NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. NÍP BÀN (3)

Trong Kinh Phật thứ ba[1]: và rồi ĐứcPhật đă thẩm định vấn đề này (atha kho Bhagavā etam attha viditvā): người ta nói rằng khi Đức Phật đă thực hiện xong việc diễn giải Phật Pháp liên quan đến níp-bàn bằng cách chỉ rơ cho thấy (cũng níp bàn đó) v.v…bằng nhiều cách khác nhau, trước tiên sau khi ngài đă thể hiện được mối hiểm nguy liên kết vơi ṿng luân hồi[2] đă xuất hiện vào thời điểm đó cho các vị Tỳ khưu mà rằng: “ṿng luân hồi này cùng với nhân duyên dưới dạng những nguyên nhân chính là vô minh v.v…ngược lại chẳng có nguyên nhân nào được qui cho níp bàn cả, trong đó ta có đề cập đến việc an tịnh; chính an tịnh này cũng không có nhân duyên, làm sao chúng ta có thể khám phá ra được theo nguyên nghĩa của nó, và nơi ư nghĩa tột đỉnh[3]?”; (và chính v́)  sau khi đă thẩm định vấn đề được coi như là cách phản khán đă nói đến ở trên về phía các vị Tỳ khưu, Đức Phật đă khởi sanh Tập Phật Tự Thuyết này (ima udāna): đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ việc hiện hữu, theo nghĩa rơ ràng nhất, về đại níp bàn bất tử; không chỉ v́ mục đích muốn diệt trừ hoài nghi nơi các vị Tỳ khưu đó, nhưng c̣n với mục đích giải thích làm rơ riêng rẽ những học thuyết sai trái các vị sa môn bà la môn chủ trương trong đó[4] bằng việc tập luyện chủ trương sai trái như vậy, như với những vị thuộc trường phái Lokāyata v.v…, cho rằng, (níp bàn này), níp bàn chỉ có trong lời nói mà thôi,[5] v́ điều ta đề cập đến là níp bàn chẳng tồn tại theo nghĩa tuyệt đối[6], liên quan đến chính bản chất diệt của nó đă được khám phá” và những điều đó không được kể đến việc đang tồn tại rất nhiều[7] tà kiến như vậy. Về vấn đề này:

Những ǵ là vô sanh, là vô tái sanh, là vô tác tạo, và là vô vi. (ajāta abhūta akata asakhata): [395] toàn bộ những từ này đều đồng nghĩa với nhau, hay nói cách khác “chính những ǵ được coi là vô sanh,” (ajāta) v́ không giống như những cảm thọ v.v… điều đó không được sanh ra (na jāta) đă không trở thành chúng sanh, thông qua việc hài hoà các nhân duyên được coi như là những việc liên quan đến nguyên nhân và điều kiện vậy. “Điều ǵ không được tái sanh” (abhūta), v́ điều này đă không được tái sanh (na bhūta), đă không xuất hiện, đă không khởi sanh, hoặc là do không có nguyên nhân như vậy, hay chỉ do chính sự đồng ư của điều đó, (trong khi đó) liên quan đến t́nh trạng vô sanh như vậy, liên quan đến t́nh trạng vô tái sanh như thế, lại chính là “điều đă không được tái tạo nên” (akataṃ) v́ đă không được tái sanh (na kataṃ) bằng bất kỳ nguyên nhân nào, bấy giờ ta nói đến “những ǵ là vô vi” (asaṅkhataṃ) với mục tiêu chỉ rơ cho thấy níp bàn đó, lại có chính bản chất vô vi, không có bản chất là những ǵ được sanh ra, được tái sanh và được tác tạo, có được nhờ vào những pháp hữu vi, như thể danh và sắc v.v… hay nói cách khác, ta nên hiểu những điều đó theo nghĩa ngược lại “đó là những pháp hữu vi” (saṅkhataṃ) tuyệt đối v́ đă được “tác tạo nên” do những nhân duyên đă được tích tụ lại, (samecca) đó là điều đă tái sanh đă cùng tồn tại vậy (sambhūya)[8] “những ǵ là vô vi” (asaṅkhataṃ) mang đặc tính vô vi như vậy là v́ thiếu vắng hữu vi, v́ thiếu đặc tính tạo nên hữu vi. “Những ǵ bất tác tạo”. (akataṃ) được đề cập đến nhằm mục tiêu làm rơ những ǵ không được sáng tạo nên do bất kỳ nhân duyên nào, trừ phi có hoài nghi nổi lên, một khi thực chất hiện hữu đa được đem lại[9] bằng vô số những nhân duyên đă được đoạn trừ, mà vẫn c̣n được tạo nên do một nguyên nhân duy nhất mà thôi. “Những ǵ không tái sanh” (abhūta) được đề cập đến nhằm mục tiêu dẫn chúng sanh khỏi nghi ngờ, tuy nhiên[10] đó chính là hiện hữu độc lập với bất kỳ nguyên nhân nào (appaccayaṃ), những điều đó vẫn c̣n phải tái sanh, phải xuất hiện, chỉ do chính điều phù hợp với điều kiện đó. “Những ǵ là vô sanh” (ajāta) được nói lên nhằm mục đích “và điều đó có được pháp vô vi, không được tác thành, bất tái sanh liên quan đến chính bản chất của nó hoàn toàn thiếu vắng sanh”. Ta nên hiểu rằng, vừa lúc thẩm định lại ư nghĩa của bốn từ này, hiểu theo nghĩa tột đỉnh th́ sự hiện hữu của níp bàn cũng có khả năng biết được,[11] như vậy (họ ám chỉ rằng) “Hỡi các vị Tỳ khưu, chính cùng một níp bàn đó cũng vẫn tồn tại”[12] lư do Đức Phật đă sử dụng lời nói với “hỡi các vị Tỳ khưu” v́ ngài đang khiến khởi sanh[13] nơi  Phật Tự Thuyết này vào dịp này [14] ta cần hiểu theo cùng một cách như đă khẳng định ở trên[15]. Chính v́ thế, vị đạo sư, sau khi đă nói “hỡi các vị Tỳ khưu, vẫn tồn tại những điều vô vi” thế rồi ngài nói tiếp: “hỡi các vị Tỳ khưu nếu không như vậy” v.v… để làm rơ nhân duyên liên quan đến điều đó; đây chính là ư nghĩa ngắn gọn: hỡi các vị Tỳ khưu, nếu không tồn tại (na abhavissa = na siyā, là từ đồng nghĩa) những ǵ là giới vô vi giống như chính bản chất thuộc những ǵ là vô sanh v.v…th́ ta không thể biết được, ta không thể khám phá ra, ta không thể nh́n thấy được điều đó ngay tại nơi đây trên cuộc đời này.[16] Việc thoát khỏi, việc làm giảm không dư sót bất kỳ điều ǵ [17] đối với những ǵ là hữu vi[18] được coi như là ngũ uẩn thuộc sắc giới v.v… với chính bản chất là được sanh ra v.v… v́ các pháp liên kết với thánh đạo như thể chánh kiến, v.v… một khi tu luyện lấy níp bàn làm đối tượng th́ có thể diệt tận gốc được hết các phiền năo không dư sót bất kỳ điều ǵ, bằng cách này, ta biết được sự không xuất hiện liên quan đến vấn đề này ta cũng biết được không xuất hiện, sự biến mất, điều thoát khỏi, toàn bộ đau khổ thuộc ṿng luân hồi. Sau khi chỉ rơ cho thấy có sự tồn tại của níp bàn bằng cách sử dụng một lời xác nhận phủ định, ngài cho biết tiếp, “chính v́ khi” v.v…để chứng tỏ điều này cũng bằng một lời xác nhận tích cực (nguyên từ)[19]. Điều này cũng có cùng ư nghĩa như đă được khẳng định ở trên. [396] [20] liên quan đến vấn đề này, v́ cũng đă xuất hiện hiện hữu hiểu theo nghĩa tuyệt đối của níp bàn giới, lại do chính Đấng Chánh Đẳng Giác diễn giải, do ḷng thương xót chúng sanh này bằng vô số các đoạn Kinh Phật như Kinh, “Các pháp vô duyên (appaccayā dhammā): và “các pháp vô vi (asakhatā dhammā)” (Dhs 2); “đây cũng là một vấn đề khó ḷng nhận ra, có nghĩa là, an tịnh các hành, từ bỏ toàn bộ sanh y” (Trung Bộ Kinh (M) i 167[21] ; và “hỡi các vị Tỳ khưu, ta sẽ diễn giải cho các ngươi biết pháp[22] vô vi, và việc tu luyện để dẫn đến (pháp) vô vi đó. (S iv 359); v.v…và  cũng bằng Kinh Phật này nữa, tức là “hỡi các vị Tỳ khưu, cũng tồn tại, cái gọi là vô sanh”, chính v́ thế, ngay cả khi không c̣n tồn tại nghi ngờ và thái độ hoài nghi nào dưới bất kỳ dạng nào có liên quan đến điều đó[23] về phía những người trí, ngay cả khi họ có thể không phải là những người đă đặt ra điều đó trước tiên, tuy vậy[24] v́ mục tiêu nhằm đẩy lùi bất kỳ mối hoài nghi nào về phía những cá nhân có trí tùy thuộc vào sự hướng dẫn của người khác,[25] về việc này, cũng xuất hiện việc xem xét lư luận được mở ra bằng việc thiết lập ư nghĩa này.[26] Đó là chính v́[27] khi liên quan đến một thực chất đó là chúng sanh có khả năng biến tri những ǵ được biết đến dưới dạng thoát khỏi mọi ái dục và sắc giới v.v…[28] với những điều vượt quá khả năng của họ[29] (điều thoát khỏi) bao gồm cả điều nghịch nghĩa,[30] (và) những điều sở hữu chính bản chất của ḿnh, cũng chính là phản đề của cùng một vấn đề vậy. Chính v́ thế cũng c̣n có cái gọi là thoát khỏi toàn bộ các pháp hữu vi, có được chính điều là bản chất[31] của ḿnh (điều thoát khỏi đó) bao gồm những ǵ đối nghịch với và có chính bản chất làm phản đề với cùng một vấn đề vậy, và cũng chính giới vô vi này đă tạo ra cách thoát thân đó. Tuy nhiên cũng là điều tốt một khi trí liên kết với thiền minh sát lấy pháp hữu vi làm đối tượng, cũng có trí thuận thứ tuệ[32] đó lại không thể diệt trừ được các phiền năo bằng cách diệt trừ đến tận gốc;[33] tương tự như vậy, đang khi nhập sơ thiền v.v…trí đó lại lấy cảnh sắc làm đối tượng,[34] trí đó cũng diệt trừ được các phiền năo chỉ bằng cách trấn áp chớ không phải bằng cách diệt trừ đến tận gốc vậy.[35] Chính v́ thế, dựa vào sự bất lực (thiếu khả năng)[36] liên quan đến diệt trừ các phiền năo bằng cách diệt trư đến tận gốc, hoặc là về phía trí lấy pháp hữu vi làm đối tượng, hay trí lấy cảnh sắc làm đối tượng, dứt khoát phải có một đối tượng, với đảo đề của cả hai điều này là bản chất riêng của ḿnh, v́ trí đó liên kết với thánh đạo gây ảnh hưởng rất nhiều đến việc đoạn tận các phiền năo này thông qua diệt trừ tận gốc, đây chính là vô vi giới, hiểu theo nghĩa tột đỉnh, về níp bàn[37], tức là “hỡi các vị Tỳ khưu, vẫn tồn tại điều ta gọi là vô sanh, vô tái sanh, bất biến hóa và vô vi” là những điều mang ư nghĩa rơ ràng, liên quan đến những ǵ Đức Phật đă công bố[38]; v́ bất luận điều ǵ[39]  Đức Phật đă công bố đều mang ư nghĩa rơ ràng, (tượng trưng) cho chân đế tuyệt đối[40] cũng như với điều Ngài công bố “toàn bộ các pháp đều là vô thường, toàn bộ các pháp đều là khổ, và toàn bộ các pháp đều là vô ngă”[397] (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 286). Cũng tương tự như vậy, từ “Níp bàn” nơi một số mục tiêu,  toàn bộ các pháp đều có thực, kể cả chân đế tuyệt đối[41], liên quan đến khả năng, như với từ “sư tử”[42] đây chỉ dùng làm một ẩn dụ[43], hay nói cách khác, chính các vô vi giới đều tồn tại[44] theo nghĩa tuyệt đối liên quan đến chính bản chất giới đó chính là đảo đề, được tự do với điều c̣n lại[45] như thể địa đại[46] và cảm thọ, cũng chính bằng những phương pháp này v.v…mà hiện hữu theo nghĩa tuyệt đối các vô vi giới mà ta nên hiểu[47] cũng như thông qua lư luận vậy.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ ba kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Xin đọc It-a i 160tt để biết thêm những điểm tương đồng.

[2]. Chú giải Ce Be giải thích là sasārassa c̣n bản văn Se It-a ghi là sasāre; mệnh đề phụ này không thấy trong kinh Phật tiếp ngay sau đó, bằng không đă thấy nhắc lại trong đoạn mở đầu này.

[3]. Chú giải Be giải thích là saccikaṭṭhaparamatthena c̣n bản văn Ce Se It-a ghi sacchikaṭṭhaparamaṭṭhena; xin đọc chú giải Ud-a 14 ở trên.

[4]. Idha; có lẽ trong giáo lư của Đức Phật (sāsana), và như vậy đối nghịch với những người ngoài đời cũng (bahiddhā) được đề cập dưới đây, cho dù tôi không nhận ra bất kỳ đoạn giáo lư nào trong giáo lư của Đức Phật đề cập đến “sa môn bà la môn” (hay sa môn và bà la môn). Ngài Bhikkhu Bodhi nhận xét rằng, đang khi viết ra tác phẩm, Dhammapāla không để ư ǵ đến họ ngay cả chỉ là các vị Tỳ khưu đích thực, có lẽ ta có tham khảo về những vị Sautrāntikas, là những người đă chấp nhận Níp bàn chẳng là bất kỳ điều ǵ khác hơn là giai đoạn kết thúc qui tŕnh luân hồi hay ngay cả Mādhyamikas, cũng chỉ đề cập đến đặc tính không thể kiếm thấy được là (chính bản chất (sabhāva) của (níp bàn vậy).

[5].  Chú giải Ce Be Se giải thích là vācāvatthumattam eva  c̣n bản văn ghi là ’ āha taṃ vatthumattam eva,  chú giải It-a giải thích là tathā vuttamattam eva; xin đọc chú thích trong Ud-a 319 ở trên.

[6]. Ce Be Se giải thích là ’ atthi hi paramatthato nibbāna nāma; c̣n bản văn ghi ’ atthi nibbānan ti paramatthato nibbānama tôi chấp nhận cách chấm câu trong chú giải Be.

[7]. Puthu; hay là chính những quan điểm riêng rẽ của họ.

[8]. H́nh như đây là nguyên từ tương đương; saṅkhataṃ<samecca sambhūya kataṃ, cũng như trong chú giải Thag-a ii 107, Vv-a 232.

[9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là nibbattitabhāve c̣n bản văn It-a ghi là nibbattisabhāve.

[10].  Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là pi c̣n bản văn ghi là hi.

[11]. Pavedito; Be pakāsito, có nghĩa là khiến cho xuất hiện.

[12]. Tôi chấp nhận cách chấm câu của chú giải Be, giải thích là ‘Tayida nibbāna atthi ’  c̣n bản văn Ce ghi là tayida nibbāna “Atthi bhikkhave;  chú giải Se không sử dụng dấu ngoặc kép.  Chú giải It-a lại có dùng, về điểm này, ta chỉ nên hiểu đoạn evam etesa catunnam pi padāna sātthakabhāvo veditabbo (cũng là ư nghĩa của bốn từ này).

[13]. Chú giải Be Se giải thích là udānentena c̣n bản văn ghi là udān’antena,  chú giải Ce ghi là udānantena.

[14].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ettha c̣n bản văn ghi là tattha.

[15]. Xin đọc chú giải Ud-a 389.

[16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là idha loke c̣n bản văn It-a ghi là’ idhaloke; tôi chấp nhận cách chấm câu của chú giải Be.

[17].Anavasesavūpasamo; chú giải It-a ghi anavasesavaṭṭūpasamo, sự an tịnh nơi ṿng luân hồi  không dư sót bất kỳ điều ǵ.  

[18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là saṅkhatassa; bản văn lại bỏ qua.  Chú giải It-a ở đây giải thích là sakhāragatassa.

[19]. Chú giải Be It-a giải thích là anvayavasena c̣n bản văn Se ghi là anupagamavasena, Ce anugamavasena. Tự điển PED đă không thể đưa ra nghĩa các từ  anvaya và vyatireka, cũng như tự điển CPD chỉ có từ mục anvaya, nhưng xin đọc chú giải SED từ mục anvaya. Cách giải thích trong PS 238 bằng các từ “phù hợp với, và thêm vào đó” (trong đó tự điển PED khiến tôi lầm lẫn đôi chút) ta nên sửa lại là một cách “tiêu cực và tích cực”

[20]. Theo ngài Ñāamoli (Ppn 581 n 18) kể từ đây trở về sau điều này cũng tái diễn trong kinh Paramatthamañjūsā, tập chú giải về Thanh Tịnh Đạo,và có lẽ cũng trong tác phẩm cùng tên của Dhammapāla mà chú giải Ud-a và It-a đă gán cho. Tôi không thể tận dụng được bản văn này, tuy nhiên có điều rơ ràng là từ cách giải thích của ngài Ñāamoli th́ có nhiều khác biệt nơi cách giải thích và chấm câu của ngài một số khác biệt này có thể giải thích là đây chỉ là những sai lệch giữa bản dịch hiện hữu (chủ yếu tôi theo bản chú giải Be) và bản dịch ngài Ñāamoli  đă cung cấp. Ta cũng nên lưu ư rằng đoạn văn áp chót, ngài Ñāamoli khẳng định là độc nhất chỉ t́m thấy trong Ud-a, thực chất cũng đă xuất hiện trong chú giải It-a.

[21]. Bản văn It-a (và VofU 98 n 3) đă khẳng định sai là “S i 135”.

[22]. Dhammaṃ; không thấy xuất hiện trong chú giải S iv 359 (Ee)

[23].  Be Se It-a giải thích là tattha c̣n bản văn Ce ghi là tassa.

[24].  Be Se It-a giải thích là ye pana c̣n bản văn Ce ghi là ye pi.

[25]. Paraneyyabuddhino puggalā; It-a giải thích là abūddhiggalā, những cá nhân thiếu hiểu biết.

[26]. Be giải thích là adhippāyaniddhāraamukhena yuttivicāraā (It-a adhippāyuddhāraamukhena). Chú giải Ce Se giải thích adhippāyo niddhāraamukhena yuttivicāraāya, c̣n bản văn ghi là adhippāyo. Yathā nibbānamukhena yuttivicāraāya. Niddhāraa (ở đây được giải thích là “việc thiết lập”, và Ñāāmoli lại giải thích là “cách suy diễn”) cũng có nghĩa là chọn ra, xác định … xin đọc chú giải cách sử dụng trong Ud-a 103 ở trên, liên quan đến sở hữu cách -  cũng giống như uddhāraa, cách giải thích được t́m thấy trong chú giải It-a, có nghĩa là trích đoạn, khai thác v.v…

[27]. Chú giải Be It-a giải thích là yathā c̣n bản văn Ce Se ghi là vā; việc lẫn lộn ghi chép có lẽ xuất hiện từ cách hiểu sai từ yuttivicāraā yathā là yuttivicāraāya vā.

[28].  Chú giải Ce Be Se giải thích là rūpādīnañ ca c̣n bản văn It-a ghi là rūpānañ ca.

[29]. Sa-uttarāna; xin đọc chú giải Ud-a 109  ở trên.

[30].  Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là paipakkhabhūta; c̣n bản văn ghi là paipakkhabhūtāna

[31].  Chú giải Be giải thích là evaṃ taṃsabhāvāna c̣n bản văn It-a ghi là eva ta sabhāvāna. Chú giải Ce giải thích là eva pharusabhāvāna,  Chú giải Se giải thích là evasabhāvāna. Đối với tôi có điều không mấy rơ ràng là điều bao gồm những ǵ. Bản dịch của ngài Ñāamoli về toàn bộ đoạn này như sau: “chính v́ thế nếu những hiền nhân tin tưởng hoàn toàn vào Giáo Pháp và không nghi ngờ ǵ cả, cho dù rất có thể họ đă không có thắng tri được giáo pháp này, tuy nhiên vẫn có những con người am hiểu được Giáo Pháp đó theo sự hướng dẫn khác;  và ở đây chỉ có ư nêu lên cách lư luận logic dưới tiêu đề suy diễn nhằm mục tiêu diệt trừ được hết các mối nghi ngờ này. Cũng chính v́ điều này chỉ xuất phát từ cách am hiểu tường tận điều đó xuất phát từ ái dục và cảnh sắc, v.v…vẫn có một vài điều ǵ đó vượt khỏi trí của họ, được biết đến như là lối thoát khỏi những nghi ngờ đó là những điều đối chọi lại và v́ bản chất của đương sự đó không có những nghi ngờ đó, chính v́ thế ta thấy tồn tại một lối thoát hoàn toàn trái ngược và tự bản chất đương sự đó hoàn toàn thiếu vắng, toàn bộ các pháp hưũ vi, toàn bộ những ǵ mà bản chất đă nói ở trên chính là lối thoát này dưới dạng vô vi giới” (Ppn 581 n 18). Nghĩa duy nhất tôi có thể thảo luận ở đây như sau – chính v́ (a) cơi dục giới và (b) cơi sắc giới mỗi cơi đều vượt khỏi cơi này, tức là (c) cơi sắc giới và (d) cơi vô sắc giới tương ứng, và (c) và (d) không đối nghịch với (a) và (b) nhưng cũng sở hữu những bản chất riêng lại chính là phản đề với các cơi (a) và (b) sở hữu chính v́ thế phải tồn tại điều ǵ đó tạo thành đối kháng với các pháp hữu vi, và chính bản chất đó lại là phản đề của các pháp liên kết với các pháp hữu vi đó.

[32]. Anulomañāa; trí thứ chín và những trí tột đỉnh liên kết với thiền minh sát – xin đọc Thanh Tịnh Đạo 639tt

[33]. Bản dịch của ngài Ñāamoli ở đây có nói về “đoạn trừ bao gồm việc thay thế bằng những điều ngược lại” (?= tadaṅga) không thấy đề cập đến trong tập chú giải Ud-a hay It-a.

[34]. Xin đọc Udāna-a 144 ở trên.

[35]. Xin đọc chú giải Ud-a 32 ở trên trong đó những vấn đề này tạo ra hai trong số năm loại giải thoát.

[36]. Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là asamatthabhāvato c̣n bản văn ghi là asamatthasabhāvato.

[37]. Nibbānapadassa.

[38].  Chú giải Be Se It-a giải thích là bhāsitattā c̣n bản văn Ce ghi là kathitattā.

[39].  Chú giải Be Se It-a giải thích là ya hi Bhagavatā bhāsita/ ta (Ce ya hi Bhagavatā bhāsita) c̣n bản văn ghi là Bhagavatā bhāsita.

[40]. Chú giải Be giải thích là paramatthaṃ  (It-a paramatthan ti); c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua.

[41]. Visaye yathābhūtaparamatthavisayo (It-a ovisaye); Ñāamoli: “Trong một số trường hợp nào đó lại có liên quan đến mục tiêu, từ “nibbāna” có nghĩa tuyệt đối chung cuộc là mục tiêu.

[42].  Chú giải Ce Be Se It-a giải thích là sīhasaddo c̣n bản văn ghi là samayasaddo; xin đọc Thanh Tịnh Đạo 485 và (Ñāamoli )Ppn 553 n 12. trong đó có giải thích là nói một cách chính xác, tên này được áp dụng với súc sanh đôi khi cũng được sử dụng đối với người theo cách ẩn dụ.

[43]. Ce Be Se giải thích là upacāramattavuttisabbhāvato c̣n bản văn ghi là upacāravuttisabhāvato, It-a upacāravuttisambhāvato; nhưng toàn bộ những cách giải thích này xem ra đều thích hợp với văn cảnh hiện tại, chính v́ thế, tôi chấp nhận cách giải thích chú giải Ce vl upacāramattavuttisambhavato. Do  đó, những kết quả trong lời nói trên đă khẳng định Níp bàn hiện hữu trên quả đất này, chính danh từ “ Nibbāna” cũng không có (được biết) bằng cách nói ẩn dụ- ví dụ, chúng ta không thể nói con người giống như con sư tử, nếu không có con sư tử thật- và  như thế lối ẩn dụ trên làm tăng thêm những sự tranh luận trước của dhammapāla.  Pm h́nh như đọc upacāravuttimattasabhāvato ở đây, và cụm từ trên, nếu đúng được dịch (dường như sai) do bởi Nānamoli như “ [ chính xác] v́ thực tế cách sử dụng cuả nó như là ẩn dụ thật.

[44]. Rất có thể từ ’ va nên giải thích là ’ eva (= atthi eva) như trong  chú giải It-a và Pm.

[45].  Be (It-a) giải thích là itaratabbiparītavinim (m) uttasabhāvattā c̣n bản văn ghi là ittara tabbiparītavinimmuttasabhāvattā, chú giải Ce giải thích là itaraṃ vā tabbiparītavinimmuttasabhāvattā. Se Pm itara tabbiparītavinimuttasabhāvattā.

[46]. Vā;  chú giải Be It-a lại bỏ qua. 

[47].  Ce Be Se It-a giải thích veditabbo c̣n bản văn ghi là dīpetabbo.