|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
9. Ở TRÊN VÀ QUÁ KHỨ [354] Trong Kinh Phật thứ chín: vào ban đên, trong lu mờ và bóng tối (rattandhakāratimisāyaṃ): vào ban đêm, trong lu mờ,[1] và bóng tối mù mịt[2], v́ ngay cả ban đêm có thể thiếu bóng tối, cụ thể vào những đêm trăng rằm, ánh trăng khiến cho ban đêm ngời sáng rực rỡ, ta cũng không thể nói bóng tối là “bóng đêm tối tăm.”[3] khi các Chư thiên biến những cản trở do mây mù mây tuyết v.v…[4] không gây cản trở, v́ chỉ khi nào có bóng tối dầy đặc ta mới gọi là “cảnh tối tăm” nhưng đó lại vào những đêm đầu tháng chưa có trăng, trên nền trời đó các Chư thiên cũng[5] có thể che phủ bầu trời bằng những cơn mây dông, v́ lư do đó có lời nói rằng[6] “vào ban đêm, trong bóng lu mờ, trong cảnh tối tăm (rattandhakāratimisāyaṃ): vào ban đêm, trong cảnh mờ ảo, trong cảnh tối tăm”. Ngoài trời (abbhokāse): trong một không gian (okāse) trong sân thiền viện chẳng có ǵ che chắn cả. Đang lúc đó có những chiếc đèn dầu le lói (telappadīpesu jhāyamānesu): có nhiều chiếc đèn dầu (telapajjotesu) đang chiếu sáng. Ấy vậy ánh sáng của Đức Phật tỏa sáng độ vài sải, ánh sáng đó tỏa ra ánh sáng Phật cứng cát, dầy đặc tràn ngập khắp nơi, như thường lệ một khoảng rộng độ vài sải, với ánh sáng Phật che lấp cả ánh sáng mặt trăng, mặt trời, vẫn rải khắp trong bóng tối lu mờ, và do toàn thân của ngài đều tỏa sáng, phát ra những hào quang sáu màu xanh vàng đỏ v.v… lại tỏa sáng khắp nơi, chính v́ ánh sáng này thường tỏa ra như vậy, một ṿng rộng khoảng tám mươi hatthas chung quanh ngài. Chẳng cần phải đốt đèn trong khoảng không gian Đức Phật đang ngồi thiền và không gian đó đă trở thành một luồng sáng nhờ ánh sáng Phật phát ra. Quả thật – chẳng có bất kỳ nhu cầu nào như vậy, cho dù thực tế là v́ có nhu cầu muốn thực hiện việc công đức, hàng ngày các cận sự nam đă đem đèn dầu đến dâng cúng, với mục đích tỏ ḷng tôn kính Đức Phật và tăng đoàn các vị Tỳ khưu sử dụng, thí dụ như trong kinh Sāmaññaphala, người ta kể lại rằng “những ngọn đèn dầu này được thắp sáng trong khuôn viên thiền viện[7] (D i 50). Hơn thế nữa c̣n có đoạn văn này “vào ban đêm, dưới ánh sáng lờ mờ, trong đêm tối dầy đặc” với mục đích nói đến bản chất thực đêm tối như thế nào, hơn là[8] muốn nói đến bất kỳ thứ ánh sáng mờ ảo nào trong không gian Đức Phật đang ngồi thiền; v́ vào thời điểm đó chỉ có một mục tiêu là thực hiện việc tôn kính Đức Phật thế nên các cận sự nam đă đem dâng cúng đèn dầu, do vào ngày hôm đó có rất nhiều cận sự nam đang cư ngụ trong thành Sāvatthi, sau khi đă thực hiện tẩy uế thân rất sớm, đă đi tới thiền viện và thọ tŕ trai giới,[9] sau đó họ thỉnh tăng đoàn các vị Tỳ khưu có Đức Phật đứng đầu, vào thành phố và tại đó ngài đă có một buổi cúng dường rất lớn. Sau buổi bố thí đó và sau khi đă tháp tùng cùng Đức Phật và tăng đoàn các vị Tỳ khưu trở lại thiền viện, họ quay trở về nhà, ai về nhà nấy và rồi chính họ cũng dùng bữa, sau đó, thay quần áo sạch sẽ (và choàng áo khoác ngoài), họ lại đi tới thiền viện mang theo hương nhang và ṿng hoa …. trong tay đến tỏ ḷng tôn kính Đức Phật, và rồi trải qua những khoảnh khắc ban ngày, có một số đạo hữu ngồi vây quanh tỏ ḷng tôn kính các vị Tỳ khưu là những người đă khai sáng tâm họ, mọt số khác lại tập trung hành niệm theo đúng phương pháp. Đến một thời điểm đặc biệt vào buổi tối [355] họ đă lắng nghe Phật Pháp trước sự hiện diện của Đức Phật và rồi, khi vị đạo sư c̣n ngồi thiền tại chỗ ngồi tốt nhất dành riêng cho một Đức Phật đă được dọn sẵn ngoài trời gần với hương pḥng kế bên sảnh đường[10] Phật Pháp, và thế rồi, sau khi đă đi đến gặp Đức Phật, có tăng đoàn các vị Tỳ khưu vây quanh tỏ ḷng tôn kính ngài, dân chúng đứng đàng sau, họ muốn lưu lại trong thiền viện hơn là quay trở về thành phố, không phải họ muốn thực hiện việc thanh tịnh trai giới[11] nhưng nhằm củng cố thêm việc tác ư theo đúng phương pháp. Thế rồi họ thắp lên[12] vô số đèn dầu nhằm mục đích tỏ ḷng tôn kính Đức Phật và tăng đoàn các vị Tỳ khưu, họ đến gặp và chào vị đạo sư, cúi chào Ngũ thể đầu địa (Añjali) với tăng đoàn và rồi, ngồi đối diện các vị Tỳ khưu, họ bắt đầu cuộc đối thoại, nói rằng, “bạch Đức Thế Tôn, những người có quan điểm khác nhau đă diễn giải[13] nhiều điều gắn bó với rất nhiều quan điểm được cần đến; và đang khi diễn giải như vậy thay v́ chỉ duy tŕ một quan điểm duy nhất, giống như một người mất trí họ đă đưa ra rất nhiều quan điểm mới hơn cần bàn đến, và cho rằng, “chỉ có điều này mới là đúng đắn, mọi điều khác đều phù phiếm cả” (cho dù thực tế thấy rằng quan điểm (họ giải thích đó) lúc th́ đề cập đến thường kiến, lúc khác lại bác bỏ[14], (rồi lại) một số trong bọn họ lại gắn kết với đoạn kiến v.v…đâu là sanh thú, đâu[15] là pháp tương lai đối với những ǵ họ gắn kết đó thưa ngài?”, và vào dịp đó, có rất nhiều con thiêu thân và côn trùng bay tứ tung đă rơi vào những ngọn đèn dầu đó. Chính v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào dịp đó có rất nhiều con thiêu thân xuất hiện” v.v…Về điểm này: Những con thiêu thân[16] (adhipātakā): những con bướm đêm và côn trùng – ta c̣n gọi là “salabha”[17] v́ chính những côn trùng này được ám chỉ bằng từ “con thiêu thân” (adhipātakā), liên quan đến việc chúng xô đẩy chen lấn nhau (adhipātanato) trước ngọn lửa đèn dầu. Bay về phía ngọn lửa và quanh ngọn đèn dầu: āpātaparipātaṃ = āpātaṃ paripātaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) liên tục bay tới bay lui và bay ṿng quanh, có nghĩa là vừa bay tới bay lui lại bay quanh[18] (ngọn đèn), có một số người giải thích āpāthe paripātaṃ [19] (bay quanh tâm điểm) có nghĩa là bay liên tục xung quanh tâm điểm, khi lấy ngọn đèn làm tâm điểm. Tuỵêt vọng (anayaṃ): xa xút, đau khổ. Bất hạnh (byasanaṃ): tàn lụi, v́ ngài giải thích rơ bằng các từ trước đó, đau khổ ở đây tương đương với sự chết, bằng từ sau th́ quả thực là sự chết đích thực. Mọt số côn rùng đă chết đang khi chúng bay quanh ngọn đèn, một số gặp phải đau khổ tương đương với cái chết. Thẩm định lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): vừa hiểu ra được cuộc hội ngộ vô nghĩa[20] với nhiều điều bất hạnh[21], bằng cuộc đau khổ chính ḿnh, về phía những con thiêu thân và côn trùng không biết được chính niềm hạnh phúc của chúng là ǵ, ngài đă khiến nổi lên Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích làm rơ cuộc hội ngộ tuyệt vọng và bất hạnh chồng chất, bằng cách gắn kết với tà kiến, về phía những người nào liên đến tà kiến, giống như những con thiêu thân và côn trùng đó. Về điểm này: Họ chạy lăng săng qua lại, nhưng không đạt đến bản chất (upātidhāvanti na sāram enti): [356] họ không đến được, không đạt được bằng cách thấu triệt tứ chân đế, bản chất mà họ thừa nhận, cách phân loại giới, định, tuệ, và giải thoát v.v…[22] hơn là bản chất, cùng với những cách tiếp cận (saupāye[23]), vẫn c̣n y nguyên, cho dù có xuất hiện, thông qua ái dục[24] được giải thoát giống như đă tiếp cận được (upentā) chính bản chất đó, thực chất chạy tới (atidhāvanti) chạy lui, do tưởng điên đảo nơi tà kiến, ư nghĩa[25] ở đây là họ gắn kết với ngũ thủ uẩn upādāna bằng cách gắn chặt với tà kiến cho rằng ngũ thủ uẩn là vĩnh cửu, là đáng yêu, là hạnh phúc và là bản ngă[26]. Họ lại tuyên bố một ràng buộc ngày càng mới (navaṃ navaṃ bandhanaṃ brūhayanti): và trong khi bám chặt vào ngũ thủ uẩn Upādāna) họ lại cổ xuư, tạo cho chúng ph́nh ra, một ràng buộc ngày càng mới được coi là ái dục và tà kiến.[27] Một số lại quả quyết bằng những ǵ nh́n thấy, số khác dựa trên những ǵ nghe, tin tưởng rằng, “ chắc chắn sự vật phải như vậy)”, đă rơi rụng, giống như con thiêu thân rơi vào chiếc đèn vậy (patanti pajjotam ’ādhipātā [28] diṭṭhe sute iti ’eke niviṭṭhā): Do thực tế là họ đă bị ràng buộc bằng những trói buộc ái dục và tà kiến, một số sa môn bà la môn, quả quyết (niviṭṭhā) bằng những ǵ đă nh́n thấy, dựa trên những ǵ họ nhận ra bằng nhăn thức hay (dựa trên điều nghe được) chỉ bằng cách đó và duy chỉ bằng cách thông qua nhĩ thức đạt đến được chỉ thông qua những điều đồn thổi, họ lại tin rằng, “chắc chắn, sự vật phải là như vậy.” Gắn kết với (abhiniviṭṭhā), bằng cách gắn kết với tà kiến đó, bằng thông qua những học thuyết như thường kiến v.v…- hay nói cách khác không t́m ra được lối thoát nhằm đem lại hạnh phúc chắc chắn cho chính ḿnh. – Diệt, giống như con thiêu thân rơi vào ngọn đèn, rơi vào chính[29] đống than hồng được cho là tam giới rực cháy với mười một ngọn lửa dục lạc v.v…[30] ư nghĩa[31] ở đây là họ không có thể ngẩng cao đầu lên được. Việc diễn giải Kinh Phật thứ chín kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Andhakāre; chú giải Se giải thích là andhakārena. [2]. Chú giải Be Se giải thích là mahātimisāyaṃ c̣n bản văn Ce ghi là mahātimisāya; toàn bộ từ này chỉ đơn giản là một thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài, chỉ trừ một điều là timisāyaṃ được thay thế với từ mahātimisāyam. [3]. Chú giải Ce Be Se giải thích là timisā ti c̣n bản văn ghi là timisāya asati. [4]. Chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 53 =Vin ii 295 = Miln 273 đă đề cập đến bốn điều gây trở ngại do mặt trời và mặt trăng: )(i) abbhaṃ (mây dầy đặc); (ii) mahikā (sương mù – những c̣n có tuyết (himaṃ) theo như chú giải AA iii 92 và mây tuyết (himavatāhakā) theo như chú giải Vin-a 1297) (iii) dhūmaraja (khói và bụi); và (iv) Rāhu (đó là thần A-tu-la tạo ra thiên thực (che lấp). [5]. Chú giải Be Se giải thích là amāsavī ratti devo ca (Ce bỏ qua ca) c̣n bản văn ghi là amāvasirattidevo. [6]. Chú giải Ce giải thích là tena vuttaṃ: “Rattandhakāratimisāyan” ti. Rattiyā andhakāre mahātimisāyan ti attho, chú giải Be giải thích là tena vuttaṃ “Rattandhakāratimisāyan ti rattiyā andhakāre mahātimisāyan” ti, chú giải Se giải thích là tena vuttaṃ rattandhakāratimisāyan ti rattiyaṃ andhakārena mahātimisāyan ti, c̣n bản văn ghi là Tena vuttaṃ rattandhakāratimisāyan ti. Rattiyā andhakāre mahātimisāyan ti attho. Thật đă quá rơ (và đă được chú giải Se xác nhận) rằng Dhammapāla ở đây đă trích cước chú mở đầu và lời chú thích một cách đơn giản hơn; hay nếu như attho được giữ lại, th́ ngài cũng coi đó như đă khẳng định, v́ lư do đó “vào ban đêm trong lúc trời mờ tối, và trong đêm tối dầy đặc” điểm cần làm rơ ở đây là cho dù cả ba cách diễn tả đều nói đến bóng tối, nhưng chẳng có từ nào bảo đảm được điều này, ngược lại với sự hiện hữu của cả ba th́ điều đó được thực hiện. [7]. Xin đọc chú giải Ud-a 202 ở trên. [8]. Chú giải Be Se giải thích là pana c̣n bản văn Ce ghi là hi. [9]. Xin đọc chú giải Ud-a 309 ở trên. CPD khẳng định bằng từ uposathaṅga (trai giới), rằng cũng chính những giới này được thọ tŕ khi đến gặp Đức Phật, trích làm nguồn đoạn này và SA ii 375. Nhưng có điều rất rơ ràng là các biến cố được ghi lại lại diễn ra trong ngày trai giới (trai giới) v́ điều này đă được chỉ ra cho thấy rằng những ngày này diễn ra vào đêm rằm; trong khi đó chẳng thấy có ǵ trong chú giải SA ii 375 cho thấy các cận sự nam là những người đă thọ tŕ các giới này khi họ đến đảnh lễ Đức Phật, lại cũng đă làm vào ngày không phải là ngày trai giới. Tuy nhiên, có nhiều cuộc thăm viếng Đức Phật được ghi lại xuyên suốt trong kinh Nikāyas, kể cả Udāna, lại cho rằng điều này rất hiếm xảy ra chứ không muốn nói là không bao giờ xảy ra. [10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là dhammasabhāmaṇḍapato paṭṭhāya c̣n bản văn ghi là dhammasabhā maṇḍapappatte. [11]. Uposathavisodhana; không thấy liệt kê trong tự điển PED và CPD. Tôi đoán chừng điều có nghĩa là việc thanh tịnh cá nhân được thực hiện bằng cách thọ tŕ trai giới. [12]. āropetvā; CPD sv khẳng định rằng trong những văn cảnh āropeti có nghĩa là “đem đến” nhưng điều này có thể đ̣i hỏi rằng họ đă ra về rồi lại quay trở lại với đèn dầu, mà bài mô tả ở trên đă bỏ qua. [13]. Chú giải Be Se giải thích là voharanti, trong khi đó bản văn Ce ghi là voharantā caranti, đi lang thang khắp nơi tŕnh bày vấn đề. [14]. Ce Be Se giải thích là asassataṃ; c̣n bản văn lại bỏ qua. [15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ko c̣n bản văn lại ghi là kā. [16]. Xin đọc chú giải VofU 88 n 1 trong đó ngài Woodward lại đề xuất, rất có thể đây có thể là những con kiến bay (cứ lao vào ánh sáng trong đêm, rồi bị cháy mất cánh trong khi bay đó). Trong chú giải Ud 8, 49 tôi dịch từ adhipatati là “đụng nhau” nhưng ở đây ư nghĩa h́nh như là xảy ra đụng độ liên tiếp nhiều lần. [17]. “một loại sâu bướm” (con thiêu thân) (là loại côn trùng bị ánh sáng nến cuốn hút?)” – xin đọc SED sv salabha [18]. Nguyên từ tương đương: āpātaṃ <abhimukhaṃ pātaṃ. và paripātaṃ <paribbhamitvā pātaṃ. [19]. Chú giải Ce Be giải thích là āpāthe paripātan ti keci paṭhanti āpāthe (Se āpāthapario) c̣n bản văn ghi là āpāte. [20]. Niratthaka; hay là vô dụng, v.v… [21]. Chú giải Be Se giải thích là obyasanāpattiṃ, ở đây và dưới này, c̣n bản văn Ce ghi là obyasanappattiṃ, là điều rơ ràng đ̣i hỏi phải có sự hiện diện của āpajjanti trong Ud. Tự điển PED lại không liệt kê ư nghĩa này của từ āpatti. [22]. Rất có thể đây là một cách ám chỉ về giới, định, tuệ, giải thoát, và tri kiến giải thoát, như trong Ud-a 335 ở trên. [23]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn ghi là sa-upāya. Rất có thể đây là một cách chơi chữ, trong đó upāya (có nghĩa là đến gặp) và upentā (lại có nghĩa đang tiến tới) cả hai động từ đều xuất phát từ upa+i. [24]. Abhilāsāya; xin đọc chú thích trong Ud-a 350 ở trên. [25]. Nếu đây là điều được giải thích quay trở lại với đoạn kệ, th́ từ sau này sẽ trở thành” những người nào chấp thủ ngũ thủ uẩn (upādānakkhandhas) bằng cách cố chấp với quan điểm cho rằng những điều đó là vĩnh hằng, dễ thương, sung sướng, bản ngă lại xúc tiến một triền phược ngày càng mới diễn ra. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attā ti c̣n bản văn ghi là attani; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 325 ở trên liên quan đến những tưởng điên đảo. [27]. Cách giải thích này trở nên rơ ràng hơn khi ta giải thích chung với chú giải Ud-a 351tt ở trên (tuy nhiên trong đó những tà kiến lại được thay thế bằng ái dục) về vấn đề này th́ ngài Dhammapāla không c̣n nghi ngờ ǵ nữa đang ám chỉ. [28]. Chú giải Be giải thích là ādhipātakā, ở đây và dưới này c̣n bản văn Ce Se ghi là ādhipātā, xin đọc chú giải Ud. [29]. Xin đọc chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 74, 365; Sn 396; cũng xin đọc EV ii 172 về Thīg 491. [30]. Được liệt kê trong S iv 19; xin đọc chú giải Thag-a ii 178 để biết thêm chi tiết tương tự. [31]. Chú giải Be Se giải thích là attho c̣n bản văn Ce lại bỏ qua. |
|