|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
2. NÍP BÀN (2) [393] Trong Kinh Phật thứ hai: Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ một thực chất đó là níp bàn khó ḷng nhận ra do liên quan đến bản chất níp bàn đó thật cao siêu. Về điểm này: Khó ḷng nhận ra (duddasaṃ): khó ḷng nhận ra ở chỗ những người nào không tích lũy được những thành tố trí th́ không thể thực chứng được níp bàn đó, do đặc tính cao siêu chính bản chất níp bàn đó thể hiện và do một thực chất nữa là chính bản chất đó lại vô cùng thâm thúy và tinh tế; v́ thế có lời nói rằng: “hỡi Māgandiya, đừng chiếm đoạt lấy tuệ nhăn đó, nhờ đó mà nhà ngươi hiểu rơ sức mạnh, (cũng như thực chứng) được níp bàn.[1] “ (Trung Bộ Kinh (M) i 510[2]), thêm vào đó cũng có lời nói rằng: “cả điều này nữa cũng chính là vấn đề khó nhận ra[3], ư muốn nói ở đây đó là việc làm dịu đi các hành.” (Trung Bộ Kinh (M) i 167) v.v…Không hướng chiều về (anataṃ): ái dục được nói đến như là một “khuynh hướng” (natā), do việc hướng về đối tượng như các sắc giới hữu h́nh v.v…và hướng về những lần tái sanh như thể tái sanh nơi các cơi dục giới v.v… và v́ điều này diễn ra theo cách trượt xuống đó (tanninna), do chính mọi chúng sanh đều hướng về (namanato); chính v́ điều “hướng chiều” này không xuất hiện ngay tại đây (na natā), đó lại là bất hướng chiều (anataṃ), có nghĩa là chính níp bàn[4] vậy. Họ cũng c̣n giải thích là anantaṃ (vô tận), thiếu kết thúc v́ tự bản chất níp bàn đă là điều vĩnh hằng, có nghĩa là điều không có khả năng bị diệt, là điều tồn tại liên tục[5], là bất tử, tuy nhiên một số người lại cho rằng ư nghĩa của từ anantaṃ [6] là “vô hạn lượng”, và về vấn đề này, ngài chỉ rơ cho thấy, với đặc tính “khó nhận ra được” thực chất níp bàn là điều rất khó nhận ra được khó ḷng đạt đến được, trong đó việc tu luyện điều vô sở duyên là những điều không dễ ǵ làm được, do v́ chúng sanh đă mải mê[7] trong ṿng một thời gian rất lâu đắm ch́m trong phiền năo dục v.v…đă làm suy yếu tuệ giác; Ngài cũng làm rơ thực chất này một cách chính xác bằng cách cho rằng, “điều này thực sự khó có thể nhận ra”, về điểm này: chân đế (saccaṃ): là níp bàn, v́ đây chính là “chân đế”[8](saccaṃ) hiểu theo nghĩa một điều rơ ràng, do đặc tính níp bàn th́ tuyệt đối có thực (santattā) thông qua thiếu vắng bằng bất kỳ cách nào những ǵ mà bản chất lại là bất thực (asanta), v́ đây[9] chính là điều không dễ ǵ nhận ra, không dễ dàng thực chứng, do việc ta chỉ có thể đạt đến được hoàn toàn sau khi đă trải qua biết bao nhiêu cực nhọc phiền toái, ngay cả do những người nào đă tinh tấn cao độ trong một thời gian dài, các thành tố công đức và trí (cũng cùng một điều này) có lời nói rằng, “ta cũng khó có thể đạt đến được”[10] (D ii 36) cũng là điều Đức Phật đă nói. Bị xuyên qua chính là ái dục đối với người nào đă biết; c̣n đối với người nào đă nh́n thấy th́ chẳng có điểm tựa chỗ dựa nào (điểm tựa chỗ dựa). (paṭividdhā taṇhā jānato passato ’atthi kiñcanaṃ.) và nếu như [11] diệt đế đă được thấu triệt[12] do người nào đă thấu triệt chân đế đó bằng quán triệt đi kèm theo với thực chứng, như trong phạm vi đối tượng (visayato), c̣n do nhiệm vụ (kiccato) liên quan đến đối tượng (ārammaṇato) [13], bằng quán triệt đối tượng (ārammaṇapaṭivedhena) và bằng cách quán triệt một cách không lẫn lộn (asammohapaṭivedhena) [14], (và cũng) chính v́ khổ đế đă được thấu triệt một cách rơ ràng (không lẫn lộn) bằng quán triệt đi kèm với biến tri, và với đạo đế [394] cũng được thấu triệt đi kèm với tu tiến, cũng như vậy ái dục cũng được thấu triệt bằng quán triệt đi kèm với từ bỏ và với phương cách không lẫn lộn, cũng như vậy Đức Phật đă thể hiện nơi các vị Tỳ khưu vẻ oai nghiêm của đại níp bàn bất tử (chính vẻ oai nghiêm đó) tạo thành nhân duyên cho việc lắng dịu đau khổ, không bỏ qua bất kỳ điều ǵ, thuộc ṿng luân hồi tái sanh, trong đó đối với người nào biết rơ vấn đề này như vậy, đối với người nào đă thực chứng được tứ thánh đế là hiện thực như vậy là do tuệ giác tương ưng với thánh đạo, sẽ chẳng c̣n ái dục tạo ra “khuynh hướng” có liên quan đến hữu v.v… (và trong việc hữu đó) giả sử như có vắng bóng trong đó, th́ toàn bộ ṿng luân hồi cũng không c̣n tồn tại trong đó nữa, kể cả toàn bộ phiền năo luân, do một điều duy nhất đó là chẳng c̣n nhân tố nào có thể tạo ra được các nghiệp luân và dị thục nữa. Điều c̣n lại cũng chính xác có cùng một phương cách như ta đă khẳng định ở trên. Việc diễn giải Kinh Phật thứ hai kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Ce Be Se giải thích là tañ hi te Māgandiya (Be Māgaṇḍiya) ariyaṃ paññācakkhu ’atthi yena tvaṃ ārogyaṃ jāneyyāsi nibbānam pi passeyyāsi c̣n bản văn ghi là M taṃ hi te Māgandiya ariyaṃ cakkhuṃ ’ atthi yena tvaṃ ariyena cakkhunā ārogyaṃ jāneyyāsi nibbānaṃ passeyyāsi. Chẳng có bất kỳ vll nào được ghi lại trong Trung Bộ Kinh (M), cho dù có sự thống nhất hoàn toàn của các tập chú giải Ce Be Se. [2]. Ngài Woodward đă chú giải sai là “ Trung Bộ Kinh (M) ii 510” [3]. Chú giải Be Trung Bộ Kinh (M) giải thích là duddasaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là sududdasaṃ. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anataṃ nibbānan ti attho c̣n bản văn ghi anataṃ. [5]. Anirodhaṃ; chú giải Ce Be giải thích là nirodhaṃ, là diệt. Tuy nhiên níp bàn tạo thành diệt khởi sanh, nhưng anirodhaṃ (bất diệt) có lẽ lại tạo ra ở đây một chú giải tốt hơn về anantaṃ (vô tận). [6]. Ce Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn giải thích anataṃ. [7]. Bhāvitattā; hay có nghĩa là lan tỏa khắp, toả hương thơm, v.v… ư nghĩa của từ bhāvita này không thấy liệt kê trong tự điển PED, nhưng xin đọc chú giải Childers và SED sv. [8]. Be Se giải thích là saccaṃ c̣n bản văn Ce ghi là saccan ti gaṇhi. [9]. Chú giải Be giải thích là na hi taṃ (Se taṃ na hi) c̣n bản văn Ce ghi là na hi. [10]. Đây là lời giới thiệu liên quan đến việc do dự không hiểu ngài có nên diễn giải Phật Pháp hay không ngay sau khi chứng đắc giác ngộ. [11]. Se giải thích là tañ ce ( Ce Be tañ ca); c̣n bản văn lại bỏ qua. [12]. Ce Be Se giải thích paṭividdhaṃ c̣n bản văn ghi là paṭividdhāni. [13]. Bản văn chèn thêm paṭividdhā taṇhā ti. Evañ ca yaṃ cattāri saccāni; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [14]. Ārammaṇapaṭivedhena asammohappaṭivedhena; CPD lại không ghi từ mục nào cho cả hai từ quan trọng này, đoạn văn này xem ra có vẻ tối nghĩa, đặc biệt thực tế là visayato h́nh như không ăn nhập vào đâu cả- như đă xuất hiện ở đây với hai từ kiccato và ārammaṇato. Ngài Bhikkhu Bodhi cho đó là đối tượng thấu triệt (ārammaṇapaṭivedha) áp dụng với tâm thánh đạo siêu thế cũng như lấy Níp bàn làm đối tượng và chân đế thứ ba (diệt = níp bàn) được coi như là chủ từ; ngược lại ba chân đế khác được coi như là chủ từ cho kiccapaṭivedha, v́ tâm thánh đạo thực hiện nhiệm vụ (đă được đưa ra trong chú giải chú thích trong Ud-a 68 ở trên) liên quan đến thánh đạo này, nhưng lại không khiến thành đối tượng được. Mặt khác asammohapaṭivedha áp dụng với toàn bộ tứ chân đế, v́ thánh đạo liên quan đến thắng trí (abhiññā) của từng chân đế, chính v́ thế đẩy lùi được lẫn lộn đang che dấu các chân đế này, tuy nhiên ái dục ở đây được nhận ra với chân đế thứ hai trong số tứ chân đế.
|
|