NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG TÁM

DÂN LÀNG ALI

1. Nibbāna (1) (Níp bàn)

[388] Kinh Phật đầu tiên trong chương nói về dân làng Pāali: điều đó có tương quan đến Níp-bàn (nibbānapaisayuttāya): điều đó cũng có cơ sở (xứ) dựa trên giới (yếu tố) bất tử, được tiến hành bằng cách làm rơ các giới (yếu tố) vô vi. Cùng với bài diễn giải Phật Pháp (dhammiyā kathāya): với lời diễn giải Phật Pháp. Làm rơ[1] (sandasseti): làm rơ níp-bàn phù hợp với đặc tính nơi chính bản chất và nhiệm vu[2] của níp bàn. Giúp họ tiếp tục (samādapeti): giúp cho các vị Tỳ khưu đó chấp nhận cùng mục tiêu đó. Khiến họ trở nên nhạy bén (samuttejeti): khuyến khích họ[3], thôi thúc họ[4], bằng cách tạo cho họ cố gắng nỗ lực liên quan đến việc chấp nhận mục tiêu đó. Khiến họ trở nên sôi nổi nhiệt t́nh (sampahaṃseti): khiến cho họ hỷ lạc đúng mức bằng mọi cách với những ân đức tuyệt hảo liên kết với níp-bàn, hay nói cách khác, làm rơ: sandasseti = sammā dasseti (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài nơi dạng[5] ngữ pháp khác) (níp-bàn) cho phù hợp với một số[6] đặc tính riêng nơi mỗi người (sử dụng) cách này cách khác, từ đồng nghĩa bằng mọi cách có thể theo phương pháp được bắt đầu như sau, “đây chính là cách làm dịu đi toàn bộ các hành, là cách loại bỏ toàn bộ sanh y[7], là diệt trừ mọi ái, làm ly tham[8], khiến (tịch) diệt.” (D ii 36[9]) v.v…Khiến cho họ tiếp tục: samādapeti = sammā ādapeti[10] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài bằng một dạng ngữ pháp khác), khiến cho họ chấp nhận (níp bàn), cùng với những việc tu luyện liên kết với chính chứng đắc đem lại, tức là “ta phải chứng đắc níp bàn thông qua thánh đạo này” bằng cách khiến cho các vị Tỳ khưu đó nghiêng về, nhắm tới, thiên về (níp bàn). Khiến cho họ trở nên nhạy bén (samuttejeti): khiến cho họ trở nên tinh tấn đạt được níp bàn, cho dù có khó khăn cách mấy mới thực hiện và hoàn thành được nói rằng, “đừng bao giờ để cho dễ duôi, hay thực hiện công việc tu luyện chánh đáng này một cách gián đọan;  điều này không hề khó khăn chút nào đối với những ai đă được đầy đủ với tiềm năng tinh tấn cao, chính v́ thế các ngươi phải tự nổ lực lên, hăy tự thực hành và tu luyện tiến tŕnh thanh tịnh[11] cho chính ḿnh trước tiên là khởi đầu với thanh tịnh giới – hay nói cách khác (ư nghĩa ở đây là) thanh tịnh tâm thuộc lănh vực đó.[12] Khiến họ trở nên sôi nổi nhiệt t́nh (sampahaṃseti): khiến cho họ trở nên sôi nổi nhiệt t́nh, động viên họ[13], đem lại hỷ lạc cho họ, khiến cho tâm họ mê ly say đắm[14] bằng cách khiến tâm các vị Tỳ khưu đó thể hiện cho được những lợi thế do níp bàn đem lại bằng cách sử dụng vô vàn vô số những ǵ đồng nghĩa với níp-bàn, như thể (níp bàn) chính là “từ bỏ ngă mạn, diệt trừ ái dục, tận diệt tận gốc rễ mọi nơi nương tựa” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 34[15] (và toàn bộ những điều bao gồm nơi hàng loạt các Kinh Phật trong đó đề cập đến) “Pháp vô vi” (S iv 359tt) “bất tử” (S iv 370), (và) “b́nh an” (S iv 370) v.v… (toàn bộ những điều trên đều được định nghĩa rơ ràng bằng các từ) “diệt trừ tham dục, diệt trừ sân hận, diệt trừ si mê”[16] [389] Các (vị Tỳ khưu) đang bàn tới: tedha = te idha[17] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Đang chọn (níp bàn) trở thành mục tiêu cho ḿnh (aṭṭhi katvā): với kết quả do việc diễn giải đó mang lại, họ đă trở thành những người chọn lấy (níp bàn) làm mục tiêu cho chính ḿnh (atthikā hutvā) sau khi đă tác ư đến việc hiện hữu nơi những ǵ đă trở thành mục tiêu ḿnh phải đạt đến bằng cách thực hiện những việc nói trên.[18] Tác ư  đến (mục tiêu đó) (manasikatvā): gắn kết tâm của ḿnh vào đó. Khiến giáo lư đó trở thành điều tâm của ḿnh là điều duy nhất được hướng tới và từ bỏ toàn bộ những ǵ khác. Tập trung toàn bộ tâm vào đó (sabba cetaso samannāharitvā):  chú ư tới[19] giáo lư đó, với toàn bộ tâm tinh tấn, từ lúc khởi đầu cho đến khi đạt đến đỉnh cao, có nghĩa là chỉ điều đó là điều duy nhất ta đang quan tâm, hay nói cách khác, tập trung hết tâm của ḿnh vào việc ấy, (sabbaṃ cetaso samannāharitvā): với toàn tâm toàn lực thực hành một cách thích hợp và thành công (sammā anu anu āharitvā) giáo lư đó; đây chính là điều ngài đă nói đến: “nhớ lại một cách thích hợp, rơ ràng và thành công giáo lư đó như đă diễn ra nơi toàn bộ tâm của ḿnh, kết quả là cùng thứ giáo lư đó đă ảnh hưởng, và không cho phép tư duy đó đi trệch ra ngoài[20], luôn đem tư duy đó quay trở lại[21] với chính ḍng hữu phần tâm của nó, cân nhắc kỹ lưỡng giáo lư đó làm sao cho phù hợp với cách thức giáo lư đó đă được diễn giải[22] một cách đa dạng. Với lỗ tai chăm chú: ohitasotā = avahitasotā (một dạng ngữ pháp khác), với lỗ tai đặc biệt sẵn sàng,[23] hay nói cách khác ohitasotā chính là avikkhittasotā (với lỗ tai không lo ra);  do không tồn tại bất kỳ nỗi lo nào một khi có điều ǵ liên quan đến việc lắng nghe Phật Pháp đó, ngay cả khi giáo lư đó giúp khám phá[24] cùng một (Phật Pháp) đă được nghe trước đó, cũng bảo đảm chỉ lên tiếng[25] trong trường hợp nhĩ xứ cho phép, như thể việc thu thúc chánh niệm trong trường hợp nhăn xứ diễn ra v.v…[26] và liên quan đến vấn đề này, thông qua bốn câu đề cập đến “với chú ư lắng nghe”[27]v.v…ngài cũng muốn làm rơ thông qua việc giải thích mối quan tâm của ngài đối với nhĩ thức thực tế là những vị Tỳ khưu đó quả thật đă trở thành những người lắng nghe (Phật Pháp) rất cẩn thận, bằng cách đă tập trung vào (Phật Pháp) toàn bộ tâm[28] của ḿnh.

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định dưới mọi góc cạnh việc tạo[29] ra mối quan tâm này, về phía những vị Tỳ khưu đó, đối với hành vi lắng nghe[30] trong trường hợp cuộc diễn giải Phật Pháp đó có liên quan đến níp bàn. Đối với Phật Tự Thuyết này (ima udāna): khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ thực chất níp bàn là nơi ư nghĩa cao nhất, tồn tại thông qua diễn giải Phật Pháp dưới dạng một hợp đề (tổng luận) về điều đó.[31] Về điểm này:

Đă tồn tại (atthi): ta thấy tồn tại, ư nghĩa ở đây là đă được khám phá hiểu theo nghĩa cao nhất. Các vị Tỳ khưu (bhikkhave) chính là việc nói đến các vị Tỳ khưu đó. Tuy nhiên chắc chắn rằng những ǵ đă được đề cập đến trong Phật Tự Thuyết này, cho dù có phải là điều tạo ra động tâm (shock) về Phật Pháp, đó chỉ là một lời công bố (loan báo) được thực hiện bất chấp (liệu có xuất hiện bất kỳ người nào lănh hội Phật Pháp này hiện diện hay chăng, và cũng chỉ trong trường hợp như vậy mà Phật Tự Thuyết này được truyền lại trong suốt toàn bộ Kinh Phật, chúng ta[32] biết đến cho đến ngày hôm nay – chính v́ thế tại sao trong trường hợp này khi khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này Đức Phật đă nói với các vị Tỳ khưu? với mục đích tạo sự tác ư nơi họ; v́ chính với niềm vui và tâm phỉ lạc nổi lên trong lúc chúng ta niệm tưởng về những ân đức liên kết với níp bàn đối với những vị Tỳ khưu đó đă khiến khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này. [390] Trong tập giáo lư này[33], mọi sự chỉ trừ níp bàn[34], đă được khám phá với chính bản chất đích thực là điều đă được chính sinh mệnh ngẫu nhiên dựa trên những nguyên nhân, không phải người nào đó (có sinh mệnh) bất chấp đến các điều kiện; ta nên hiểu rằng thông qua trí việc phản khán tâm về phía các vị Tỳ khưu đó, tức là “nhưng trong đó (rất nhiều nguyên nhân đa dạng) lại chính là giáo lư về níp bàn đă được khám phá và chính v́ ước ao tạo ra cho họ nhận thức được điều này cho chính ḿnh mà ngài đă phán “hỡi các vị Tỳ khưu, đă có xứ đó.”v.v… hơn là chỉ đối xử với họ giống như những người chỉ thụ động về điều đó. Xứ đó (tadāyatana): nguyên nhân đó tạo ra[35] (kāraa); nguyên âm da tạo ra liên kết êm tai giữa các từ đó, v́ níp bàn được nói đến với tư cách là xứ (điều kiện) hiểu theo nghĩa một nguyên nhân có liên quan đến việc níp bàn trở thành nguyên nhân đối tượng cho trí liên kết với thánh đạo và các thánh quả do thánh đạo này đem lại. v.v… chính v́ các cảnh sắc đó v.v… đă tạo ra những đối tượng nguyên nhân cho nhăn thức v.v…và như vậy chính Đức Phật đă khiến cho các vị Tỳ khưu này biết sự hiện hữu nơi giới vô vi, hiểu theo nghĩa cao nhất, đây chính là mối tương quan[36] tích cực liên quan đến Phật Pháp trong trường hợp hiện nay; v́ các pháp hữu vi cũng được thấy hiện hữu tồn tại ở đó, cũng phải có vô vi mà thôi; liên quan đến những nguyên nhân này luôn đối nghịch lại với các pháp có bản chất[37] của ḿnh;  chính v́ một khi đau khổ tồn tại, th́ hạnh phúc là nhân tố tạo thành đối nghịch với đau khổ cũng xuất hiện ở đó, chính v́ thế cũng giống vậy, khi ta thấy nóng bức th́ lập tức cũng có khí lạnh tồn tại; khi các pháp bất thiện nổi lên, th́ lập tức các pháp thiện cũng có mặt. Chính v́ thế có lời nói rằng:

“Chính khi ta thấy đau khổ xuất hiện, điều ta cho đó là hạnh phúc cũng xuất hiện như vậy, khi ta thấy xuất hiện hữu th́ phi hữu cũng là điều ta hằng mong muốn.

Chính khi ta thấy trời nóng xuất hiện th́ thêm vào đó khí lạnh cũng hiện hữu, chính v́ thế khi ta thấy xuất hiện tam hoả ngục[38] th́ níp bàn cũng là điều ta hằng mong ước.

Cũng chính như vậy, khi ta thấy điều bất thiện xuất hiện th́ ta cũng thấy những điều đáng yêu ló dạng cũng chính v́ vậy, khi ta biết được hữu th́ phi hữu cũng là điều ta hằng mong ước[39]( Bản văn ii 10-12[40])

Hơn thế nữa[41], việc khám phá ra[42] hiện hữu, theo nghĩa tuyệt đối, th́ việc khám phá ra níp bàn cũng sẽ xuất hiện sau đó.[43] Sau khi làm rơ điều này, đối diện với hiện hữu nơi giới vô vi theo nghĩa tuyệt đối, Đức Phật nói tiếp như sau: “nơi nào lại chẳng có đất, lại chẳng có nước” v.v…để chỉ rơ chính bản chất các pháp bằng cách loại dần các pháp[44] mang tính phản đề. Về điểm này:

Chính v́ níp bàn chẳng thấy xuất hiện nơi những pháp hữu vi (saṅkhata), v́ tự bản chất níp bàn là điều đối nghịch lại với toàn bộ các hành (sakhāra), chính v́ thế các pháp hữu vi cũng chẳng được t́m thấy ở đó bao giờ[45] v́ tập hợp các pháp hữu vi và vô vi đều không ai có thể chứng kiến bao giờ [391] Đây chính là cách giải thích hiểu theo nghĩa hiện hành; nơi nào, trong đó có níp bàn, trong đó có giới vô vi, th́ chẳng có địa đại hiện hữu có đặc tính cứng rắn[46] chẳng có thuỷ đại[47] mang đặc tính rỉ ra, cũng chẳng có hoả đại mang đặc tính khí nóng, cũng chẳng có phong đại mang đặc tính phồng lên; chính v́ thế qua những ǵ ta cho rằng tứ đại không hiện hữu trong đó. Việc thiếu vắng toàn bộ những sắc y sinh[48] cũng được đề cập đến, liên quan đến việc lệ thuộc trong đó, chính v́ thế ta cũng đề cập đến những ǵ thiếu vắng trong đó không bỏ qua bất kỳ điều ǵ, đối với bất kỳ hữu[49] nào liên kết với cơi dục giới và cơi sắc giới liên quan đến việc xuất hiện của bất kỳ hữu nào là phụ thuộc vào đó, v́ chẳng có ngũ uẩn thủ hay nhất uẩn hữu nào[50] có thể được tạo ra mà thiếu lệ thuộc vào tứ đại này; ngay cả khi chính bản chất của nó lại mang đặc tính thiếu vắng sắc giới[51], ngài c̣n nói tiếp, chính v́ thế để làm rơ việc thiếu vắng nơi níp bàn bất kỳ pháp nào thuộc các trạng thái hữu nơi cơi vô sắc hữu “chẳng phải xứ[52] đó tạo thành cơi không vô biên xứ đâu… cũng chẳng có xứ nào tạo ra cơi phi tưởng phi phi tưởng cả” Về điểm này:

Xứ đó cũng chẳng bao gồm không vô biên xứ (na ākāsānañcāyatana) có nghĩa là chẳng diễn ra tâm khởi sanh cùng với đối tượng của nó, liên kết với xứ bao gồm không vô biên xứ. (tâm khởi sanh đó) lại có ba loại bằng cách phân loại thành những ǵ là thiện những ǵ do kết quả mang lại và những ǵ do tố; đây cũng chính là phương pháp liên quan đến điều c̣n lại, và v́  ở bất kỳ điểm nào bên trong níp bàn lại thiếu vắng các cơi dục giới và v.v… cũng chính tại điểm đó cũng[53] như nơi kiếp này và cả kiếp sau; chính v́ thế ngài nói rằng “chẳng phải ở cơi đời này, cũng như ở cơi đời sau”; đây chính là ư nghĩa, trong đó cũng thiếu vắng cả hai cơi này, tức là cơi các uẩn[54] đó có được danh xưng này; cơi đời này thuộc về các chúng sanh hữu h́nh, các đặc tính công việc này” và cơi các uẩn có được danh xưng này “pháp tương lai, khác với[55] điều ǵ tiếp theo sau đó”. Chẳng phải cả mặt trăng cũng như mặt trời. (na ubho candimasuriyā): có nghĩa là[56] v́ ta có thể nói đến bóng tối ảm đạm và sự cần thiết lan tỏa của bóng tối đó do mặt trời và mặt trăng duy tŕ chỉ khi nào có điều ǵ đó được h́nh thành,[57] chính v́ thế do đâu bóng tối hay mặt trời và mặt trăng tỏa[58] sáng trong bóng tối đó, trong đó chẳng có điều ǵ được h́nh thành[59] chính v́ thế chỉ có trong đó, chỉ có trong níp bàn đó, chẳng có ǵ hết[60] tức là chẳng có mặt trời cũng chẳng có mặt trăng; theo cách này ngài làm rơ một thực tế về níp bàn có bản chất riêng của nó đó là ánh sáng[61], và vị Tướng quân chánh pháp đang giải thích cho các vị Tỳ khưu đó chưa [62] đạt được pháp quán triệt tuyệt đối, điều vô cùng khó khăn để nhận ra được, một điều khó hiểu và tinh tế[63], đó là níp bàn bất tử; điều đó vượt quá cơi suy luận, nơi an tịnh tuyệt đối, chỉ những người trí[64] mới có khả năng cảm nghiệm được, lại vô cùng tuyệt tác,  mà trước đó họ chưa một lần nào cảm nghiệm được, ngay cả trong mơ bên trong ṿng luân hồi vô thủy vô chung, chính v́ thế trước tiên ngài đă phải đẩy lùi pháp thiếu trí nơi ngài [65] như đang hiện hữu[66] nói rằng, “hỡi các vị Tỳ khưu, quả đă có xứ này xuất hiện”, [392] đoạn ngài giải thích rằng (cùng níp bàn đó) bằng cách loại bỏ các pháp khác hơn điều đó[67] nói rằng “trong đó chẳng có đấchẳng có mặt trời và mặt trăng”, bởi vậy [68] ngài đă làm rơ một thực chất đó là điều thuộc giới vô vi, có bản chất riêng chính là phản đề với toàn bộ các pháp vô vi, như thể trái đất v.v…đó chính là níp bàn, chính v́ lư do đó ngài nói tiếp, “cũng v́ vậy hỡi các vị Tỳ khưu, ta[69] chưa đề cập đến điều chưa xảy ra.” (v.v…) Về điểm này:

Nơi đó (tatra): trong đó (tasmiṃ). Từ api (cũng vậy) được hiểu theo nghĩa liên kết. Hỡi các vị Tỳ khưu, chính v́[70] nơi các hành xuất hiện, mà ta không đề cập đến bất kỳ điều ǵ xuất phát từ bất kỳ điều ǵ, liên quan đến trong thực tế đây chỉ là việc xuất hiện trong đó gồm các pháp phù hợp với chính các nguyên nhân mà thôi,[71] chính v́ thế trong xứ cũng như vậy trong níp bàn nữa. Tôi không đề cập đến hoặc là đến (āgati = āgamana, một dạng ngữ pháp khác) xuất phát từ bất kỳ nơi nào, liên quan đến không c̣n nơi nào để tới[72]. Hay ra đi (na gatiṃ): ta không nói đến ra đi (gamanaṃ, hay một dạng ngữ pháp khác) bất kỳ nơi nào, liên quan đến việc không c̣n nơi nào để tới, v́ trong đó, ngoại trừ có trí khiến điều ǵ đó làm đối tượng, chẳng c̣n có thể chứng kiến bất kỳ điều ǵ tới hay ra đi về phía chúng sanh[73]; tôi cũng không nói đến (api) điều tồn tại, diệt và sanh. Trong Kinh Pāli cũng có từ tadāpaha [74] (cả tôi nữa) đây là ư nghĩa của từ đó: cả xứ đó nữa cũng không tới, liên quan đến vấn đề đó chẳng phải là điều ǵ đó có thể tới, không giống như ngôi làng này khác với ngôi làng khác[75] hay ra đi, liên quan đến điều ǵ đó không thể tới được[76] (không giống như ngôi làng này với ngôi làng khác) hay một điều c̣n sót lại, liên quan đến đặc tính không sở hữu, không giống như trái đất và một ngọn núi v.v…bất kỳ mặt đất cứng cáp nào; hay nói cách khác (xứ đó) tồn tại, liên quan đến đặc tính vô vi, không có sanh, do đó liên quan đến đặc tính bất tử được coi là bản chất riêng, chính là một người không diệt cũng liên quan đến cả hai vừa tồn tại, điều đó buộc cả hai[77] tôi không nói tới điều c̣n lại hay diệt, hay sanh; hơn thế nữa, toàn bộ níp bàn, được nói tới là “xứ”, lại không có nền tảng v́ chẳng có thể t́m thấy ở bất kỳ nơi nào cả, liên quan đến đặc tính phi sắc của nó, và[78] liên quan đến một thực tế là nó không có nguyên nhân, không diễn ra[79] liên quan đến việc thiếu vắng diễn ra[80] trong đó và liên quan đến đặc tính đối lại với diễn ra, trong khi đó, mặc dù bản chất phi sắc, điều này không giống cảm thọ v.v… (cũng là phi sắc nhưng lại có đối tượng) H́nh như không có đối tượng (anārammaa), liên quan, không liên quan đến đặc tính thể hiện cụ thể (anālambanato) thuộc bất kỳ đối tượng nào (ārammaassa) và liên quan bất kỳ đến sự tồn tại không kể đến bất kỳ việc hổ trợ nào[81], và từ eva này, tức là cho dù vô sở duyên, cho dù ít xảy ra. Đây chính là kết thúc đau khổ     (’anto dukkhassa): điều này – ư muốn nói, níp bàn với những đặc tính đă nói đến ở trên đă được khen ngợi, tán dương, với những câu “vô sở duyên” v.v… chỉ có điều này mới là mục tiêu, là tột đỉnh, của toàn bộ đau khổ thuộc ṿng luân hồi, liên quan đến t́nh trạng thiếu vắng đau khổ khi ta chứng đắc níp bàn đó; chính v́ thế ngài cũng làm rơ cùng thứ níp bàn đó, tức là “kết thúc đau khổ” mới chính là bản chất của níp bàn đó.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ nhất kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Xin đọc chú giải Ud-a 242, 361 ở trên.

[2]. Sabhāvasarasalakkhaato; hay phù hợp với chính bản chất, nhiệm vụ và trạng thái của từng sự vật, tuy nhiên cách giải thích được chấp nhận h́nh như đă xác định bằng những ǵ đă diễn ra trong Ud-a 129 ở trên. xin cũng đọc thêm Asl 63, 71 về một số mối liên kết giữa các từ sabhāva, sarasa, rasalakkhaṇa.

[3]. Tejeti; nghĩa đen giải thích là, làm cho sắc bén.

[4]. Joteti; theo nghĩa đen là, làm cho nóng bừng lên (do kích động) hay ḷng nhiệt t́nh.

[5]. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud–a 242 ở trên, nguyên tắc này cũng được áp dụng ở đây.

[6]Ce Be Se giải thích tesaṃ tesaṃ c̣n  bản văn giải thích là tesaṃ.

[7]. Xin đọc chú giải Ud-a 151, 314 ở trên.

[8].  Virāgo; được định nghĩa trong Thanh Tịnh Đạo 293.

[9]. Chú giải Be đưa ra tham khảo thay v́ “ Trung Bộ Kinh (M) i 224 = ii 291 = Vin iii 7” (Tuy nhiên, toàn bộ những tham khảo này đều t́m thấy trong các ấn bản tiếng Miến trong các bản văn đó).

[10].  Be Se cũng giải thích như vậy bản văn Ce giải thích samādapeti.

[11]. Có nghĩa là qui tŕnh thanh tịnh được phác thảo trong Thanh Tịnh Đạo. 

[12]. Rất có thể theo cách đă được khẳng định trong Ud-a 361.

[13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là samassāseti c̣n bản văn ghi là sammassāseti; từ này không thấyliệt kê trong tự điển PED.

[14]. Ce Be Se giải thích là hāsento c̣n bản văn ghi là hasento.

[15]. Được trích trong Thanh Tịnh Đạo 293, được coi như là những định nghĩa; ngài Woodward lại  in sai đoạn “ Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 34”. Xin cũng đọc thêm chú giải Ud-a  151 ở trên.

[16]. Rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo ti asakhatan ti amata santan ti  (chú giải Be ghi là amatañ ca santan ti);  chú giải Be cũng đưa ra cùng một tham khảo trong (S iii 535 (Be)) c̣n đối với đoạn rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo asaṅkhataṃ và đoạn trong (S iii 543 (Be)” c̣n đoạn amatañ ca santaṃ, như vậy h́nh như đoạn này được xử lư theo ba trích đoạn khác nhau. Tuy nhiên h́nh như Dhammapāla ở đây đang nói bóng gió đến một số Kinh Phật tạo thành Kinh Asaṅkhatasaṃyuttaṃ (S iv 359- 373) trong đó từ asaṅkhataṃ (là vô vi), amataṃ (là bất tử) và santaṃ (an tịnh) tất cả đều được định nghĩa bằng các từ rāgakkhayo dosakkhayo mohakkhayo (việc diệt trừ ái dục, diệt trừ sân hận, diệt trừ si mê) và chính v́ thế tôi đề nghị cách giải thích asaṅkhatan ti amatan ti santan ti ( hay là asaṅkhatan ti amatañ cā ti santañ cā ti v́ hai nhóm kinh sau đều mở đầu tuần tự với amatañ ca và santañ ca) ta cũng phải lưu ư rằng, theo cách giản lược trong ấn bản PS, th́ thứ tự của hai nhóm kinh sau có thể thay đổi thứ tự với nhau.

[17]. Chú giải Be giải thích là tedhāti te idha c̣n bản văn Ce Se giải thích là te ca bhikkhū.

[18]. Ce Be Se giải thích là ‘atthi kiñci ayaṃ no attho ’ c̣n bản văn ghi là adhikicca: ‘ayaṃ no attho adhigantabbo”. Xin đọc  chú giải SA i 177 để biết thêm chi tiết tương tự, trong đó giải thích là aṭṭhika katvā thay v́ atthi kiñci và trong đó ngài Woodward lại chú thích là “xin đọc UdA 389 lại giải thích là adhikicca” (thực hiện điều này là v́ ngài Woodward đă chọn loại bỏ cách giải thích atthi kiñci, chính ngài cũng đă mở đầu như vậy)

[19].  Ce Be giải thích āvajjetvā c̣n bản văn Se giải thích là āvajjitvā.

[20]. Bahigantuṃ adento; xin đọc SA ii 198: cittassa thokam pi bahigantuṃ adento.

[21]. Ānetvā; Be āharitvā.

[22].  Chú giải Ce Be Se giải thích là desitadesitaṃ desanaṃ c̣n bản văn ghi là dassitaṃ desitadesanaṃ.

[23]. Suṭṭhu hapitasotā; ohitasota và ṭhapitasota  cả hai đều có nghĩa là “với tai ghé xuống” ngược lại rất có thể người Anh nói rằng “hai tai vễnh lên”.

[24].  Chú giải Be Se giải thích là upalabbhamāno (thụ động cách) c̣n bản văn Ce ghi là upalabhamāno.

[25].  Chú giải Be giải thích là vattum arahati c̣n bản văn Ce Se ghi là vattabbataṃ arahati.

[26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là cakkhundriyādīsu c̣n bản văn ghi là cakkhundriyādīni.

[27]. Nguyên bản giải thích là aṭṭhiṃ katvā (coi đó là mục tiêu), nhưng thứ tự các từ có khác trong bản dịch.

[28]. Tapparabhāvato; xin đọc chú giải tiếng Phạn là tatpara, coi đó là ưu tiên số một, v.v…

[29]. Kārita; theo nghĩa đen, sản xuất ra, cũng như sản sanh ra, thường được diễn tả bằng từ ādarajanana, như trong Ud-a 173 ở trên. Nhưng trong đó h́nh như có cùng một ư nghĩa như đă được ngầm hiểu ở đây.

[30]. Savane; hay là cái tai.

[31]. Tabbidhura; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 93 ở trên. Ở đây h́nh như muốn ám chỉ níp bàn được giải thích bằng những từ không thấy có trong đó.

[32]. Ettakesu suttesu.

[33]. Idha; hay là ở th́ hiện tại.

[34]. Nibbānavajjo; ư nghĩa từ vajja  không dễ ǵ xác định được từ những từ mục trong tự điển Childers và PED, nhưng xin đọc chú giải SED sv varja.

[35]. Xin đọc chú giải DA 124. Asl 140tt để biết thêm nhiều ư nghĩa đa dạng về từ āyatana.

[36]. Chú giải Be giải thích là dhammanvayo c̣n bản văn Ce Se ghi là dhammanayo.

[37]. Chú giải Se giải thích là sappaipakkhattā c̣n bản văn Ce ghi là  paipakkhattā,  chú giải Be giải thích là tappaipakkhattā.

[38]. Chú giải Ce Be Se Bản văn giải thích là tividhaggi c̣n bản văn ghi là eva jāti.

[39].  Chú giải Ce Be giải thích là ajātim api icchitabbakan ti (chú giải  Bản văn giải thích là ajātim ’ icchitabbaka) c̣n bản văn ghi là ajāti ’ icchitabbakā ti, chú giải Se giải thích là ajāti icchitabbakā ti.

[40]. Chú giải Bản văn (Ee) cũng giải thích giống như vậy; trong bản dịch của cô Horner cũng giải thích như vậy (Minor Anthologies III, p 10),  điều này thấy xuất hiện trong những đoạn kệ 11-13,  khi họ làm ở CSM 104, ngoại trừ đối với thực tế đoạn kệ đó 13 đă bị bỏ sót. Điều đó cũng có thể ghi nhận rằng CPD sv ajāti cho biết sự khác biệt hiện tại như trong  “Ud-a 493”

[41]. Chú giải Ce Se giải thích là Api ca c̣n bản văn ghi là ādim āha. Api ca, Be ādi. Api ca.

[42].  Chú giải Ce Be giải thích là ovicāraa (Se ovicāraā) c̣n bản văn ghi là vivaraṇaṃ, là bỏ khăn che mặt.

[43]. Rất có thể đây là một tham khảo tập chú giải VIII 3 dưới đây (Ud-a 394tt)

[44]. Chú giải Be giải thích là odhammāpohanao; c̣n bản văn Se ghi là odhammavosānao Ce odhammāmohao  apohana cũng có nghĩa là loại bỏ, vứt bỏ, coi nhẹ coi thường.v.v...

[45].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tathā tattha pi c̣n bản văn ghi là tathā’atthi pi. 

[46].  Xin đọc chú giải Ud-a 129  ở trên về những trạng thái đa dạng.

[47]. Bản văn chèn thêm atthi; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[48]. Xin đọc chú giải Ud-a 190 ở trên.

[49]. Bhava; bản văn đă in sai thành bhāva từ đầu đến cuối.

[50]. Xin đọc chú giải Ud-a 98 ở trên.

[51]. Arūpasabhāvatte pi; hay ngay cả cho dù chính bản chất chúng là phi sắc, điểm muốn nhấn mạnh ở đây h́nh như là cho dù níp bàn có trạng thái là không thuộc sắc, tuy nhiên níp bàn lại chẳng có bất kỳ trạng thái nào liên kết với các cơi thuộc cơi vô sắc giới, chính bản chất của cơi này lại có trạng thái tương tự như cơi vô sắc giới/ phi sắc. CPD không có từ mục nào là arūpasabhāva cả, cho dù đặc tính quan trọng của từ này th́ đă quá rơ ràng. xin đọc chú giải Ud-a 392 dưới đây.

[52]. Trên xứ này, xin đọc chú giải Asl 205 và Thanh Tịnh Đạo 331, 335. khẳng định rằng đây chính là một xứ (āyatana) hiểu theo nghĩa adhiṭṭhāna (Ngài Pe Maung Tin cũng cho là (Pp 382) như là một “trú xứ” và Ñāamoli lại cho đó là một “ngôi nhà” như trong Ppn 360 nhưng cũng c̣n là “xứ”(sở duyên) như trong Ppn 364.

[53].  Chú giải Be giải thích là oparalokānam pi c̣n bản văn Ce Se ghi là oparalokānañ ca.

[54]. Chú giải Be lại thêm “v.v…”cả ở đây lẫn ở dưới nữa. 

[55]. Ce Be Se giải thích là aññathā c̣n bản văn ghi là aññattha.  

[56]. Xin đọc chú giải Ud-a 98 ở trên.

[57]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yasmā rūpagate sati tamo nāma siyā c̣n bản văn ghi là yattha rūpabhāve sati tamo siyā.

[58]. Be Se giải thích vidhamanā c̣n bản văn Ce ghi là viddhasakā.

[59]. Ce Be Se giải thích rūpagatam eva c̣n bản văn ghi rūpabhāvo.

[60].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ubho c̣n bản văn ghi là loko.

[61]. Chú giải Ce Be Se giải thích là  ālokasabhāvata yeva c̣n bản văn ghi là ālokasabhāva ’ eva; tuy nhiên cũng cần lưu ư rằng c̣n nhiều loại bản chất được đề ra đây kia trong bản văn này có nghĩa là nibbāna, có nghĩa là thiếu sắc phi sắc như ở trên.

[62]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anabhisametāvīna c̣n bản văn ghi là anabhisametaṃ hi taṃ.

[63]. Saṇhasukhumaṃ; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 341 ở trên.

[64].  Chú giải Ce Se giải thích là paccattavedanīya, có khả năng cảm nghiệm được riêng rẽ từng người một, c̣n bản văn Be ghi là paṇḍitavedanīya, cùng với một số tính ngữ khác trong đoạn này, đă được tồn trữ lại – xin đọc chú giải D i 12; v.v…

[65]. Chú giải Ce Be giải thích là aññāādīni (Se āādīni) c̣n bản văn ghi là aññanādīni.   

[66].  Ce Be Se giải thích là atthibhāvā c̣n bản văn ghi là atthibhāva.