te samaabrāhmaaparibbājakā; nói cách khác, đây chính là cách thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài, chính v́ lư do đó mà cách giải thích đề cập đến trong n 280 ở trên được chấp nhận.

[9]. Xin đọc Kinh Phật tiếp theo.

[10]. Dassana.

[11]. Khanti; theo nghĩa đen là “tính dễ lănh hội” – xin đọc EV i 265 về Thag 1029.

[12]. Ngài Dhammapāla như vậy h́nh như đă đánh đồng cả ba cách mô tả này, tức là “thuộc nhiều quan điểm khác nhau”, “nhiều cách thuyết phục” và “nhiều khuynh hướng đa dạng” với những  kiến điên đảo, tâm điên đảo và tưởng điên đảo, về điểm này xin đọc Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 52.

[13]. Upalīnā; không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[14]. Chú giải Be Se giải thích là taṃ c̣n bản văn ghi là vā,  chú giải Ce ghi là vā taṃ; nghĩa nguyên thuỷ có thể trở thành “dựa trên sự hỗ trợ (do nhiều quan điểm khác nhau đem lại”).

[15]. Tuy nhiên ngược lại trong giáo lư Phật lại có quan điểm khác nhau về giới đức của vị sa môn đích thực và vị bà la môn đích thực; hai câu này cũng được t́m thấy trong  chú giải DA 102.

[16]. Vohāro; xin đọc chú giải Ud-a 332 ở trên để nắm được những ư nghĩa khác nhau về từ này, một số ư nghĩa thuộc phạm vi các phương pháp đối đáp liên quan đến việc kinh doanh. Evavādino, từ này thường xuyên được giải thích, cho rằng “người nào theo đuổi học thuyết đó” hay “họ là những người tự nhận như vậy”, cho rằng từ vohāro ở đây cũng c̣n có những ẩn ư động từ nữa, mặt khác, ư nghĩa khác với “kinh doanh” h́nh như cũng ngầm chứa tương tự như vậy, v́ rất có thể hiện rơ nơi những người nào theo đuổi những điều như vậy lại biến việc theo đuổi của họ trở thành một nghề chuyên môn, trong trường hợp đó việc phê phán lại nằm trong chú giải Sn 614 (được trích trong Ud-a 332 ở trên), tức là “đối với bất kỳ người nào trong số những người kiếm sống bằng dịch vụ buôn bán (vohāra), th́ bạn nên biết điều này, hỡi Vāseṭṭha, muốn làm một nhà kinh doanh th́ không thể là bà la môn được” h́nh như là lời nhắn nhủ không dư thừa ở đây.

[17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yathābhinivesa paresa tattha patiṭṭhāpanavasena c̣n bản văn ghi yathābhinivesapadesattapatiṭṭhāpanavasena

[18]. Xin đọc chú giải Ud-a 207 ở trên.

[19]. Chú giải Be Se cũng giải thích như vậy (Ce cho là lokīyanti) c̣n bản văn ghi là lokīyan ti.

[20]. Chú giải Se giải thích là aviyuttehi c̣n bản văn Ce Be ghi là abhiyuttehi; abhiyutta rất có thể cũng được coi như là “những người chịu trách nhiệm về điều đó”

[21]. Xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo 578 có khẳng định rằng bánh xe luân hồi chính là không có người tác tạo, không có người cảm nghiệm; cũng như ở trang sau. Tỳ khưu Bodhi có thể đă khiến tôi dịch kāraka ở đây là “tác nhân” (nhân viên), tuy nhiên Ñāamoli  và Pe Maung Tin cả hai  người lại lựa chọn từ “người tác tạo” từ này h́nh như được ưa chuộng hơn, ít nhất trong đoạn trích ở Thanh Tịnh Đạo, lại cho rằng Brahmā là một gương sáng.

[22]. Chú giải Ce Be Se giải thích là paresaṃ dassanaṃ c̣n bản văn ghi là padesadassanaṃ.

[23].  Xin đọc chú giải D i 13tt

[24]. Ce Be Se giải thích là sassatabhāvao c̣n bản văn ghi là sassatābhāvao

[25]. Dassitā; chú giải Be cho là dīpitā, làm sáng tỏ.

[26].Yavaparimāo;  chú giải Ce Be Se giải thích là avayavaparimāo, là kích cỡ một chi (limb) cơ thể, nhưng danh sách này h́nh như theo một thứ tự nhỏ dần đi, xin đọc chú giải Sv-P i 225 để biết những ǵ tương tự như vậy; cũng xin đọc Kaṭha Upaniṣad II.3.17, Svetāsvatara Upaniad III. 13, có quan điểm cho rằng ngă có kích cỡ bằng một ngón tay cái, Bhadārayaka Upaniad V.6.1 lại cho rằng ngă có kích cỡ bằng một hạt lúa ḿ mà thôi.

[27]. Paramāuparimāo; paramāukāraavāda (xin đọc chú giải SED sv) là một phần nơi học thuyết thuộc các trường phái Saṃkhya Vaiseṣika.

[28].  Ce Be Se và Ud cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là na antavā.

[29]. Những vị sáng lập trường phái Sāṃkhya và Vaiseika tương ứng; xin đọc chú giải Sv-P i 225 để biết thêm chi tiết tương tự như vậy.

[30]. Ngôi thứ ba số ít, h́nh như có tương quan với học thuyết, v́ số nhiều thường được dùng để chỉ những người theo đuổi học thuyết đó.

[31]. Advayaṃ; đây là một số nhận định khác của ngài Dhammapāla, h́nh như đây là điều đồng nhất, hơn là một vài loại Advaitin độc nhất, đó là ư nghĩa muốn nói đến ở trên.