NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6. Piṇḍola

[252] Trong Kinh Phật thứ sáu: Piṇḍolabhāradvāja (Piṇḍolabhāradvājo): Ngài[1] có tên gọi là “Piṇḍola[2]” do ngài đang kiếm được (ulamāno), đang đi t́m kiếm, của bố thí (piṇḍaṃ) chính v́ thế ngài đă xuất gia. Người ta kể lại rằng, chính do chứng kiến Tăng đoàn các vị Tỳ khưu kiếm được nhiều lợi lộc và được kính trọng, với tư cách là một Bà la môn, thế nên của cải tài sản của ngài đă tiêu tan[3] hết, ngài đă từ bỏ cuộc sống gia đ́nh và xuất gia nhằm mục đích đi khất thực, lấy chiếc mai rùa lớn làm bát khất thực,[4] ngài đă du sĩ (t́m kiếm của bố thí) trong lúc đó ngài đă ăn cháo hoa, dùng sữa và ngấu nghiến bánh ngọt cho đỡ đói cùng với một số thức ăn khác, toàn bộ những thứ đó chỉ được đựng đầy trong chiếc mai rùa đó.[5] Thế rồi các vị Tỳ khưu đă thông báo cho Đạo sư biết tính phàm ăn của vị này[6]. Đức Phật không đồng ư cho ngài mang chiếc bị đựng bát khất thực làm bằng mai rùa của ngài, chính v́ thế ngài đă lật úp chiếc mai rùa, và nhét dưới gầm giường; và đang lúc cất chiếc mai rùa ở đó, ngài đă đẩy tới đẩy lui khiến mai rùa cọ xuống đất ṃn đi đến nỗi chiếc mai rùa[7] chỉ đựng được khoảng một nali cơm chín[8] mà thôi. Chính v́ thế họ đă thông báo sự việc cho Đức Phật, và ngài cho phép Trưởng lăo dùng một chiếc bị để đựng chiếc bát khất thực mai rùa đó. Vào dịp khác vị Trưởng  lăo đang luyện ngũ căn[9], ngài được thiết lập thánh quả A-la-hán tột đỉnh. Chính v́ thế ngài có tên gọi là “Piṇḍola” v́ đặc điểm[10] ngài nhắm đến chính là đồ khất thực (piṇḍa) trước khi ngài nhận được, và hơn thế nữa, “Bhāradvāja” nhờ tộc tánh (gotra), nên người ta đă gọi ngài là “Piṇḍolabhāradvāja” đó là cách tập hợp cả hai từ trên làm một.

Ngài thuộc dạng người sống trong rừng (āraññako): ngài là hạng “người sống trong rừng” (āraññako) chính do việc ngài khước từ trú xứ trong làng, ngài đă thiết lập một trú xứ trong rừng (āraññe) và đây cũng là tên dành cho những người tiếp tục duy tŕ cuộc sống bằng hạnh đầu đà vậy, liên quan đến việc xuất hiện một hạng người cư trú [11] trong rừng (āraññe). Cũng giống như vậy “của bố thí” (đồ khất thực)[12] (piṇḍapāto) đó chính xuất hiện những vật thực (của bố thí) có được những đồ ăn (pāto piṇḍānaṃ) chính là do của khất thực (bhikkhā) mà ra vậy. Ư nghĩa ở đây chính là những vật thực (piṇḍānaṃ) tự có (nipatanaṃ) vào bát khất thực như thế do các chúng sanh bố thí cho Ngài; một người nào có tên là “người khất thực” (piṇḍapātiko) chính do đồ khất thực (piṇḍapāta) người đó thu lượm và t́m kiếm khi đi đến hết gia đ́nh này đến gia đ́nh khác hay cũng chính là người “hạ ḿnh xuống cầu xin của bố thí” (piṇḍapāti [13]) chính v́ người đă thề nguyền hạ ḿnh xuống,[14] (patituṃ), hay đi du sĩ, nhằm kiếm thức ăn chúng sanh bố thí cho (piṇḍāya), người “khất thực” (pinapātiko) cũng giống như “người hạ ḿnh để khất thực”. Một đống rác (y cà sa làm bằng dẻ rách)[15] (pasukūla) giống như đống rác (pasukūla) hiểu theo nghĩa (y cà sa) xuất phát từ (đống rác), liên quan đến một thực tế là những ǵ (tạo thành) rác (pasūna) được thấy xuất hiện ngay trên đống rác v.v…[16]; hoặc giả[17] đó chính là đống rác (y cà sa làm bằng giẻ rách) (pasukūla) v́ đó là bụi/ rác (paṃsu) đây cũng là pháp xấu xa (kucchitabhāva) rác rến đem lại[18].  Việc đắp chiếc y cà sa làm bằng vải vụn đó (pasukūlassa) chính là hạng người “mặc y cà sa rách rưới” (pasukūla)v́ đây [19] chính là thói quen (sīla) của ngài, ngài là người “mặc y cà sa rách rưới” (pasukūliko). Ba loại y được gọi là y cà sa saghāti, gồm y lót bên trong, y nội và y vai trái làm thành ba loại y của một vị Tỳ khưu (ticīvaraṃ). Việc sử dụng ba loại y này được gọi là vị Tỳ khưu mặc đủ ba loại y cà sa (tecīvariko). Ư nghĩa của từ[20] đó chính là “vị Tỳ khưu với tri túc” v.v… như ta đă khẳng định ở trên[21]. [253] Người diễn giải tu tập hạnh đầu đà (dhutavādo): là con người[22] trong họ các phiền năo đă bị đoạn tận hết (dhuta), hay là pháp liên quan đến các phiền năo [23] đă bị đoạn tận (dhunanaka) hết, hạng người này được đề cập đến như là “sa môn hạnh đầu đà (dhuta), về điểm này, ta nên hiểu theo tam đề sau đây: “Có người theo đuổi cuộc sống ẩn dật khổ hạnh, nhưng không phải là người diễn giải việc tu tập hạnh đầu đà; lại có người không thuộc hạng người tu tập hạnh đầu đà (ấy vậy) người đó lại diễn giải tu tập hạnh đầu đà rất giỏi; lại có hạng người chẳng phải người tu tập hạnh đầu đà cũng không hề diễn giải việc tu tập hạnh đầu đà bao giờ; và c̣n có người thuộc cả hai loại người vừa kể trên, họ vừa là người tu tập hạnh đầu đà, lại vừa diễn giải việc tu tập hạnh đầu đà” (Thanh Tịnh Đạo 80[24]). Đối với những người này, hạng người đầu tiên là những người tiến hành thực thi các pháp[25] tự tu tập hạnh đầu đà (tuy nhiên) lại không tạo cho người khác thực hiện việc tu tập hạnh đầu đà (giống như ḿnh) để có thể trở nên giống như chính họ[26], trong khi đó hạng người thứ hai là người đă tiến hành công việc đó, mà không[27] tự ḿnh thực hiện các pháp[28] tu tập hạnh đầu đà (ấy vậy) người đó lại tạo cho tha nhân thực hiện điều đó, hạng người thứ ba là hạng người đă không thực hiện cả hai việc, trong khi hạng người thứ tư lại là người dành được cả hai việc thực hiện các pháp đó và chính  ngài Trưởng Lăo Piṇḍolabhāradvāja thuộc hạng người này, v́ lư do đó có lời nói rằng, “Ngài là người diễn giải tu tập hạnh đầu đà, v́ đây chính là cách ám chỉ qua cách nhắc nhở duy nhất về các phần việc của cá nhân trong cùng một sắc thái duy nhất mà thôi,[29]giống như nāmarūpa [30] (danh và sắc) nơi một cá nhân vậy. Người nào phải hoàn tất tu luyện tăng thượng tâm (adhicittam anuyutto): liên quan đến vấn đề này, họ cho rằng[31] pháp tâm (cittassa) thuộc dạng tăng thượng tâm (adhicittabhāvo) nên được hiểu: hoặc xuất phát từ liên hợp với tám thiền chứng, hay xuất phát từ liên hợp các thiền chứng liên kết với thánh quả A-la-hán, nhưng trong trường hợp này chính là tâm liên kết với thánh quả A-la-hán.  Thiền định (được cảm nghiệm) trong thiền chứng này thiền chứng nọ lại chính là tăng thượng tâm mà thôi, nhưng trong trường hợp này đây cũng chỉ là thiền định liên kết với thánh quả A la hán là điều ta nên hiểu mà thôi[32]. Tuy nhiên một số người lại cho rằng đây chỉ là tâm liên kết với  chỉ tịnh và thiền minh sát mà thôi. Trong trường hợp này ta nên hiểu là “tăng thượng tâm” và đó cũng lại là định học vậy (adhicittasutta) [33] tức là. “Hỡi các vị Tỳ khưu, tam tướng này thỉnh thoảng cũng cần phải được lưu ư kỹ càng đối với các vị Tỳ khưu đă hoàn tất tăng thượng tâm” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 256) (nhưng) điều này không chính xác và chỉ có ư nghĩa trước đó mới được chấp nhận mà thôi.

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định dưới mọi góc độ vấn đề này được coi như Trưởng lăo Piṇḍolabhāradvāja hoàn tất tăng thượng tâm, lại rất thành công trong việc truyền đạt[34] tất cả các thành tựu[35] liên kết với điều ngài đă suy đi xét lại, điều này đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết[36] này nhằm giải thích hoàn tất tăng thượng tâm đă tạo thành việc đem ra thực hiện Giáo lư của Đức Phật vậy.[37] Về điểm này[38] Vô tội (anūpavādo): không bị khiển trách bất kỳ ai bằng lời nói, (anupavadanaṃ, là từ đồng nghĩa). Không gây hại (anūpaghāto): không làm hại cho bất kỳ ai qua thân (bằng hành động). Nơi nào liên quan đến giới bổn (Pātimokkha): liên quan đến vấn đề này ư nghĩa của từ Pātimokkha  là điều đă được khẳng định ở trên[39] bằng nhiều cách khác nhau, những ǵ có liên quan đến Pātimokkha, điều ǵ mang đặc tính không phạm bảy loại sai phạm[40] được coi như là “thu thúc” (saṃvaro). Biết điều độ (mattaññutā): [254] trít ở một mức độ chính xác bằng cách chấp nhận và cùng can dự[41] trong đó. Cư trú nơi viễn ly (pantañ ca sayanāsana): nơi cư trú tách biệt (senāsana, một dạng ngữ pháp khác). không đụng chạm ǵ với những người khác. Và luôn bận rộn với tăng thượng tâm (adhicitte ca āyogo[42]): và hoàn tất tu luyện nhập thiền[43] nhằm mục tiêu đạt được tám thiền chứng.

Lại có một phương pháp khác nữa[44]: vô tội (anūpavādo): không thốt lên những lời bắt bí bất kỳ ai; theo cách này ngài bao gồm toàn bộ các giới (morality) liên quan đến lời nói. Không gây hại (anūpaghāto): không làm thiệt hại ǵ đến bất kỳ ai, không tạo mối thù với người khác, bằng hành động thân; bằng cách này ta bao gồm toàn bộ các giới (morality) liên quan đến thân. Hơn thế nữa, cả hai điều chỉ thuộc một loại như vậy được coi là đă ngầm bao gồm trong giáo lư của Đức Phật để giải thích làm rơ những ǵ đă được đề cập đến là pātimokkhe ca savaro [45]. Từ ca (không được dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi. Pātimokkhe ca savaro có nghĩa là không gây hại bằng lời nói và không làm hại đến người khác đă tạo ra thu thúc giới bổn. Hay nói cách khác pātimokkhe là định sở cách hiểu theo nghĩa hậu quả, tức là thu thúc dựa trên giới bổn tạo thành những pháp thu thúc tuỳ thuộc. Nhưng thực sự điều này là ǵ vậy? Không nói lời gây hại, không làm hại đến ai. Chính v́ vào thời điểm thọ cụ túc giới, giới (morality) liên kết với giới bổn được cho là điều cần phải thực hiện không hạn chế.[46] Sau đó thu thúc bằng cách không thực hiện những ǵ gây hại bằng lời nói hay gây hại cho người khác đối với những người đă thiết lập nơi giới bổn như đă được đề cập đến giống như là không nói điều gây hại và không làm ǵ hại đến người khác”. Hoặc pātimokkhe  là định sở cách hiểu theo nghĩa xuất xứ cách[47] như  “nguyên nhân gần do không khéo tác ư do tâm[48] bất ổn gây ra. (Thanh Tịnh Đạo 469) – theo cách này không làm hại được gộp lại trong việc thu thúc giới bổn. Hơn thế nữa, thông qua “thu thúc này” lại gồm cả bốn cách thu thúc khác nữa, tức là thu thúc bằng chánh niệm, thu thúc bằng trí, thu thúc bằng nhẫn nại và thu thúc do tinh tấn. Bốn việc thu thúc này có ảnh hưởng[49] đến giới bổn[50]. Biết điều độ nơi những ǵ liên quan đến ăn uống (mattaññutā ca bhattasmi): biết được liều lượng chính xác liên quan đến đồ ăn bằng cách nh́n xem, chấp nhận, tham gia và từ đó mà biết diệt trừ đi [51]. Cư trú nơi viễn ly (pantañ ca sayanāsana): nơi cư trú biệt lập (senāsana, một dạng ngữ pháp khác) ngay dưới gốc cây trong rừng v.v…thuận lợi cho việc nhập thiền. Và bận bịu với tăng thượng tâm (adhicitte ca āyogo): (và) phải bận bịu do tâm đó. Cần gây ảnh hưởng, liên kết với thánh quả A-la-hán, được  coi là tăng thượng tâm. Liên quan đến việc thay thế cho (adhikattā), liên quan đến việc trở thành tột đỉnh nơi tất cả các loại tâm khác (cittāna), bằng cách tu luyện[52] chỉ tịnh và thiền minh sát nhằm mục tiêu hoàn tất được cùng một thứ tâm đó. Đây chính là giáo lư của Đức Phật (eta Buddhāna sāsana) có nghĩa là không gây hại bằng lời nói, không làm hại người khác , [255] việc thu thúc giới bổn này, biết giữ điều độ bằng cách t́m ra và chấp nhận v.v…(nơi bửa ăn) liên quan đến việc sống viễn ly tách biệt[53] và tu luyện tăng thượng tâm nói đến ở trên chính là giáo lư của Đức Phật, là lời cổ vũ động viên, là lời giảng dạy[54]. Chính v́ thế đây là ba cách thu thúc[55] cần được hiểu như đă được diễn giải bằng đoạn kệ này.[56]

Phần diễn giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1]. Về những ǵ diễn ra sau đó. Xin đọc chú giải SA ii 393. 

[2]. Chú giải SA ii 301 để biết điều tương tự như vậy; cũng như việc sử dụng từ ulati để giải thích từ bhakkulo trong chú giải Ud-a 68 ở trên. Lời khẳng định trong B Disc v 150 n 2 “Các tập chú giải khác (SA ii 393, Ud-a 252) đă gán tên của ngài liên quan đến bát khất thực của ngài có kích cỡ to lớn” h́nh như các thực chất này không thể xác minh được bất kỳ điều ǵ.

[3]. Và, như thể chính ngài là người già cả (mahallako) – SA ii 393.

[4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kapalla pattan ti, c̣n bản văn SA ghi là kapālapatta;  chú giải cách sử dụng tương tự từ kapāla (mai rùa, sọ người, chảo chiên,  v.v…) như là bát khất thực, theo Ud-a 79 và 279 DPPN ii 202 khẳng định bát khất thực của ngài được làm bằng vỏ quả bầu khô, nhưng lại không đưa ra được nguồn tư liệu về lời khẳng định này.

[5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kapallapūra c̣n bản văn SA ghi là kapālapūra. Bhatta giải thích từ “bữa ăn” rất có thể ở đây chỉ đơn giản có nghĩa là “ăn cơm”mà thôi.

[6]. Mahagghasa-bhāva; Woodward đă chấm câu sai thành Mahaggha-sabhāva cả ở đoạn này và trong tập chú giải SA nữa.

[7]. Gahanaka; từ này không thấy được liệt kê trong tự điển Childers hay tự điển PED.

[8]. Nā’ eva; theo tự điển Childers mục từ sv. “đây chính là lượng cà ri và cơm được sử dụng trong một ngày đủ cho sức khỏe và thực hiện tiết độ. Và bát khất thực của một vị Tỳ khưu chỉ có kích cỡ để đựng số lượng (đồ khất thực) đó mà thôi. 

[9]. Indriyabhāvana -  chú giải  Trung Bộ Kinh (M) iii 298tt và MLS iii 346 n 1.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là savisesa. C̣n bản văn ghi là āmisa esāno, t́m kiếm đồ khất thực.

[11].  Chú giải Thanh Tịnh Đạo 61; điều này tạo thành đề mục thiền thứ tám trong số 32 đề mục thiền được liệt kê trong  Thanh Tịnh Đạo 60. Ba tên gọi tiếp theo – tức là, vị nào đi khất thực, mặc y phấn tảo và mặc tam y lập thành chi thứ ba, thứ nhất và thứ nh́ một cách riêng rẽ.

[12]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 60 cũng giải thích tương tự như vậy;  Thanh Tịnh Đạo 31 cũng vậy. Ở đây Woodward chèn thêm pana và ti trong ngoặc kép, h́nh như dựa trên cơ sở  Thanh Tịnh Đạo 60;  Chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[13]. Chú giải Ce Be Se Thanh Tịnh Đạo cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là piṇḍapāti.

[14]. Ở đây Pe Maung Tin giải thích patitu là “đi lang thang” (Pp 67), Ñāamoli lại giải thích là “thu gom lại”, ngài cho biết ư nghĩa của patati không thấy liệt kê trong tự điển PED (Ppn 60 n 2) cũng nên nói thêm là, ư nghĩa đó cũng không được tự điển SED chứng thực. Và cũng nên nêu vấn đề là liệu ở đây ta có cần thiết phải giải thích từ patati với bất kỳ ư nghĩa nào khác hơn là ư nghĩa thường dùng là “sụp đổ, đổ xuống, đi xuống” v́ đây là điều ta hy vọng người nào cư trú nơi những vị trí sâu trong rừng rậm thực hiện khi họ lên đường t́m kiếm bố thí cho bữa ăn hàng ngày, tức là họ “xuống” các làng mạc khất thực.”

[15]It-a ii 147. cả hai đoạn hầu như đều dựa trên  Thanh Tịnh Đạo 60.

[16]. Sakārakūādīsu pasūna upari hitattā abbhuggataṭṭhena pasukūla viyā ti pasukūla. Pe Maung Tin và Ñāamoli đều đưa ra cách giải thích khác nhau khá nhiều về đoạn này trong Thanh Tịnh Đạo 60, ngài Pe cho rằng: “vải bỏ ở nơi một đống rác, nơi để xe, nơi đốt rác, nơi đống rác, v.v… và hiểu theo nghĩa nơi đó được đậy lại giống như một đống rác” (Pp 67) ngài Ñāamoli lại cho rằng “đó là đồ phế thải (pasukūla) v́ do được t́m thấy nơi đống rác ở bất kỳ vị trí nào như ngoài phố, nơi nghĩa trang, hay nơi đống phân, những thứ đó thuộc về đồ rác rưởi hiểu theo nghĩa được chất đống tại bất kỳ vị trí nào đại loại như thế.” (Ppn 60) Tuy nhiên MA ii 45  chú giải về  Trung Bộ Kinh (M) i 78 lại giải thích là pasukūlānī đơn giản chỉ là rác rến được vứt bỏ trên mặt đất. (pahaviya chaḍḍitanantakāni) với ngụ ư là pasu lúc nào cũng có nghĩa là “rác” hơn là “bụi” “đất”, v.v… các từ “v.v…” lại có nghĩa là “đường cái và nghĩa trang” – It-a=Vism

[17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pasu viya vā c̣n bản văn Thanh Tịnh Đạo ghi là athavā pasu viya. It-a ghi là pasu viya.

[18]. Giờ đây có người đề nghị rằng pasukūla chính là xuất phát từ pasu+kucchita+ ulati.

[19]. Ce Be Se giải thích là ta c̣n bản văn ghi là vā, tại đây và dưới đây.

[20].  Ce Be Se giải thích là padāna c̣n bản văn lại bỏ qua.

[21]. Ud-a 227tt

[22].  Chú giải Thanh Tịnh Đạo 80 cũng tương tự như vậy; cũng xin đọc  chú giải  Thanh Tịnh Đạo 61.

[23]. Chú giải Ce Be giải thích là kilesadhunanakadhammo vā  (Se kilese dhunanakadhammo) c̣n bản văn ghi là kilesadhunana vā dhammo (h́nh như đây là một cách giải thích do Woodward áp đặt trong Vism)

[24]. Điều đó cũng đưa ra những ví dụ điển h́nh về từng phạm trù một.

[25]. Năm loại – chú giải  Thanh Tịnh Đạo 81: những người nào thiểu dục. những người nào tri túc (về những ǵ ḿnh nhận được), những người nào tự làm lu mờ đi, những người nào thực hiện ẩn cư, và có nhu cầu ít bằng những ǵ ḿnh đang thực hiện. (idamatthitā –  chú giải CPD sv) cũng cần phải lưu ư là có ba điều vừa kể trên đă đích danh gán cho ngài Piṇḍolabhāradvāja trong Ud .

[26]. Tathattāya. Thường thường các tập chú giải đă chú thích là tathābhāvāya (td DA 360. MA ii 60. SA ii 174 v.v…) và người ta giải thích là nhu cầu chứng đắc cho chính ḿnh bất kỳ điều ǵ người khác đang đề cập đến (DA 360. SA ii 174) hoặc giả nhu cầu thực hiện bất kỳ điều ǵ thích hợp với các giai đoạn đặc biệt đă đạt đến được do từng cá nhân liên quan (SA ii 169) tự điển PED coi điều này chính là níp bàn với mục từ sv tathatta. Cần phải được đưa ra những ân đức khác nữa.  Chú giải Be giải thích là tadatthāya, v́ lợi ích trong đó.

[27].  Chú giải Ce Be Se giải thích là na c̣n bản văn lại bỏ qua.

[28]. Đó chính là, điều cuối cùng trong bốn điều đó.

[29]. Ekadesasarūpekasesavasena;  chú giải  Thanh Tịnh Đạo 566= Vibh-a 177. Nơi bản dịch của Nānamoli như là “một phần nào được tŕnh bày (s) một phần nào để lại theo loại của nó” (Ppn 653) và “ sự bao gom các thuật ngữ  gồm (s) thành phần của nó” (DD 217); cũng như pānini I 2 64. Điều đó hầu như không được giải mă từ bản dịch của ông ta ở Pp 678f, như thế Pe maung Tin hiểu ngầm nó. Điểm đó được thực hiện như thế,  mặc dù bản văn chỉ dẫn pindolabhāradvāja chỉ cho thấy là dhutavāda, trong thực tế ngài được coi như là họ hàng đối với bốn phạm trù, không những thứ hai (BB). Cp cũng như CPD sv ekasesa

[30]. H́nh như đây là một cách ám chỉ về Thanh Tịnh Đạo 562= Vibh-a 174.

[31].  Chú giải Be giải thích là vadanti;  bản văn Ce Se bỏ qua.

[32].  Be Se giải thích là veditabbo, c̣n bản văn Ce ghi veditabbā 

[33]. Trích dẫn Thanh Tịnh Đạo 246; chú thích của ngài Woodward, “xin đọc VM ii 646” h́nh như không xác thực.

[34].  Chú giải Ce Se giải thích là sampadāna; c̣n bản văn Be ghi là sampadā; ư nghĩa của từ sampadāna này không được liệt kê trong tự điển PED, nhưng  xin đọc chú giải Childers và SED sv.

[35]. Parikkhāra; h́nh như có bảy điều bổ xung cho chánh định (samādhiparikkhāra) dưới dạng bảy chi thánh đạo khác. – Chú giải D ii 216.  Trung Bộ Kinh (M) iii 71,  Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 40. v.v…

[36].  Được trích trong Ud-a 298 dưới đây.

[37].  Be Se giải thích là sāsanānuṭṭhāna c̣n bản văn Ce ghi là sānana.

[38]. Chú giải DA 479 và Dhp-a iii 238 trong phần giải thích đầu tiên được đưa ra.

[39]. Ud-a 223tt.

[40]. Chú giải Vin i 103 cũng xin đọc chú giải B Disc iv 133 n 10.

[41]. Paribhoga – hay là “ăn uống”;  Chú giải  Thanh Tịnh Đạo 33.

[42]. Dhp-a giải thích là āyogo, bị chiếm dụng, giống như payogakaraa, biến điều đó thành công việc của chính ḿnh. Cũng xin đọc chú giải Thag-a ii 252 về Thag 591.             

[43]. Bhāvanā; hay là công việc tu luyện.

[44]. Kể từ đây trở đi toàn bộ các bản văn không ăn khớp với nhau, h́nh như đôi khi rất tuỳ tiện trong việc viết các từ như anūpavādo/anupavādo và anūpaghāto/anupaghāto.

[45]. Được giải thích trong bản dịch tập chú giải Ud, phù hợp với cách giải thích đầu tiên trong số những phần giải thích đó, như “việc thu thúc liên quan đến giới luật bổn.”

[46].  Ce Be Se giải thích là avisesena c̣n bản văn ghi là visesena.

[47].  Chú giải Vv-a 72 cũng tương tự như vậy.

[48]. Toàn bộ các bản văn đều giải thích là cetaso avūpasamo. Nhưng điều này không đúng v́ chúng ta không t́m đâu ra được ví dụ điển h́nh nơi bất kỳ một ví dụ nào cả. Cho dù  chú giải Be có trưng ra nguồn gốc trích đoạn là “S iii 91 (Be)” mà nếu tương đương với S v 65, th́ cũng không chính xác, v́ không có bất kỳ từ padaṭṭhāna xuất hiện trong đó. Bản văn này dường như đúng hơn, nhưng được nói ngắn gọn, đoạn trích từ Vism 469 được đọc cetaso avūpasame ayonisomanasikārapadatthāna,  do đó tôi đă theo đoạn trích. Hăy cho cách sử dụng  đoạn văn của Dhammapala ở đây như là một ví dụ cách vị trí trong ư nghĩa cách công cụ ( khi nguồn gốc sẽ trở thành “ nguyên nhân gần là chú tâm trái lại với tâm phóng túng” điều này cho thấy rằng Nānamoli th́ sai trong việc dịch thuật ngữ này “ nguyên nhân gần của nó là không chú tâm đối với tâm phóng túng” (Ppn 530), có lẽ dù sai sót để nhận thấy rằng đoạn văn trên chủ của nguồn gốc của nó đối với S v65- cp cũng như A I 3.  Trái lại, Pe Maung Tin nhất định “ không chú tâm đối với trạng thái tâm không ổn định là nguyên nhân gần của nó” (Pp 550).

[49]. Sādhana; hay việc đă được thực hiện v.v…nhưng có thể với hàm ư việc tẩy trừ, việc thanh tịnh v.v… do lẫn lộn với sādheti/sodheti.

[50]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 7. trong đó bốn việc thu thúc này cùng với việc thu thúc giới bổn, tạo thành năm việc thu thúc tạo thành việc thu thúc giới . Asl 351 tuy nhiên h́nh như thu thúc giới cũng tương đương với thu thúc giới bổn. (Pātimokkha).

[51]. Vissajjana; h́nh như thông qua thiếu xót. Phạm trù thứ tư này không xuất hiện trong  Thanh Tịnh Đạo 33, liên quan đến việc giải thích ở trên.  

[52]. Bhāvanāvasena; hay bằng cách chuyên tâm nhập thiền.

[53]. Ce Be Se giải thích là vivittavāso c̣n bản văn ghi là vivittavaso.

[54]. Anusāsanī;  chú giải Be Se anusiṭṭhī.

[55]. Chú giải Dhp-a cũng giải thích tương tự như vậy. Ba việc tu luyện được liệt kê là tăng thượng giới (higher morality- adhisīla) tăng thượng tâm (higher consciousness –adhicitta) và tăng thượng tuệ (higher insight – adhipañña) –  chú giải  Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 235; cũng xin đọc chú giải Ud-a 168. 303, 308 dưới đây cho dù đoạn kệ rơ ràng nói đến hai loại tu luyện đầu tiên; h́nh như ta nên hiểu đây là điều được lén đưa vào do ngài Dhammapāla đă đánh đồng tăng thượng tâm ở đây không những chỉ ngang bằng với các thiền chứng đạt được, với  chỉ tịnh và với thiền minh sát mà c̣n với tâm liên kết với thánh quả A-la-hán vậy.

[56].  Ce Be Se giải thích là gāthāya; c̣n bản văn lại bỏ qua.