NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. NHỜ THẾ GIAN

[207] Trong Kinh Phật thứ mười: với Phật Nhăn (Buddhacakkhunā):  về điểm này, đây chính là trí được coi như những xu hướng và những khuynh hướng[1] tuỳ miên (nơi chúng sanh) và trí đối với các hiện trạng thượng căn hay hạ căn (trong việc phát triển) các căn (nơi chúng sanh)[2] được biết đến với tên gọi là “Phật Nhăn” phù hợp với điều đó có lời nói rằng:[3] “Và Đức Phật đă nh́n thấy, đang khi quan sát thế gian bằng Phật nhăn, có chúng sanh chỉ có chút ít bụi bặm dính nơi mắt, lại có chúng sanh có nhiều bụi bặm bám vào mắt, với các căn thông minh, với các căn ngu đần.” (Vin I 6 ; S I 138) v.v…Cơi thế gian (lokaṃ): có ba thế gian, tức là hư không thế gian, pháp hành thế gian và chúng sanh thế gian. Về điểm này:

Trong câu“trong[4] phạm vi giới hạn nhờ đó mà mặt trời, mặt trăng quay quanh, tỏa sáng chói ḷa khắp tứ phương, ở mức độ này có hàng ngàn thế giới như vậy. Ở đây sức mạnh của ngài có thể hành xử được.” (Trung Bộ Kinh (M) i 328) v.v…đó chính là hư không thế gian ta đang đề cập đến[5]; trong “một thế giới: toàn bộ chúng sanh sống nhờ vào vật thực; hai thế giới: danh và sắc tồn tại, ba thế giới: có ba cảm thọ (D iii 216), bốn thế giới: có bốn vật thực (D iii 228), năm thế giới: có ngũ thủ uẩn tồn tại (D iii 233), sáu thế giới: có lục nội xứ (D iii 243), bảy thế giới: gồm bảy thức trú (D iii 253), tám thế giới: gồm tám pháp thế gian (D iii 260), chín thế giới: gồm chín hữu t́nh cư (D iii 263), mười thế giới: có thập xứ tồn tại, [6]mười hai thế giới: thập nhị xứ tồn tại[7], mười tám thế giới: thập bát giới [8] tồn tại (Ps i 122) v.v… pháp hành (thế gian); trong khi đó trong “thế gian trường cửu, thế gian không trường tồn”  (Trung Bộ Kinh (M) i 427) v.v… chúng sanh thế gian. Trong trường hợp này cũng vậy, ta nên hiểu đây chính chúng sanh thế gian.

Đây chính là thế gian (thế giới) (loko), được coi là chuyển luân (cakkavāa), đó chính là hư không thế gian, v́ thế gian (thế giới) này có thể quan sát thấy, (lokīyati [9]) nh́n thấy được dưới mọi h́nh thái sống động, các hành cũng là một thế gian (loko) v́ nó có thể bể vụn ra (lujjati),  phân huỷ đi[10], cơi (lokochúng sanh thế gian là như thế v́ trong đó tồn tại những hành vi công đức cũng như hành vị bất thiện, và dị thục từ đó mà ra [11]được quan sát kỹ lưỡng (lokīyati)[12]. Đối với các cơi này, chính là chúng sanh thế gian mà Đức Phật đă tỏ ḷng từ tâm đại bi của ngài, ngài đă quan sát và ước ao giải thoát cho cơi đó khỏi đau khổ do ṿng luân hồi đem lại. Nhưng sau khi đă trải qua bảy ngày quan sát cơi nào vậy? Về bảy ngày đầu tiên trong đó. V́ ngay vào lúc kết thúc canh cuối cùng vào thời điểm tột đỉnh bảy ngày ngồi thiền trong tư thế xếp kiết già, Đức Phật đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm sáng tỏ uy quyền thánh đạo, tức là “Khi đă chắc chắn những pháp đó đă xuất hiện…(giống như) mặt trời khi vẫn c̣n chiếu sáng trên bầu trời.” (Udāna 3) , rồi nghĩ rằng, “Tốt lắm, giờ đây ta đă dừng lại bên bờ níp bàn bên kia, sau khi đă vượt qua được đại bộc lưu ṿng luân hồi[13], bằng chiếc thuyền chính là Giáo Pháp, chính là nơi vô cùng khó khăn mới có thể vượt qua được. Giờ đây ta phải khiến cho thế gian này cũng vượt qua[14] được nữa,” và rồi sau khi đă quan sát cơi thế gian này, tự hỏi xem thế gian này sẽ ra như thế nào. Chính v́ liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng, “Thế rồi [208] sau khi đă trải qua bảy ngày Đức Phật khởi xuất thiền định, quan sát toàn thế gian với Phật nhăn.” Ở điểm này:

Quan sát (volokesi): Nh́n ngắm dưới mọi góc độ, đầu tiên thiết lập bằng chính trí như thể đây là một trái kha lê nặc đặt trong ḷng bàn tay “với vô số tra tấn” v.v…là cách làm rơ các hiện trạng ngài đă quan sát. Với vô vàn vô số tra tấn (anekehi santāpehi): với vô số đau khổ, v́ đau khổ đă được đề cập đến là một kiểu “tra tấn” (santāpo) hiểu theo nghĩa đây là cách tra tấn và áp lực, phù hợp với điều này có lời nói [15] rằng, “Đau khổ có ư nghĩa là áp bức, có nghĩa là tạo thành, có nghĩa là tra tấn, có nghĩa là thay đổi. (Ps i 118. ii 107) và về điều này có vô số các loại đau khổ nội phần v.v…lẫn bằng các tái sanh v.v…[16], v́ lư do đó có lời nói rằng :Với vô vàn vô số cách tra tấn”, chúng sanh đă bị tra tấn, bị áp bức, bị phiền nhiễu bằng đủ loại đau khổ. Với những nhiệt năo: pariḷāhehi = paridāhehi (một dạng ngữ pháp khác). Bị thiêu huỷ hoàn toàn (pariayhamāne [17]). Phải thiêu đốt (ayhamāne) xuyên suốt (samantato) như thể đang bốc cháy trong lửa. Do tham dục bẩm sanh (rāgajehi): được sanh ra[18] qua tham dục. Đây cũng là phương pháp có liên quan đến những ǵ c̣n lại. V́ nơi bất kỳ tham dục liên tục tính nào v.v…đă nổi lên, do liên tục tính đó[19] mà chúng sanh đă bị tấn công, như đang bị thiêu[20] trên giàn hoả táng. Chính v́ lư do đó có lời nói rằng, “Hỡi các vị Tỳ khưu, có ba loại lửa, ngọn lửa tham dục, ngọn lửa sân hận và ngọn lửa si mê” (D iii 217), kết  quả là  những ǵ được nói đến như là các “ phiền năo(kilesā), v́ chúng làm vẩn đục (kilesenti) cả tâm lẫn thân, và nhờ được tiêu huỷ hoàn toàn bằng đốt cháy, Đức Phật chỉ ra cho thấy. Về điểm này là pháp đau khổ (dukkhataṃ) nơi các phiền năo tham dục v.v…là phổ biến (pavatti) và thực chất là chúng sanh đă thoát khỏi bằng cách đó; trong khi đó, qua câu “đang bị tra tấn” ngài chỉ rơ cho thấy pháp đau khổ của chúng sanh phải được cảm nghiệm vào một thời gian nào đó trong tương lai, và thực tế là họ hoàn toàn vẫn c̣n tiếp tục gặp rắc rối bằng cách đó.

V́ Đức Phật, đă ngồi trong tư thế [21] kiết già bất động ngay dưới gốc cây Bồ Đề, trong canh thứ nhất, đă nhớ đến trú xứ tiền kiếp của ngài, vào canh giữa đêm ngài thanh tịnh thiên nhăn của ḿnh, và vào canh cuối cùng ngài đă hướng trí của ngài đến y tương sinh; am hiểu, một khi đă nắm bắt được các hành, sau khi đă thắng tri được đau khổ thuộc về ṿng luân hồi tái sanh, có căn nơi các phiền năo, đến đúng lúc ngài đă mở rộng[22] thiền minh sát. Tuỳ thuộc vào chính sự phù hợp của ngài, thông qua chứng đắc thánh đạo, ngài đă trở thành một người giác ngộ, một người mà các lậu phiền năo đă biến khỏi từ lâu và tiêu diệt. Và rồi ngài đă khiến Phật Tự Thuyết này khởi sanh “xuyên qua muôn vàn tái sanh nơi kiếp luân hồi” (Dhp  153tt), một điều thiết yếu toàn bộ Chư Phật [23], đang khi làm rơ việc tiêu diệt hoàn toàn đau khổ thuộc về kiếp luân hồi. V́ một thực tế là các phiền năo sau khi đă bị đoạn trừ mà không dư sót, ngay sau khi phản khán trí[24]; rồi ngồi thiền suốt bảy ngày trong cùng một oai nghi kiết già, ngài cảm nghiệm được hạnh phúc giải thoát tột đỉnh. Vào đêm thứ bảy ngài đă khiến khởi sanh trong ba canh đêm, ba Phật Tự Thuyết theo cách thức đă nói đến ở trên. Rồi sau đó ngài quan sát đang khi nh́n thấy thế gian bằng Phật Nhăn ngay sau khi Phật tự Thuyết thứ ba khởi sanh, thấy rằng toàn bộ đau khổ thuộc kiếp luân hồi (gây đau khổ cho chúng sanh có gốc là các phiền năo, và chính các phiền năo đó, đau khổ kéo dài thường xuyên (pavattidukkhā) lại có thể tạo thành nguyên nhân cho đau khổ trong tương lai nữa, [209] và chính [25]do các phiền năo này mà chúng sanh đă bị hành hạ và bị thiêu đốt hoàn toàn. Và lư do đó có lời nói rằng: “Và Đức Phật đă nh́n thấy… chúng sanh phải sanh ra trong si mê”.

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): dưới mọi khía cạnh ta thẩm định một thực tại là thế gian đă bị khuất phục[26] do các hành hạ và do nhiệt năo như đă nói đến ở trên. Phật Tự Thuyết này (ima udāna): đă khởi sanh Phật Tự Thuyết vĩ đại này nhằm giải thích vô dư Níp Bàn (phải tịch diệt) khỏi mọi tra tấn và những nhiệt năo. Về điểm này:

Thế gian này đầy rẫy những tra tấn (aya loko santāpajāto): toàn cơi thế gian này được sanh ra trong đau khổ hành hạ (jātasantāpo [27]) không những chỉ do lăo (tuổi già) bệnh (ốm đau) tử (chết) nhưng c̣n do rất nhiều tiêu hoại[28] đa dạng và do những chướng ngại dưới dạng các phiền năo;[29] ư nghĩa ở đây là thế gian bị khuất phục do những đau khổ thân và tâm nổi lên. Do tiếp xúc bao vây  (phassapareto): cũng do cùng những thứ đó đă vây quanh, gây rối, bằng vô vàn vô số ảnh hưởng từ đau khổ đem lại. Hay nói cách khác, bị xúc bao vây (phassapareto): bị khống chế do lục xúc tạo thành những nguyên nhân khiến cho ba hiện trạng đau khổ được coi là hạnh phúc v.v…[30] bị ép buộc do sự xuất hiện những ảnh hưởng trên đối tượng này hay đối tượng nọ thông qua môn này môn nọ. Điều đó cho thấy h́nh như chính ḿnh đă ngă bệnh. (rogaṃ vadati attato): không biết được, như thể chúng thường xuyên xảy ra, hoặc giả bệnh tật được coi như cảm thọ nổi lên qua nguyên nhân cũng lại là xúc, là đau khổ, hay đơn giản là chính ngũ uẩn, điều này nói lên do tưởng, “ta” là bản ngă (attato) thông qua tà kiến thủ nói rằng, “Chính ta là người hạnh phúc, khốn nạn (dukkhito)” họ cũng giải thích là attano (ngă). Đây chính là ư nghĩa của nó khi tiếp xúc với một số hiện tượng đau khổ (dukkhadhammena), thế gian này, không thể chịu đựng được điều đó v́ lư do bản ngă không được phát triển[31], nói đến bệnh tật duy nhất lại thuộc bản ngă (attano), bập bẹ bằng cách nói lên, “A-ha! Đau khổ biết nhường nào! mong rằng đau khổ như vậy chẳng phải là của ta, ngay cả là của chính ta (attano[32])!” v.v… hơn thế nữa, ư nghĩa chính là điều đó không thực hiện nhằm mục đích diệt trừ,  hay nói cách khác, như trong thực tế, không biết đau khổ như đă đề cập đến ở trên, thế gian lại cho là, v́ do tưởng về “cái của tôi” giống như bản ngă (attano [33]) thông qua ái dục chấp thủ, nên đưa ra lời tuyên bố “đây là của ta”. V́ trong bất kỳ cách nào điều đó h́nh thành (yena yena [34]hi maññati): bằng bất kỳ cách nào[35], như thông qua sắc và thọ v.v…đă tạo thành nguyên nhân, hay thông qua bất kỳ[36] cách mô tả tính cách nào, như đặc tính trường cửu của nó v.v… thế gian[37] đang khi nói lên như vậy với bản ngă ngũ uẩn đă tạo thành bệnh tật, hay cũng như vậy đối với ngă được tưởng là như vậy. Do tính tự phụ ngạo mạn[38] về tà kiến, kiêu ngạo và khát ái. Điều đó khác nhiều (tato taṃ hoti aññathā). [210] Ngũ uẩn đó đă tạo thành căn  kiêu mạn, lại khác hơn trạng thái trong đó chính kiêu mạn tự cho là (ngă tồn tại), chỉ [39] đơn giản chẳng phải là ngă mà cũng không thuộc về ngă, ư muốn nói ở đây là, v́ lư do không đủ khả năng thống lănh (bản ngă), lại không thể nào chu tất được cả hiện trạng bản ngă cũng như thuộc bản ngă; hay nói cách khác, hơn thế (tato): ngũ uẩn [40]được quan niệm là vĩnh cửu v.v… là một hiện trạng khác hơn là các uẩn có qui mô chính là kiêu mạn, chỉ đơn giản một trong số các uẩn đó mà chính bản chất của nó lại là vô thường v.v..v́ không thể nào do kiêu mạn mà biến một thực chất trở thành khác được, hay một đặc tướng trở nên khác được. Được trù định khác hơn, gắn kết với hữu (aññathābhāvī bhavasatto [41] ). Chúng sanh thế gian này, được gắn kết với mê muội do bởi hữu [42], với tăng trưởng, hạnh phúc, cho dù nghĩ rằng xuất phát từ kiêu mạn, như ước muốn[43], đă được trù định, thông qua tu luyện không rơ ràng, đối với điều khác hơn thế, được trù định trở thành điều gây phương hại và gây đau khổ, không khớp với bất kỳ sầu khổ nào khác. Thế gian chỉ đơn giản hoan hỷ trong hữu (bhavam ’ ābhinandati): ngay cả có như vậy đi nữa, thế gian này chỉ đơn giản hân hoan, đơn giản mong đợi, phi hiện hữu[44] phát triển, được cho là (tồn tại) thông qua kiêu mạn. Hay nói cách khác, mang bản chất điều ǵ khác hơn hẳn (aññathābhāvī) nghĩa là có được do chính sự đồng ư một bản chất khác hơn trạng thái hiện có, qua kiêu mạn, được coi như [45](của chính ḿnh) qua tà kiến “ bản ngă là vĩnh cửu.” v.v…(nghĩa là) điều mang tính chất vô thường và không bền vững. Gắn kết với hữu (bhavasatto): gắn bó với, dính kết với, gắn chặt vào[46] hữu nơi cơi dục giới v.v… qua hữu ái. Hoan hỷ với hữu (bhavam ’ ābhinandati): sau khi [47] hiểu lầm là vĩnh cửu v.v…cùng hữu đó, do bản chất vô thường v.v… thế gian hân hoan, sảng khoái trong ái dục, trong tà kiến và nơi hữu, với suy nghĩ là mọi sự đă được định sẵn trong đó[48] ta không thể nào cưỡng lại được. Những ǵ thế gian hân hoan chính là sợ hăi (yad abhinandati taṃ bhayaṃ): hữu được cho là phát triển, hay nói cách khác hữu nơi cơi dục giới v.v…trong đó thế gian này hân hoan chính v́ lư do đó, nguyên nhân của sợ hăi [49]do thực tế là chính bản chất thế gian lại là thay đổi thông qua đặc tính vô thường v.v… và v́ lư do thực chất là một tiếp nối không gián đoạn nơi vô vàn vô số các mất mát. Sợ hăi hiểu theo nghĩa sợ hăi tới mức tối đa. Sợ hăi điều đó (yassa bhāyati)[50]; đó là [51] lăo (tuổi già) bệnh (ốm đau) và tử (chết) v.v…[52] do đó (yato) lăo (tuổi già) và tử (chết) là điều thế gian sợ hăi cũng chính là đau khổ vậy[53]. Do đó là tảng đá (nền tảng) đau khổ và cũng chính là đau khổ nội phần vậy[54]. Hay nói cách khác, thế gian sợ hăi điều đó (yassa bhāyati): phi hữu [55]được coi là đoạn kiến (yassa) thế gian sợ hăi phi hữu chính là v́ thế gian đă hân hoan nơi hữu vậy. [211] Thêm vào đó sợ hăi có thể được cho là căn phát sanh đau khổ, và do không thể vượt qua đau khổ dưới dạng tái sanh v.v… nên đau khổ đă xuất hiện, có nghĩa là tự bản chất tái sanh chính là đau khổ. Hay c̣n nữa, điều ta sợ hăi cũng chính là đau khổ (yassa bhāyati ta dukkha): nỗi sợ hăi đó, chính là[56] những ǵ (yassa) mang tính chất vô thường v.v…, do không biết cách thoát khỏi đó[57], đau khổ ở đây lại là những ǵ đem lại đau khổ. Sau khi đă biết rơ ṿng luân hồi đến mức độ nào, ngài nói tiếp “Thực vậy chính v́ muốn diệt trừ hữu hoàn toàn, ta nên theo đuổi cuộc sống phạm hạnh (brahmacariya)” nhằm làm rơ việc ṿng luân hồi đó không thể tồn tại vĩnh viễn. Về điểm này:

Để diệt trừ hữu hoàn toàn (bhavavippahānāya): Nhằm diệt trừ hữu nơi cơi dục giới v.v…Quả thực (kho) chỉ là một tiểu từ (hiểu theo nghĩa) khẳng định nhấn mạnh; pana (kho) (không được dịch) một kẻ do lời nói phai tàn đi. Điểm này (idaṃ) là một đại từ chỉ định[58]. Cuộc sống phạm hạnh (brahmacariyaṃ): cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) chính là thánh đạo. Được sống theo (vussati): được hoàn tất. Về điều này người ta đă nói rằng: nhằm diệt trừ hoàn toàn mà không dư sót hữu nơi cơi dục giới v.v…bằng cách tận diệt chính nguồn gốc, cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) này bao gồm bát thánh đạo, bao gồm ba uẩn bắt đầu bằng giới (uẩn) v.v… ta đă chứng đắc sau khi triệt tiêu ba Ma-Vương[59] ngay tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhimaṇḍa) này sau khi đă hoàn tất tu luyện Ba la mật như ta đă thực hiện[60] được những kỳ công đó với muôn vàn khó khăn trong ṿng bốn A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp có dư, chính ta đă được dẫn nhập, đă tu dưỡng kỹ càng. Sau khi đă thấu rơ bản chất thánh đạo, chắc chắn sẽ tạo được lối thoát, ngài nói tiếp “Do bất kỳ…” v.v…nhằm làm rơ chẳng c̣n tồn tại thánh đạo nào khác hơn nữa. Về điểm này:

Ai (ye) là một đại từ quan hệ[61]. Hi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ đơn thuần mà thôi. Một số (keci): một số (ekacce); nhờ hai từ này, ngài đă loại bỏ bất kỳ nghi ngờ nơi những ai tự nhận như vậy đều phải viện đến tà kiến. Sa môn (samaā) : các vị sa môn đă thực hiện xuất gia, không phải các ngài đă làm dịu đi được những ǵ là bất thiện. Các thầy Bà la môn (Brāhmaā): họ thuộc ḍng dơi Bà la môn bẩm sanh, chẳng phải do họ đă đoạn tận[62] hết những ǵ là bất thiện. Từ (vā[63]) có nghĩa là một trong hai cách lựa chọn. Cho rằng giải thoát hoàn toàn khỏi hữu chính là cách hữu (bhavena bhavassa vippamokkham āhasu): một số người (ekacce) đă nói đến giải thoát toàn bộ khỏi hữu bằng cách hữu nơi cơi dục giới hay hữu nơi cơi sắc giới là cách thanh tịnh trong ṿng luân hồi.[64] Những ai đă khẳng định như vậy? Họ là những người [65]chủ trương níp bàn hiện tại kiến[66]. V́ trong số những nhân vật này có một số (keci) lại khẳng định bản ngă, một khi tận hưởng hoàn toàn[67] với năm xu hướng cao thượng nơi các dục lạc, họ đă chứng đắc níp bàn, nibbuti[68] tột đỉnh hiện tại; một số lại cho rằng bản ngă, một khi đă được tạo ra bằng thiền Jhanas sơ đẳng xuất phát từ những thiền jhanas thuộc cơi sắc giới đă đạt đến níp bàn nibbutti tột đỉnh nơi hiện tại này. Một số lại cho là với thiền jhanas bậc hai…số khác cho là bậc ba… số khác lại cho là khi đă được đưa ra với thiền jhanas bậc bốn, phù hợp với điều này người ta đă đưa ra chi tiết sau đây: “Hỡi các vị Tỳ khưu, trong trường hợp này, một số sa môn hay một số bà la môn đă khẳng định như vậy, họ chủ trương quan điểm như vậy, tức là “Thưa ngài, khi nào[69] bản ngă này được hoàn toàn tận hưởng năm xu hướng dục lạc.” (D i 36). [212]  Hơn thế nữa pháp này giống như một con đỉa khát máu, nó chỉ được thoả măn bằng cách hút máu tới mức cần thiết, điều này cũng sẽ diễn ra nơi bản ngă những kẻ nào đă tiến tới hạnh phú sung sướng tột đỉnh nơi dục lạc liên quan[70] v.v..  sẽ không c̣n cố gắng chạy theo dục lạc v.v…[71] từ đó phi hữu sẽ xuất hiện, thực sự hữu cũng không tồn tại nữa, trong khi đó xuất hiện giải thoát khỏi toàn bộ hữu, nhờ hữu nơi bất kỳ hữu nào, phương pháp này cũng được áp dụng[72] với kẻ nào chấp thủ nơi phương pháp đó, chính v́ thế có lời nói rằng “ Giải thoát hoàn toàn khỏi hữu nói đến ở đây cũng là do hữu vậy”, và những kẻ nào vẫn tin rằng có người khờ dại lẫn người khôn ngoan, cũng sẽ được giải thoát khỏi ṿng luân hồi ,khi vừa đạt đến tột đỉnh hữu sau khi đă vượt qua một khoảng thời gian dài cũng[73] biết khẳng định là việc giải thoát hoàn toàn khỏi hữu chính là thông qua hữu vậy. Về điểm này có lời nói rằng “Hiện có tới tám trăm bốn mươi tư ngàn đại kiếp [74] trong thời gian đó cả kẻ khờ dại lẫn người khôn ngoan[75] đều chạy đua, đều tiếp dẫn bước, trước lúc kết thúc đau khổ.” (D i 54[76], Hay nói cách khác, lại thông qua hữu vậy (bhavena): là thông qua tà kiến hữu [77]. Liên quan đến qui tŕnh tiến triển theo cách “Điều ǵ hiện hữu[78] cũng tồn tại vĩnh viễn” là thường kiến[79] hữu kiến (bhavadiṭṭhi), cũng chính tà kiến về hữu này, về vấn đề này, thông qua cách đọc lướt phần cuối cùng[80], cũng đă được cho là “hữu kiến vậy (bhava)”, như trong từ “hữu ái” (bhavata) [81] v.v…và cũng chính thông qua hữu kiến một số người lại có quan niệm khác biệt về hữu, v́ lư do đây chỉ là một hiện trạng cuộc sống, trong đó các phiền năo được trấn áp tạm thời và chính v́ thế mà tuổi thọ được kéo dài hơn[82], chính v́ được giải thoát khỏi hữu nên chính đặc tính bản chất hữu cũng là vô thường v.v… như Phạm Thiên Baka[83] đă nói. “hữu chính là trường cửu, là ổn định, là vĩnh cửu; bản chất hữu không thay đổi[84]” (chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 326. S i 142[85]). Do đâu chúng được giải thoát khỏi hữu đối với những người hiểu như vậy[86] trong khi chấp thủ về những ǵ không mấy rơ ràng, người nào mang tà kiến cho rằng vẫn có lối thoát nơi những ǵ không t́m đâu ra lối thoát? V́ lư do này, Đức Phật nói. “Ta tuyên bố[87], toàn bộ những kẻ này không được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu”. Thông qua phi hữu (vibhavena): thông qua đoạn kiến. Kẻ nào chủ trương có lối thoát khỏi hữu (bhavassa nissaraam āhasu): kẻ nào khẳng định việc khởi hành, việc xuất phát khỏi tất cả các loại hữu để được thanh tịnh trong ṿng luân hồi. Đối với những người này, đang khi không công nhận học thuyết những kẻ khẳng định,“Giải thoát hoàn toàn khỏi hữu chính là qua hữu” lại cho là lối thoát chỉ có được bằng cách cắt đứt hữu mà thôi; hay nói cách khác, chính là thông qua phi hữu (vibhavena): chính là thông qua đoạn kiến. V́ lư do qui tŕnh tiến tới bằng cách (“qui tŕnh này kết thúc hữu, huỷ hoại và đoạn diệt cả bản ngă lẫn thế gian này” đoạn kiến đă được đề cập đến cùng một cách đă được khẳng định ở trên, [213] như là phi hữu”. Chính do ảnh hưởng của đoạn kiến mà chúng sanh trở thành những người công nhận đoạn kiến thuyết, khi tin tưởng rằng họ sẽ bị tiêu diệt ngay sau khi khởi sanh ở một nơi đặc biệt nào đó đă được dọn sẵn cho[88] họ, và điều cũng tương tự như thanh tịnh nơi ṿng luân hồi. V́ thế nên có lời nói rằng: “Thưa ngài, khi bản ngă này đă được h́nh thành, khoác lấy tứ đại…trú ngụ sau khi đă gia nhập vào đó bao gồm phi tưởng phi phi tưởng xứ, ở mức độ đó, thưa ngài, liệu bản ngă này có bị tịch dịêt đến tận gốc rễ một cách thích hợp chăng?”(chú giải D i 34tt[89])  và[90]cũng giống như vậy, “Thưa Đại Vương, chẳng có ǵ được ban không, chẳng có ǵ phải hy lễ, chẳng có ǵ được dâng cúng… kể cả người khờ dại lẫn người khôn ngoan[91], tiếp theo sau đó, một khi thân xác ta đă bị tiêu hoại, cũng bị đoạn diệt, tiêu hủy và sẽ không tồn tại sau khi chúng ta đă chết.(D i 55[92]) Do đâu lối thoát khỏi hữu có thể xuất hiện đối với những người này, trong khi chấp thủ[93] điều ta gọi là không rơ ràng? V́ lư do đó, Đức Phật đă nói, “Ta tuyên bố rằng, tất cả những người này không thoát khỏi hữu được” V́ khi nào các phiền năo chưa được đoạn trừ đến tận gốc rễ không dư sót thông qua tu luyện thánh đạo,  th́ chẳng bao giờ có thể tạo ra được lối thoát hay giải thoát khỏi hữu. Chính v́ lư do đó chỉ diễn ra toàn là cảm giác lo lắng và dao động, do ái dục và tà kiến mà ra, v́ các vị sa môn và các vị Bà la môn này, đă rơi vào hai thái cực “có tồn tại hay không tồn tại[94]” rồi do thiếu cảnh giác về phía họ,  về những pháp như đă thực sự diễn ra, do vậy những kẻ đó, do phải nhờ đến tà kiến, cũng đang phải bối rối nơi những nguyên nhân nổi lên,[95]do ái dục hệ phược trói buộc, giống như con chó[96] được cột bằng sợi dây xích, cột vào cây trụ kiến thị[97] không rơ ràng chôn chặt xuống đất bằng thân kiến[98], mà không tài nào rời bỏ khỏi hệ phược đó. Vậy giải thoát nơi những người này do đâu mà có? Hơn nữa, Bậc Đạo Sư chúng ta có tuyên bố rằng, “điều này là phụ thuộc hoàn toàn vào sanh y (substrate)[99] mà thôi ” v.v… chỉ rơ cho thấy giải thoát hoàn toàn khỏi hữu và việc giải thoát đó chỉ dành cho những ai, do không phải dao động khi những điều đó xuất hiện v.v…thay vào đó ta c̣n phải tính đến thánh quả, do việc giải thích Tứ Diệu Đế, trong lúc đă qua tới nửa ḍng, song vẫn chưa tiếp cận được bất kỳ một trong hai thái cực này. Về điểm này:

Dựa trên sanh y (nền tảng) (upadhiṃ [100]): dựa trên một sanh y như ngũ uẩn chẳng hạn[101]. Hi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Phụ thuộc (tuỳ thuộc) (paṭicca) : dựa trên, sau khi đă tạo ra cùng một nguyên nhân. Đau khổ (dukkhaṃ): đau khổ dưới dạng sanh v.v…[102] điều đó nói về ǵ vậy? Xét về khía cạnh nào những người này lại rơi vào tà kiến nhận thức giải thoát, nơi chứng đắc các uẩn phiền năo và hành sanh y tích tụ, do đâu ta có được lối thoát khỏi đau khổ về mặt ấy[103]; v́ trong bất kỳ trường hợp nào có các phiền năo xuất hiện, trong những trường hợp như vậy đau khổ thuộc ṿng luân hồi chẳng có thể quay trở lại được nữa, do có diễn ra việc tích lũy công đức, thế nên ở đây chỉ đơn giản diễn ra một tương tục tính[104] một ḍng hữu liên tục mà thôi, v́ lư đó có lời nói rằng, “Chính v́ phụ thuộc một sanh y mà đau khổ được tạo ra”, lại có lời nói tiếp như sau, “qua việc đoạn tận toàn bộ những chấp thủ, thế nên không c̣n đau khổ diễn ra nữa”, để có thể làm rơ đau khổ là ǵ theo ư nghĩa tuyệt đối. Về điểm này:

Thông qua việc đoạn tận mọi chấp thủ (sabbūpādānakkhayā)[105]: do diệt trừ không dư sót, thông qua việc chứng đắc thánh đạo, về toàn bộ bốn chấp thủ này, tức là dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngă chấp thủ.[106][214] Về điểm này[107] ta nên hiểu rơ ba chấp thủ này, tức là kiến thủ, giới cấm thủ và ngă chấp thủ, đă được diệt trừ, gia nhập vào pháp vô sanh, thông qua thánh đạo nhập lưu; (trong khi đó) dục thủ đă được diệt trừ, thâm nhập vào pháp vô sanh, thông qua tứ thánh đạo. Tức là điều đó dẫn đến các trạng thái hư mất, thông qua việc đầu tiên lại rất cô đọng[108] bao gồm tham dục, thông qua điều thứ hai, đó là những điều tinh tế, và thông qua điều thứ ba đó chính là dục hữu nơi cơi sắc giới và nơi cơi[109] vô sắc giới thông qua thánh đạo thứ tư. Chẳng c̣n diễn ra đau khổ nữa (’atthi dukkhassa sambhavo): thông qua việc diệt trừ toàn bộ chấp thủ theo cách thức đó, do vậy bất khởi sanh, do t́nh trạng chúng sanh đoàn kết lại với nhau, cũng có nguyên nhân là do một nhóm phiền năo[110], không tạo ra, không xuất hiện, ngay cả chỉ là một khối lượng không quan trọng, đau khổ đó thuộc ṿng luân hồi. Khi Đức Phật đă làm rơ vậy cả về pravrtti lẫn nivrtti[111] cùng với nguyên nhân, thế rối ngài lại nói, “Hăy quan sát thế gian này.” v.v… ngài chỉ rơ rằng đây chính là chúng sanh thế gian, không thông hiểu phương pháp này, ta không thể thoát  ra khỏi ṿng luân hồi này được.[112] Về điểm này:

Hăy quán thấy thế gian này (lokam imaṃ passa)[113]: đang khi đưa ra huấn thị có liên quan đến hành vi quan sát[114],  Đức Phật nói: “Hăy quan sát thế gian này”, tự nói với chính ḿnh mà thôi, do một thực tế là bản chất lănh vực đối tượng ngài đă trực tiếp nhắm đến thông qua Phật Nhăn. Gia tăng lên (puthu): một cách dồi dào,[115]; hay nói cách khác một cách riêng tư.[116] Do vô minh vây quanh (avijjāya paretā): do vô minh khuất phục, bằng cách che dấu[117] tứ diệu đế được đề cập đến theo phương pháp Kinh Tạng[118] (Suttanta) liên quan đến “Thiếu trí về đau khổ (Trung Bộ Kinh (M) i 54) v.v…hữu (bhūtā): sanh ra, xuất hiện làm người, thông qua các phiền năo xuất phát từ nghiệp chướng.[119] Cảm khoái thích thú hữu (bhūtaratā): cảm khoái[120] do ái dục, nơi những kẻ nào đă tái sanh nơi cơi các chúng sanh khác, bằng cách nhận ra họ là mẹ, cha, vợ và con cái v.v…; hay nói cách khác t́m thấy nguồn vui cảm khoái[121], bằng cách giả dụ rằng những người “đàn ông” và “đàn bà” kia v.v…bằng cách thường xuyên v.v… và bằng những ư tưởng được h́nh thành,[122] về bản ngă, và những ǵ thuộc bản ngă,[123] nơi hữu, nơi ngũ uẩn, mà bản chất lại là vô thường, bất tịnh, đau khổ và vô ngă; do thiếu nhận thức về chính bản chất đích thực của ḿnh. Không  được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu: bhavā aparimuttā = bhavato na parimuttā (một dạng ngữ pháp khác) khỏi ṿng luân hồi, thông qua việc chấp thủ[124] về  ái dục và tà kiến đă đề cập đến ở trên[125], và về điểm này, trước tiên sau khi ngài đă làm rơ bằng số ít, bằng bao gồm cả bất phân định, viện dẫn một từ tập hợp cho toàn bộ[126]loại chúng sanh, v́ lư do chúng tương đồng nhau, tức là imaṃ lokaṃ (thế gian này), Bậc Đạo Sư, sau khi đă tỏ rơ vẻ oai lực về trí của ngài liên kết với Phật nhăn, tức là “cũng thế gian này[127], lại được chia thành vô vàn vô số loại, không chỉ do hữu, do sanh loại, do sanh thú, do thức trú[128] và do cả hữu t́nh cư [129]v.v…nhưng cũng thông qua các loại chúng sanh này chúng sanh nọ, trong ta đă được quan sát một cách riêng rẽ.” Tiếp theo đó ngài sử dụng một con số khác nhau, nhằm làm rơ bằng dùng số nhiều, bao gồm cả việc phân định bằng cách puthu [130]avijjāya paretā bhūtā (đa số do vô minh vây quanh đă trở thành) v.v… và phỏng đoán là imaṃ lokaṃ (thế gian này) ở thể đối cách, thế rồi cách diễn đạt danh cách số nhiều bằng cách avijjāya paretā (do vô minh bao vây) v.v…[131] lại không phải là điều mâu thuẫn nhau.[215] Do thực chất là đă có những chú thích riêng rẽ[132]. Tuy nhiên một số[133] được giải thích là avijjāya pareta bhūta bhūtarata bhavā aparimutta (do vô minh vây quanh, hữu, rất hoan hỷ được hữu, không hoàn toàn thoát khỏi hữu [134]) với ngụ ư chỉ là một trích đoạn[135] duy nhất; nhưng cách giải thích cổ xưa[136] chỉ nhằm phân chia thành hai nhánh suy luận. Bằng cách chỉ rơ toàn bộ lộ tŕnh Thiền Minh Sát, lănh vực của Đức Phật th́ hoàn toàn nằm ngoài mục đích của những ǵ thuộc các nhóm ngoại giáo khác.[137] Nhờ những phương tiện đó, họ được giải thoát hoàn toàn khỏi hữu, ngài lại nói tiếp “Do bất luận điều ǵ” v.v…Về điểm này

Do bất luận hữu nào (ye hi keci [138]bhavā): đối với bất kỳ loại hữu nào, được chia thành nhiều loại bằng cách phân thành chín loại hữu chính[139]), tức là hữu nơi cơi dục giới v.v…,tưởng hữu v.v…và nhất uẩn hữu v.v…cho dù có là có sảng khoái hay không, [140]cho dù có cần tuổi thọ kéo dài hay là ngắn ngủi, hay chỉ mang tính cách tạm thời thoáng qua.[141] Ở khắp mọi nơi (sabbadhi): ở khắp mọi nơi (sabbattha), thông qua cách phân chia như “ở trên”, “ở dưới” và “xung quanh” v.v…[142] Trong mọi trường hợp (sabbatthatāya [143]): dưới mọi điều kiện, như thể trên cơi trời, nơi cơi khổ cảnh, và nơi cơi nhân loại v.v…[144] C̣n liên quan đến sabbe te (toàn bộ điều này) v.v…tất cả những loại hữu này, những pháp này (dhammā) như giới và thọ v.v…đều là vô thường hiểu theo nghĩa không tồn tại sau khi đă xuất hiện[145], đau khổ (dukkha) do một thực chất là đă bị

áp lực đè nén thông qua sanh và diệt, thuộc bản chất hay thay đổi do một thực tế là chúng luôn có khả năng thay đổi bằng hai cách[146] tức là thông qua lăo (tuổi già) và tử (chết). Từ iti [147](v.v…) có ư nghĩa là ādi (v.v…) hay pakāro (khác nhau[148]) ; chính v́ thế[149]những loại (hữu như vậy) được đề cập đến[150] hoặc là anattā (vô ngă), hiểu theo nghĩa cách tiến tŕnh của nó không được thu thúc, sau khi đă gộp chung những tướng đặc biệt không được đề cập tới