NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. NÍP BÀN (4)

Trong Kinh Phật thứ tư: Thế rồi Đức Phật đă thẩm định lại vấn đề này (atha kho Bhagavā etam attha viditvā): người ta kể lại rằng khi giáo Pháp có liên quan đến níp bàn do Đức Phật diễn giải bằng cách Ngài đă làm rơ về cùng một níp bàn đó v.v…bằng nhiều cách khác nhau, vào thời đó có điều đă diễn ra với các vị Tỳ khưu đó là: “tới chừng mực vẻ uy lực  nơi đại níp bàn giới bất tử[1], là điều không thể chia sẻ với ai được, chính  Đức Phật đă làm rơ điều đó đang khi ngài chỉ rơ cho thấy[2] những lợi ích của níp bàn này bằng nhiều cách khác nhau, tuy nhiên các phương cách[3] đạt đến níp bàn đó th́ vẫn chưa được công bố. Trong thực hành tu luyện bằng cách nào chúng ta có thể đạt đến níp bàn đó? (và chính v́) sau đó,  Đức Phật đă thẩm định lại bằng mọi cách vấn đề này được coi như là những phản khán về phía các vị Tỳ khưu đó. Phật Tự Thuyết này (ima udāna): ngài đă khiến khởi sanh Tập Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích làm rơ việc chứng đắc níp bàn đó bằng cách đoạn tận ái dục không dư sót bất kỳ điều ǵ bằng thánh đạo về phía những ai không c̣n phải lệ thuộc vào ái dục đó ở bất kỳ nơi nào, với bất kỳ phương cách nào, về phía những ai đă có thân và tâm[4] thanh thản và đối với những người nào đă thâm nhập vào lộ tŕnh[5] hành thiền minh sát. Về điểm này[6]:

Dao động đối với ngài do tín nghiệm mà có (nissitassa calitaṃ): sự dao động nơi ngài với ḷng tín cẩn đem lại, thông qua ái dục và tà kiến v.v…[7] trong đó các hành liên quan đến cảnh sắc v.v… bằng dao động do ái dục và tà kiến[8] tạo ra, với niềm tin tưởng rằng “điều này là của ta, đối với ta đây là ngă” v́ ư nghĩa điều này là, đối với người nào đă diệt trừ được hết ái dục và tà kiến, vào thời điểm đó cũng sẽ có dao động, rung chuyển, thuộc tương tục tính tâm, [398] v́ người đó không thể chế ngự được hạnh phúc khi vừa nổi lên, ngoại trừ điều diễn ra đó lại là điều thiện, hoặc giả sẽ diễn ra một lỗi lầm[9] về phía chính người đó – bằng những chấp thủ ái dục và tà kiến dưới dạng “cảm thọ thuộc về ta (mine), chính ta đây đă cảm thọ được điều đó.” v.v…Chẳng có dao động nào đối với người nào không có niềm tin (anissitassa calitaṃ ’atthi): ngược lại đối với người nào không có niềm tín cẩn vào đó, khi người đó tu luyện qui tŕnh thanh tịnh[10] lại thấu triệt các hành là thông qua đặc tính vô thường v.v…sau khi đă vượt thắng được ái dục và tà kiến bằng những phương tiện chỉ tịnh (samatha) và thiền minh sát[11] chẳng có bất kỳ dao động nào như đă nói đến ở trên xuất hiện, lỗi lầm, hoặc giả dao động[12] liên quan đến nguyên nhân của cùng thứ đó đă bị đoạn tận hoàn toàn. Khi không có dao động xuất hiện (calite asati): một khi chẳng có bất kỳ dao động nào thuộc loại đă nói đến ở trên xuất hiện, chính v́ những thấu triệt ái dục và tà kiến đó không diễn ra, chính v́ thế đối với người nào tinh tấn tu luyện thiền minh sát sau khi đă thâm nhập vào lộ tŕnh nhập thiền này. Khinh an  (passaddhi): có hai loại khinh an do kết quả của việc làm vắng lặng các phiền năo do kích động[13] tạo ra cho thân cũng như tâm đồng khởi sanh với tâm thiền minh sát. Một khi khinh an xuất hiện sẽ không xuất hiện chấp trước (thiên về ) (passaddhiyā sati nati na hoti): khi xuất hiện khinh an kết hợp với những điều thành công xuất chúng[14] thế rồi, một khi người đó đă thăng tiến thiền định của ḿnh tới mức độ có được sở duyên th́ cảnh giới hoan lạc trở nên vô tội [15] hạnh phúc tột đỉnh và rồi liên kết với  thiền định đó bằng cách gây ảnh hưởng đến tương quan trong đó với tuệ giác, làm thành một cặp phối hợp lại giữa chỉ tịnh và thiền minh sát[16] về phía những người nào đă thực hiện việc diệt trừ các phiền năo bằng hết thánh đạo nọ đến thánh đạo kia luôn xuất hiện vào sát na thánh đạo A-la-hán th́ tuyệt đối chẳng c̣n ái dục nào có thể chiếm được cái tên là “chấp trước” (nati) nữa, liên quan đến việc chấp trước này thiên về dục hữu v.v…[17], có nghĩa là (ái dục như thế) không khởi sanh liên quan đến việc đă tạo  nguyên nhân thâm nhập vào pháp bất khởi sanh. Khi không c̣n chấp trước nổi lên (natiyā asati): khi không xuất hiện các pháp cái bằng những khuynh hướng hay dục hữu v.v…làm mục tiêu, liên quan đến việc ái dục đă bị đoạn tận hoàn toàn bằng thánh đạo A-la-hán . Chẳng c̣n phải trở lại cũng như ra đi (āgatigati na hoti): sẽ không có, sẽ không xuất hiện, tiến lại đây (āgati = āgamana, từ đồng nghĩa) bằng cách liên kết, và ra đi (gati) bằng cách diệt, ra đi (gamanaṃ) xuất phát từ kiếp này sang kiếp khác, là trạng thái tiếp tục ra đi. Khi chẳng c̣n phải trở lại cũng như phải ra đi (āgatigatiyā  asati): Khi không c̣n phải ra đi cũng như không cần trở lại (āgatiyā ca gatiyā ca, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) theo cách đă được khẳng định ở trên. Chẳng c̣n diệt và sanh nữa (cutūpapāto na hoti): diệt liên tục chẳng c̣n nữa, cũng chẳng diễn ra nữa (cavana, một dạng ngữ pháp khác); v́ một khi phiền năo luân không c̣n nữa th́ nghiệp luân cũng hoàn toàn bị cắt đứt; và khi nghiệp luân này đă bị cắt đứt, do đâu mà tạo ra được dị thục quả luân? chính v́ lư do này ngài nói rằng, “khi chẳng c̣n sanh cũng như diệt th́ chẳng c̣n phân biệt được đây (trên cơi đời này) cũng như ở kia (nơi cơi đời sau)” v.v…bất kỳ điều ǵ cần phải được khẳng định liên quan đến vấn đề này cũng giống hệt như những ǵ đă được khẳng định chi tiết ở trên liên quan đến Kinh Bāhiyasutta[18]; chính v́ thế[19] ta nên hiểu ư nghĩa[20] này theo cùng một cách như đă khẳng định ở trên[21]. [399] Trong cùng trường hợp này, do đó  Đức Phật đă làm sáng tỏ cho các vị Tỳ khưu đó, bằng việc tu luyện[22] đúng đắn, vẻ oai lực nơi đại níp bàn bất tử (chính oai lực đó) đă tạo ra nhân duyên do làm dịu đau khổ không dư sót bất kỳ điều ǵ thuộc cơi luân hồi.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ tư kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

 

[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là amatamahānibbānadhātuyā c̣n bản văn ghi là amatāya nibbānadhātuyā.

[2].  Chú giải Ce Be giải thích là dassentena c̣n bản văn Se ghi là dīpentena, có nghĩa là làm rơ.

[3].  Chú giải Ce Be Se giải thích là assā c̣n bản văn ghi là assa.

[4]. Thân xác (kāya), ở đây và dưới đây, làm rơ như trong chú giải Ud-a 321 ở trên, ba uẩn là thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn – xin đọc Dhs 40tt; cũng xin đọc Thanh Tịnh Đạo 465.

[5]. Xin đọc chú giải Chú thích trong Ud-a 361 ở trên.

[6]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó có thể so sánh với SA ii 372 về S iv 59 và MA v 82tt về Trung Bộ Kinh (M) iii 266; xin cũng đọc thêm SA ii 72 về S ii 67.

[7].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tahādiṭṭhādīhi c̣n bản văn ghi là tahādiṭṭhādi.

[8]. Xin đọc chú giải Ud-a 213 ở trên.

[9]. Avakkhalitaṃ; nghĩa đen là vấp chân, loạng choạng, v.v…và hiểu rộng ra đây có thể là một lỗi lầm, một xúc phạm. Tự điển PED cho rằng ư nghĩa là “rửa sạch đi”. v.v…

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là visuddhipaṭipadaṃ c̣n bản văn ghi là visuddhipadaṃ;  xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 388 ở trên.

[11]. Ce Be Se giải thíchovipassanāhi c̣n bản văn ghi là ovipassanā hi.  

[12]. Dhammapāla ở đây lại đưa ra nghĩa “dao động” như là cách nói khác đối với chuyển động, rung động và lầm lỡ (calita avakkhalita/vipphandita vā), ngược lại trước đó ngài đưa ra ư nghĩa “lầm lỡ” như là ư nghĩa khác thế cho rung động và rung chuyển (calanaṃ kampanaṃ/avakkhalita vā). V́ h́nh như việc chuyển đổi các từ này không mấy rơ ràng, đây có thể là do một số lỗi trong việc ghi chép, có thể đây là một bản chép tương đối cổ, v́  bản này thường quá quen thuộc với rất nhiều ấn bản đă được sử dụng. 

[13]. Chú giải Be giải thích là sārambhakarakilesavūpasaminī, Ce osamane. Se osamanī, c̣n bản văn ghi là sārambhakilesavupasamena. Xin đọc chú giải  Thanh Tịnh Đạo 465.

[14]. Xin đọc chú giải  Ud-a 242 ở trên.

[15]. Xin đọc Ud-a 321, bản văn Ce chèn thêm ca;  chú giải Be Se lại bỏ qua.

[16]. Xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 157 (được trích Ps ii 92tt), AA iii 143 và các chú thích trong Ud-a 153. 177, 321 ở trên. Theo tự điển Buddhist Dictionary, sv chỉ tịnh –thiền minh sát (Samatha-vipassanā): “Có một cách tu tập hành thiền trong đó, chỉ thay đổi chuỗi hành thiền, thiền chỉ tịnh, thiền quán được tu luyện… người nào thực hiện cách tu thiền này, trước tiên sẽ thâm nhập được vào  an chỉ định sơ thiền, sau khi đă xuất khởi khỏi đó, người đó quán sát những danh pháp xuất hiện dưới dạng vô thường, đau khổ và vô ngă, và như vậy người đó phát triển tuệ giác, từ đó lại thâm nhập được vào đệ nhị thiền an chỉ định; và sau khi đă khởi xuất khỏi đó, người đó lại quán sát những tưởng sắc như là vô thường, v.v… (và cho đến lúc kết thúc được thiền jhana thứ tám)” Ps ii 97 có liệt kê đến mười sáu loại tuệ như vậy.

[17]. Xin đọc Ud-a 393 ở trên để biết thêm những chi tiết giống nhau.

[18]. Xin đọc Ud-a 92tt.

[19]. Ce Be Se giải thích là tasmā c̣n bản văn lại ghi là tasmiṃ.

[20].  Chú giải Ce Be Se giải thích là attho; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[21].  Chú giải Be Se giải thích là tattha c̣n bản văn Ce ghi tasmiṃ.

[22]. Sammāpaipattiyā; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 201 ở trên.