|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
6. PILINDA Trong Kinh Phật thứ sáu: Pilindavaccha (Pilindavaccho): “Pilinda” chính là tên[1] của người này, tuy nhiên người ta c̣n gọi ngài với tên cha mẹ đặt là “Vaccha”[2] liên quan đến ḍng tộc của ngài. Lại xử sự bằng lời nói (dành cho) những kẻ bị khai trừ (vasalavādena samudācarati): lại có thể ám chỉ, có thể nói với Tỳ khưu bằng những lời nói, chỉ dành cho những người bị khai trừ, như thể “Lại đây ngay, đồ bị khai trừ, đồ hạ cấp! cút đi ngay, đồ hạ cấp!” v.v… Một số đông các vị Tỳ khưu (sambahulā bhikkhū): rất nhiều các vị Tỳ khưu đă chứng kiến vị Trưởng lăo xử sự với họ theo kiểu đó, [193] suy nghĩ rằng, có lẽ vị Trưởng lăo này là người mang trong ḷng mối sân hận, theo cách ngài đối xử với các vị Tỳ khưu như vậy, mà không hay biết, cho dù ngài đă là một vị A-la-hán, ngài lại tuyên bố như vậy liên quan đến những cảm tưởng đă không được diệt trừ; và với ư định từ tâm[3], người ta thuật lại cho Đức Phật biết, để ngài truyền đạt với vị Trưởng lăo này; v́ lư do đó người ta nói rằng,“bạch Đức Thế Tôn, Trưởng lăo Pinlindavaccha đă đối xử với các vị Tỳ khưu bằng những lời nói chỉ dành cho những kẻ hạ cấp.” Tuy nhiên một số người lại cho rằng các Tỳ khưu[4] đó nhận ra[5] rằng, vị Trưởng Lăo đó là một vị A-la-hán, ấy vậy mà vị Trưởng lăo đó, đă đối xử với các vị Tỳ khưu bằng những lời nói thô kệt đến như vậy; không biết rằng cách đối xử[6] đó, là do cách nói [7] và không tin tưởng vào thánh pháp. Các Tỳ khưu nghi ngờ rằng không hiểu pháp siêu nhân có thực nơi vị Trưởng lăo này hay không, và nhận ra lỗi lầm đó, họ đă bạch ngay cho Đức Phật, về vấn đề này. V́ muốn làm sáng tỏ, không có bất kỳ trạng thái sân hận nào mà vị Trưởng Lăo đang mang trong tâm, Đức Phật đă nói cho một vị Tỳ khưu, mời vị Trưởng Lăo đến gặp Ngài, và khi đối diện với vị Trưởng lăo, Đức Phật thốt lên lời nói rằng: “Vị Tỳ khưu này đối xử với các ngươi bằng những lời nói như vậy, là do ngài đă tu luyện, những cách tu luyện quen thuộc trước đó cho ḿnh; lời nói thô thiển là không cố ư” va v́ lư do đó có lời nói rằng, “Thế rồi Đức Thế Tôn cho mời vị Trưởng lăo tới” v.v…Về điểm này: Sau khi đă tác ư đến trú xứ tiền kiếp (pubbenivāsaṃ manasikaritvā): Bậc Đạo Sư hỏi vị Trưởng Lăo: “Hỡi Vaccha, có thật sự nhà ngươi đă đối xử với các thầy Tỳ khưu bằng lời nói chỉ dành cho kẻ hạ cấp chăng?”; và khi có lời khẳng định rằng, “Ôi Đức Thế Tôn, quả thật là như vậy”, (Bậc Đạo sư) biết được một thực chất là vị Trưởng lăo Vaccha này, đă không thể từ bỏ những lời nói dành cho kẻ hạ cấp, do những cảm nghĩ đó xuất phát từ phiền năo mà ra, và suy nghĩ không hiểu Trưởng lăo có phải là một Bà la môn bẩm sanh nơi tiền kiếp chăng, Ngài dùng thiên nhăn minh để thấy tiền kiếp trước kia, hay nhờ trí toàn tri về các cơi [8] tiền kiếp đó, trí về sắc y sinh nơi các uẩn, về các lần vị (trưởng lăo) này tái sanh, chính ngài[9] cũng đă tác ư (manasikatvā, một h́nh thức ngữ pháp khác) bằng cách khiến cho điều này phơi bày ra trước mắt, giống như một trái kha lê nặc nằm trong ḷng bàn tay[10]. Nói với các thầy Tỳ khưu (bhikkhū āmantesi): nói với (ālapi), đă nói, để có thể thu hút chú ư của các vị Tỳ khưu này, v́ lư do đó người ta nói rằng: “Hỡi các thầy Tỳ khưu, xin đừng có” v.v…về điểm này: Xin đừng có (mā) là một tiểu từ liên quan đến một lệnh cấm, có liên quan với ujjhāyittha (phát hiện ra lỗi lầm). Xin đừng t́m kiếm lỗi lầm làm chi (mā ujjhāyittha): xin đừng suy nghĩ bằng cách hạ bệ ngài, ư muốn nói ở đây là xin đừng xem thường ngài. Với Tỳ khưu Vaccha (Vacchassa bhikkhuno) lại ở chỉ định cách[11] thực chất là ujjhāyana (t́m kiếm lỗi lầm) lại có nghĩa của từ usūyana (v́ ganh tỵ). Tiếp theo sau đó, trong khi chỉ rơ lư do tại sao không nên t́m kiếm lỗi phạm nơi vị Trưởng lăo, ngài nói: “Hỡi các vị Tỳ khưu, Vaccha không mang sân hận trong tâm khi đối xử với các thầy[12] trong lời nói (dành cho) kẻ hạ cấp đâu”. Đây là ư nghĩa các vị Tỳ khưu, chẳng phải do mang trong tâm sân hận, với sân trong tâm, với tâm bị sân hận ô nhiễm, hay do ác ư, mà ngài Vaccha đă đối xử với các vị Tỳ khưu bằng lời nói dành cho kẻ hạ cấp; [194] ác ư của Trưởng lăo đă được bứng tận gốc do chính thánh đạo. Ngài nói “Hỡi các vị Tỳ khưu, đối với Trưởng lăo Vaccha” v.v…, như vậy nhằm chỉ rơ lư do việc đối xử với họ theo cách đó, cho dù thực tế Trưởng lăo không mang chút sân hận nào trong tâm, mà do từ những lần tái sanh[13] tiền kiếp.Về vấn đề này: Không gieo văi (abbokiṇṇāni): không pha lẫn với, không tách biệt[14] hẳn, do không xen vào các việc tái sanh như thể một kṣatriya v.v…năm trăm lần sanh và tái sanh nơi ḍng dơi Bà la môn (pañcajātisatāni brāhmaṇakule paccājātāni): toàn bộ năm trăm lần tái sanh đó, đối với Vaccha là những lần tái sanh liên tiếp nơi ḍng dơi Bà la môn là ư nghĩa ở đây. Lời nói được dành cho những kẻ hạ cấp là cách đối xử với họ trong một thời gian dài. (so tassa vasalavādo dīgharattaṃ samudāciṇṇo): lời nói này dành cho những kẻ hạ cấp về phía Tỳ khưu Vaccha. Giờ đây đă được khởi động[15] do một người thật tốt lành,[16] trong tâm đă đoạn tận các phiền năo, mà giờ đây đă trở thành cách ngài đối xử (samudāciṇṇo = samudācarito, một h́nh thức ngữ pháp khác) đối với những ai đă là Bà la môn bẩm sanh trong một thời gian dài, xuất phát từ lần tái sanh đầu tiên, v́ số lượng lần tái sanh đă lên tới năm trăm kiếp, cũng như vậy chú giải với lần đầu tiên. Đối với các vị Bà la môn do đă bị ngă mạn khống chế từ lâu, kết quả xuất phát từ những lần tái sanh đó[17] nên đă đối xử với người khác bằng lời chỉ dành cho những kẻ hạ cấp. Họ cũng giải thích là ajjhāciṇṇo (do thói quen[18]). Ư nghĩa vẫn giống nhau. Chính do điều này (tena): chính do điều này nên ngài đă đối xử với người khác trong một thời gian dài, theo cách này ngài làm rơ lư do về cách đối xử của ngài Vaccha với (các vị Tỳ khưu) theo cách đă diễn tả ở trên. Nhưng do đâu khiến ta biết được đây chỉ là ấn tượng mà thôi? Họ cho rằng ngay cả điều này đă diễn ra liên tục nơi một người đă diệt trừ các phiền năo. Chính khả năng, được xây dựng lên do những phiền năo đă tiêm nhiễm từ một thời điểm không có khởi đầu, đă tạo nên nguyên nhân phẩm hạnh, tương tự phẩm hạnh nơi những ai chưa diệt trừ được hết các phiền năo. Tuy nhiên điều này không xuất hiện nơi liên tục tính của Đức Phật, trong đó chẳng c̣n phiền năo nào liên quan đến thành công nơi hạnh nguyện[19] của ngài, chẳng c̣n chướng ngại nào tồn tại trong đó, khả dĩ ta có thể biết được; trong khi đó các chướng ngại đó lại thấy nhan nhản liên tục tính nơi các thinh văn và cả Phật Độc Giác (Paccekabuddhas), là những người vẫn chưa diệt trừ được hết các phiền năo theo cách đó. Chính v́ thế vị Như Lai là người duy nhất có tri kiến vô chướng ngại.[20] Thẩm định lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại vấn đề, được coi như về phía vị Trưởng lăo Pilindavaccha do thiếu vắng không có bất kỳ tính sân hận nào, cho dù có đối xử với tha nhân như kẻ hạ cấp. Kinh Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khiến khởi sanh kinh Phật Tự Thuyết này để giải thích [21]những chứng đắc thánh quả tột đỉnh. Về điểm này: Nơi kẻ nào không bị giả dối cũng như kiêu mạn (yamhī na māyā vasatī na māno): trong đó (yamhi=yasmiṃ, một dạng ngữ pháp khác) người thánh nhân (ariyapuggla) lừa dối, có trạng thái là che dấu sân hận[22] bề ngoài, và[23] người tự phụ có trạng thái là kiêu kỳ tiến tới bằng cách cho rằng[24] cách đó làm cho người đó tốt hơn” v.v…ta không tiến hành, không khởi sanh, thực chất là những ǵ đề cập đến ở trên đă bị diệt trừ đến tận gốc rễ[25] do chính thánh đạo làm phương tiện. [195] Kẻ nào gieo văi tham lam, kẻ nào không coi bất kỳ thứ ǵ là “của ta”, là người không mơ tưởng mong chờ sự ǵ (yo vītalobho[26] amamo nirāso): và kẻ nào gieo văi tham lam, thông qua tham lam dưới mọi góc độ đă biến mất, mà đặc tính chiếm lănh đối tượng bắt nguồn từ chỗ đồng nghĩa với “tham dục” v.v…[27]chỉ [28] riêng điều đó thôi, th́ kẻ đó đă trở thành người “chẳng có ǵ là của ta” cả, kẻ đó không sở hữu tài sản[29] ǵ do chẳng tỏ ḷng tŕu mến bất kỳ điều ǵ nơi sắc pháp cả v.v…[30](đang khi kẻ đó là người) “không tham muốn điều ǵ cả” do chẳng c̣n ước ao ǵ ngay cả được tái sanh trong tương lai v.v… Một kẻ đă đoạn tận hết mọi sân hận (panuṇṇakodho): kẻ nào đă đoạn tận được hết sân hận, kẻ nào đă diệt trừ tận gốc oán hận[31], c̣n đối với giận dữ, với trạng thái là giận hờn cũng đă được diệt trừ hoàn toàn bằng thánh đạo bất lai. Kẻ nào đă diệt trừ bản ngă hoàn toàn (abhinibbutatto): kẻ nào nhờ diệt trừ đến tận gốc rễ những dối trá ngă mạn[32], tham muốn và giận hờn theo cách đó (và) v́ do diệt trừ [33] hoàn toàn, do những thứ đó có liên kết bên trong[34] với toàn bộ những nhóm phiền năo, kẻ nào có tâm đă chấm dứt hoàn toàn như vậy, th́ kẻ đó sẽ trở nên lạnh nhạt với phiền năo níp bàn. Người đó chính là thầy Bà la môn, là ngài sa môn, và là một Tỳ khưu (so brāhmaṇo so samaṇo sa bhikkhu): một con người mọi phiền năo trong tâm đă được đoạn tận, chính là thầy Bà la môn (brāhmaṇo) lư do là ngài đă xa ĺa khỏi ḿnh hết mọi pháp bất thiện (bāhitapāpattā), người đó là một vị sa môn do ngài đă vắng lặng (samitapatta) hết mọi pháp bất thiện và nhờ có tịnh hạnh (samacariyāya), trong khi đó cũng một con người như vậy ngài c̣n là một Tỳ khưu (bhikkhu) do bởi đối với ngài các phiền năo đă bị đoạn tận hết (bhinnakilesattā). Hỡi các vị Tỳ khưu, một con người như vậy lại chính là Vaccha, một con người như vậy, th́ làm sao có thể mang trong ḿnh tính sân hận, có thể xui khiến những thân nghiệp v.v…như vậy diễn ra? Hơn thế nữa, duy chỉ có một thực chất là những ấn tượng đó đă không được diệt trừ khiến cho ngài đă đối xử với tha nhân bằng lời nói chỉ dành cho hạng hạ cấp như vậy. Phần diễn giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.
-ooOoo- [1]. Chú giải Be giải thích là Pilindā ti ’ssa nāmaṃ; c̣n bản văn Ce ghi là Pilindī ti nāmaṃ, Se Pīlindī ti nāmaṃ ; Tuy nhiên Ud (Se), giải thích tên của ngài là Pilindao. [2]. Bản văn chèn thêm ca vào đây; Ce Be Se lại bỏ qua. theo nghĩa đen một con bê một năm tuổi. [3]. Ullapanādhippāyā; điều này h́nh như có nghĩa là “muốn đưa ra một lời tuyên bố (trở nên toàn hảo)” như đă được tuyên bố trong CPD sv. Trong Ud-a 162 ở trên ullapanasabhāvasaṇṭhitā hầu hết chắc chắn có ư nghĩa được liệt kê do CPD cho ullumpanasabhāvasaṇṭhita; và chính v́ thế có thể hoặc là chúng ta chấp nhận vl từ ullumpanādhippāyā, là ư định thương xót, được ghi lại trong bản văn Ce Be, hay nói cách khác giả định rằng ullapana đôi khi mang cùng một ư nghĩa giống như ullumpana. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là bhikkhū c̣n bản văn ghi là bhikkhu. [5]. Sañjānanti; rất có thể ám chỉ rằng họ cho rằng Ngài là một vị A-la-hán, hơn là biết chắc chắn là như vậy. [6]. Ce Be Se giải thích là samudācāraṃ c̣n bản văn ghi là samudācarantaṃ. [7]. Chú giải Ud-a 54 ở trên. [8]. Pubbenivāsaṃ; như đă vạch ra trong EV ii 76 chú giải về Thig 63, thật hơi kỳ, cùng cách diễn đạt này luôn luôn ở số ít, được giải thích ở đây liên tục tính các uẩn của ngài đă trải qua trong các lần tái sanh trước kia (nivutthakkhandhasantānaṃ) h́nh như luôn ở số ít. Chú giải Thīg-a về Thīg 63 (tôi không có được tập gốc nhưng trích trong EV) h́nh như giải thích là nivutthakkhandhasattānaṃ. Rất có thể sai ở từ osantānaṃ. [9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attano; c̣n bản văn th́ bỏ qua. [10]. Chú giải VS 13 n. 34. [11]. Sampadānavacanaṃ; theo tự điển CPD, sv ujjhāyana, sở hữu cách. [12]. Chú giải Ce Be Se và Ud giải thích là bhikkhū c̣n bản văn ghi là bhikkhu. [13]. Purimajātisiddhaṃ. [14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anantaritāni c̣n bản văn ghi là anantarikāni [15]. Bản văn Ce ghi là pavattīyati, Be Se pavattiyati; rất có thể là thụ động cách của động từ pavattati, tuy nhiên không có bất kỳ tự điển nào ghi lại. [16]. Satā. [17]. Chú giải Be giải thích là mānena thaddhā c̣n bản văn Ce Se ghi là mānena mānatthaddhā. [18]. Trong trường hợp đó chúng ta phải giải thích là: câu chuyện kể này (dành cho) những người hạ giới của ngài đă trở nên quen thuộc trong một khoảng thời gian dài. [19]. Dưới chân ngài Dīpaṅkara, chú giải chú thích trong Ud-a 244 dưới đây. [20]. Ce Be Se giải thích anāvaraṇañāṇadassano, bản văn ghi là ñāṇadassano. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ovibhāvanaṃ c̣n bản văn ghi ovibhāvakaṃ. [22]. Santadosa. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ca c̣n bản văn ghi là pi. [24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sampaggahavasena c̣n bản văn ghi là sampaggāhavasena; chú giải bản dịch Dhs tr.275 và Asl 372 về Dhs 1116. [25]. Be Se giải thích samugghātitattā c̣n bản văn Ce ghi là susamugghātitattā. [26]. Ce Be Se (và Sn 469) cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là khīṇalobho. [27]. Rất có thể cách nói bóng gió về Dhs 1059 trong đó có một danh sách dài các từ đồng nghĩa được đưa ra. [28]. Chú giải Ce Be giải thích là tato eva rūpādīsu (Se giải thích là tato yeva rūpādīsu) c̣n bản văn ghi là yo tato evarūpādisu [29]. Chú giải D iii 199, Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 396, cũng giống vậy ở đầu hai từ này (một người chẳng có ǵ của ta cả, một không có chút của cải nào) xuất hiện cùng một lúc như là những ân đức đặc biệt sáng giá của những người Uttarakuru xuất thân từ Jambudīpa. (Ấn Độ) [30]. Chú giải Ud-a 167. [31]. Chú giải Ud-a 164. [32]. Chú giải Ce Be Se giải thích là māyāmānalobhakodhānaṃ c̣n bản văn ghi là māyāmānā lobhakodhānaṃ. [33]. Chú giải Be Se giải thích là suppahīnattā (Ce giải thích là suppahīṇattā) c̣n bản văn ghi là suppahīnatta. [34]. Tadekaṭṭhatāya; Xin đọc chú giải Asl 345 để biết thêm chi tiết. |
|