NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chương NămSOA

1. (NGƯỜI) YÊU QÚI

[273] Kinh Phật đầu tiên trong chương này[1]: Có hoàng hậu Mallikā theo hầu (Mallīkāya deviyā saddhi): Cùng đi chung với hoàng hậu tên là Mallikā. Họ đă lên sân thượng hoàng cung sang trọng nhất: uparipāsādavaragato = pāsādavarassa upari gato[2](thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Có điều ǵ yêu quí hơn là chính bản thân ḿnh (’ añño attanā piyataro): có ai khác được coi là yêu dấu hơn bản thân ḿnh. Hậu có ai chăng? (atthi nu kho te): nhà vua hỏi hoàng hậu “Cho ta biết[3] nào, có ai yêu quí hơn bản thân hoàng hậu chăng?” Tại sao nhà vua lại đặt câu hỏi như vậy? V́ Hoàng Hậu là con gái của một người bán hoa trong thành Sāvatthi là người rất nghèo. Một ngày kia khi hoàng hậu vừa ra đi sau khi nhận được một số bánh ngọt tại một cửa hàng bán bánh nghĩ rằng ta nên đi tới vườn hoa để ăn, từ phía đối diện, nàng đă nh́n thấy Đức Phật trên đường đi khất thực đang đi lại gần, vây quanh Ngài có Tăng đoàn các vị Tỳ khưu, do ḷng cảm mến nổi lên trong ḷng, hoàng hậu đă bố thí chiếc bánh đó đến Đức Đạo sư gợi ư cho hoàng hậu biết ngài sẽ ngồi trên một vị trí thích hợp. Trưởng Lăo Ānanda đă lấy y cà sa trải xuống đất (nhằm mục đích đó). Thế rồi Đức Phật đă ngồi xuống đó ăn chiếc bánh do hoàng hậu bố thí, lau miệng và mĩm cười trên môi. Vị Trưởng lăo[4] lên tiếng hỏi, “Không hiểu nguyên nhân nào đă khởi sanh từ hành vi bố thí đó chăng?” Đức Phật đáp lại, “Hỡi Ānanda thân mến, ngày hôm nay[5] đây là người đầu tiên đă bố thí vật thực cho Như Lai, trước tối nay nàng sẽ trở thành hoàng hậu nhiếp chính của nhà vua Kosalan, rất dấu yêu và hấp dẫn.” Và cùng ngày hôm đó nhà vua đă thất trận và chạy trốn, sau khi đă tham chiến với người cháu tại thành phố Kāsigāma[6], đang lúc trở về thành phố, trên đường đi, nhà vua đă vào vườn hoa, nghĩ rằng một đạo quân tinh nhuệ sẽ chờ đón nhà vua tại đó. Vừa nh́n thấy nhà vua đang tiến lại, nàng đă (nhiệt t́nh) giúp đỡ[7] đức vua. Cảm thấy hài ḷng về sự giúp đỡ của nàng, nhà vua đem nàng tŕnh diện với cha nàng, và trao cho nàng rất nhiều quyền lực to lớn.[274] Và tiếp theo sau đó nhà vua đă đưa[8] nàng vào nội cung[9], và tấn phong nàng vào ngôi Hoàng Hậu Nhiếp Chính.

Rồi một ngày kia, nhà vua nghĩ rằng: “ Ta đă ban cho nàng quyền lực to lớn này. Điều ǵ sẽ xảy ra nếu ta hỏi nàng ‘Đối với nàng ai là người yêu dấu nhất?” Nàng sẽ trả lời, ‘Thưa hoàng thượng vĩ đại, chính ngài là người yêu dấu nhất của hậu” và rồi đến lượt nàng sẽ hỏi trẫm.  Rồi ta  sẽ nói cho nàng, “Với trẫm cũng vậy, chỉ ḿnh hậu là người yêu dấu nhất của trẫm.” Chính v́ thế, đang khi nhà vua thực hiện những lời chào nghi thức (với nàng) với mục đích tạo ra niềm tin tưởng lẫn nhau, nhà vua đă hỏi nàng. Nhưng hoàng hậu, một người rất thông minh, lại là đồ đệ thân cận của Đức Phật, một đồ đệ trung thành với Tăng đoàn,[10] nghĩ rằng đây không phải là câu hỏi được đặt ra đang lúc thị kiến[11] đối diện với một vị vua; và chỉ đề cập đến những ǵ phù hợp với điều thực tế đang diễn ra, nàng nói: “ Đối với hậu, chẳng có ai yêu dấu hơn chính bản thân ḿnh”. Hơn thế nữa, sau khi đă nói lời này, hậu đă hỏi nhà vua cùng một cách thức nhà vua đă hỏi nàng,[12] nói rằng,  “Nhưng đối với hoàng thượng có người nào yêu dấu hơn bản thân hoàng thượng chăng?” Trước tiên v́ muốn đặt vấn đề đó với nhà vua một cách khôn khéo về cách nàng trả lời cho nhà vua. Cả nhà vua không thể rút lại lời do thực chất là vấn đề được đề cập đến đă mang bản chất[13] thực tế của vấn đề, nhà vua đă trả lời giống như hoàng hậu đă trả lời, chính ngài cũng đă nói dựa theo đặc tính cá biệt của thực tế đó. Và sau khi đă trả lời (nhà vua)[14], do tự bản chất của ngài là không nhanh trí[15] thế nên nhà vua suy nghĩ như sau, “Là vua trẫm đang trị v́ cả thiên hạ, sau khi đă bá chủ thiên hạ, trẫm lại phải nằm trong ṿng xoay của chính thiên hạ đó với tư cách là người làm chủ[16] thiên hạ vậy. Ở mức độ liên quan đến trẫm, trẫm có quyền[17] không coi bất kỳ điều ǵ yêu dấu hơn bản thân trẫm, như những người bị ruồng bỏ, những người hạ cấp bẩm sanh, mà trẫm đă thiết lập cho một địa vị quan trọng, lại không coi trẫm là chúa tể của nàng, không phải là người yêu dấu nhất của nàng chăng? Nàng đă nói trước mặt trẫm mà rằng, “Bản thân của nàng là điều yêu dấu hơn ’ Quả thật nàng là người cứng rắn[18] biết bao” và sau khi không c̣n thu thúc nổi, nhà vua đă khiển trách nàng nói rằng, “Chắc hẳn đối với hậu th́ Tam Bảo là quí trọng hơn trẫm chứ ǵ?” Hoàng hậu trả lời lại: “Đúng là như vậy v́ điều đó bảo đảm những lợi ích[19]cho chính hậu có được hạnh phúc thiên đàng và hạnh phúc giải thoát mà theo hậu điều đó đáng quí hơn ngay cả đó có là Tam Bảo, thưa hoàng thượng, chính v́ thế, đối với hậu chỉ có bản thân là quí trọng hơn hết mà thôi.”  Đây là điều hoàng hậu muốn ám chỉ. “ Và toàn thể thế gian nầy đều coi người khác yêu quí hơn xuất phát từ tư lợi cho chính ḿnh mà thôi -  ngay cả khi mong muốn có một đứa con trai, họ cũng chỉ ước muốn có một thứ mà thôi, nghĩa là, “Con trai sẽ nuôi nấng ta khi tuổi già”, c̣n nếu có con gái họ nghĩ rằng, “Nó sẽ giúp quảng bá thân tộc ta” là một người vợ nghĩ rằng, “Nàng sẽ chăm sóc đến ta rửa chân tay cho ’ c̣n đối với các họ hàng thân thuộc khác, bạn bè và đồng hương[20] cũng vậy, với nhiều nhiệm vụ đa dạng họ sẽ phải chu toàn. Chính v́ thế, đang khi chỉ nhận thức được mối lợi cho chính ḿnh [275]thế nên thiên hạ đă coi người khác là yêu quí hơn vậy”

Thế rồi nhà vua suy nghĩ: “Bản thân Mallikā là người tài khéo, khôn ngoan và bí hiểm, nói rằng, “Đối với hậu chỉ có bản thân là yêu quí hơn mà thôi ’ Đối với trẫm điều này h́nh như cũng như vậy thôi. Chỉ có bản thân là đáng yêu quí hơn mà thôi. “Thôi được rồi, tốt hơn ta sẽ tŕnh bày cho Đức Phật về vấn đề này và ta sẽ chấp nhận[21] bất kỳ cách thức nào ngài giải thích.” Hơn thế nữa, sau khi nghĩ như vậy, nhà vua đă đi đến gặp Đức Phật và đang khi tiến lại gần Ngài, nhà vua đă bạch vấn đề đó cho Đức Phật nghe. V́ lư do đó có lời nói rằng, “thế rồi, nhà vua[22] Kosalan  Pasenadi… (chẳng có bất kỳ người nào khác yêu dấu hơn với trẫm bằng chính bản thân trẫm vậy.”

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): thông hiểu toàn bộ vấn đề nhà vua đề cập đến. Tức là “Đối với toàn thể chúng sanh trên thế gian này, chỉ có chính bản thân của họ là yêu quí hơn hết mà thôi” đă làm nổi lên Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề đó, về điểm này:

Sau khi đă khảo sát tỉ mỉ khắp tứ phương thiên hạ bằng chính lư trí của ḿnh (sabbā disā anuparigamma cetasā): sau khi đă lấy tâm trí mà theo dơi khắp tứ phương thiên hạ  không bỏ qua bất kỳ điều ǵ và t́m cho ra. Đơn giản là chúng ta không thể có được bất kỳ điều ǵ đáng quí hơn bản thân ở bất kỳ nơi nào. (n’ ’ ajjhagā piyataram attanā kvaci) bất kỳ người nào, cho dù có cố gắng đến mấy cũng không t́m ra được bất kỳ điều ǵ đáng quí hơn là bản thân,[23] họ chẳng bao giờ chiếm được cũng như chiêm ngắm được những điều như vậy ở bất kỳ nơi nào khắp tứ phương thiên hạ trên cơi đời này. Chính v́ thế bản thân là điều đáng quí hơn hết mọi sự khác (evam piyo puthu attā paresa): chính v́ thế chỉ có bản thân mà thôi[24] là đáng quí nhất không dính dáng ǵ, tách biệt hẳn với người này người kia, do ta chẳng khám phá ra bất kỳ người nào hay vật ǵ đáng quí hơn là bản thân cả. Chính v́ thế ta ước ao bản thân sẽ không gây hại lẫn nhau. (tasmā na hise param attakāmo): v́ mỗi chúng sanh đều coi bản thân của ḿnh là đáng yêu đáng quí như vậy, đó chính là ước muốn hạnh phúc của chúng ta  khi có được bản thân như vậy, người nào đă đẩy lùi được đau khổ. V́ thế người nào ước muốn bản thân ḿnh, đang khi muốn có hạnh phúc sung sướng cho bản thân đó. Chẳng nên gây hại, chẳng nên sát sanh[25]  chẳng nên lấy tay mà phản kháng lại, cũng chẳng nên đá hay lấy gậy gộc v.v…[26]mà gây hại người khác. Kể từ nay trở đi ta chẳng nên ra tay ngay cả đó chỉ là con kiến hay những côn trùng[27] nhỏ bé. V́ khi chính bản thân ta gây đau khổ cho người khác[28] chỉ sau một khoảng thời gian thôi, đau khổ đó lại quay trở lại với chính bản thân của ta vậy, giống như đau khổ đó đă xuất phát từ chính bản thân chúng ta vậy. Đây chính là luật nghiệp chướng vậy.[29]

Việc diễn giải kinh phật thứ nhất kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Về những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó, xin đọc Chú giải SA i 140tt.

[2]. Ce Be Se giải thích cũng giống như vậy c̣n bản văn ghi là uparigato.

[3]. Kim.

[4] . Chính do mĩm cười của Đức Phật đă khiến nẩy sanh câu hỏi của vị trưởng lăo – xin đọc J iii 405.

[5]. Ce Be Se S giải thích là ’ esā c̣n bản văn ghi là  ’ esā.

[6]. Cha của Pasenadi là Mahākosala đă ban cho Bimbisāra ngôi làng đó khi Bimbisāra cưới con gái của ông ta làm vợ. Sau đó Pasenadi đă chiếm lại được ngôi làng này khi Ajātasattu thừa kế Bimbisāra lên ngôi vua. Nhưng sau đó ngai vàng lại rơi vào tay Ajātasattu trở lại khi ông ta cưới chính con gái của Pasenadi tên là Vajirā (DPPN i 593) theo tập J iii 406). Chính trong cuộc chiến với Ajātasattu mà  Pasenadi đă phải bỏ trốn.

[7]. Vattam akāsi; hay là phục vụ ngài, thực hiện nhiệm vụ của nàng, v.v…; hay có lẽ cũng có nghĩa là “dự định”. V́ trong tập J iii 406. nàng cho phép ngài ngủ gối đầu lên đùi nàng một lúc. Sau khi ngài đă hỏi nàng có muốn ngài cưới nàng làm vợ hay không (J iii 406). Nàng phải chứng tỏ được rằng nàng không luôn trung thành với ngài, nếu như trích đọan này lại dính líu đến t́nh tiết có con chó trong pḥng tắm hay bất kỳ điều ǵ đi ngang qua, do kết quả của việc đó nàng đă phải tái sanh tới bảy ngày trong hoả ngục, ngay sau khi nàng từ trần, trong khoảng thời gian đó Đức Phật phải ngừng lại cho đến khi ngài có thể thực sự tuyên bố cho Pasenadi biết là nàng đă được tái sanh lên thiên đàng (Dhp-a iii 119tt). Woodward (VofU 56 n 2) dựa trên cơ sở tập Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 202tt, lại cho người ta hoàn toàn tưởng tượng về nàng như vậy;  ngược lại tập J iii 405 khẳng định rằng nàng là một phụ nữ có sắc đẹp tuyệt trần (uttamarūpadharā). C̣n AA không đá động ǵ cả.

[8].  Ce Be giải thích là paiharāpetvā c̣n bản văn Se SA lại ghi là atiharāpetvā. Theo tập chú giải JA iii 406, nhà vua đă cho nàng ngồi trên lưng ngựa của ngài và rồi vào thành. vây quanh là đoàn quân vừa mới được ngài tuyển mộ. Từ đó ngài đưa nàng về chính gia đ́nh của nàng, rồi lại ra lệnh một chiếc xe đến bắt nàng lại vào cùng buổi chiều ngày hôm đó. Sau đó nàng đă được tấn phong làm hoàng hậu nhiếp chính. 

[9]. Antepuraṃ; từ này được định nghĩa trong chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 162 ở trên.

[10]. Ce bỏ qua từ saghupaṭṭhāyikā; SA lại chèn thêm từ dhammupaṭṭhāyikā.

[11].  Chú giải Be SA giải thích là Ulloketvā c̣n bản văn Ce Se ghi là oloketvā.

[12].  Chú giải Ce Be Se giải thích là raññā sayaṃ c̣n bản văn ghi là rañño sā. 

[13]. Sarasalakkhaṇena; một cách nói đặc biệt, về tập chú giải Asl 71. một cách thông thường hơn, h́nh như ư muốn nói là “đơn giản cái mai chỉ là cái mai mà thôi”. Thay vào đó SA giải thích là sarasena (được trích trong KS i 101 n 2. có nghĩa là “đi tới nguồn gốc mọi vấn đề”)

[14]. Ở đây bản văn có thêm vào Rājā;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. 

[15].  Chú giải Ce Be Se giải thích là mandadhātukatāya; c̣n bản văn ghi muddhādhātukatāya, về điểm này SA lại quay trở lại với từ gāthās. Nhà vua được mô tả trong (Dhp-a iii 119tt) c̣n là người đần độn hay khờ dại hơn nhiều, trong trích đoạn liên quan đến con chó và nhà tắm.

[16]. Hàng hóa;  chú giải D i 134; S i 101 v.v…Tuy nhiên trích đoạn này lại khác với những ǵ diễn ra rất dài sau cuộc bại trận của nhà vua trước Ajātasattu.

[17].  Ce Be Se giải thích là yuttaṃ c̣n bản văn ghi là vuttaṃ.

[18]. Giải thích là vadati. chú giải Ce Be Se giải thích là yāva kakkhaā c̣n bản văn ghi là vadati yeva. Kakkhalā.

[19]. Chú giải Ce Se giải thích là hitāyantī c̣n bản văn ghi là hitāyan ti.  Chú giải Be giải thích là patthayantī. Childers hay PED không thấy liệt kê từ hitāyati. Nhưng  chú giải SED có mục từ hitāya.

[20]. Chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 123 ở trên

[21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là dhāressāmi c̣n bản văn ghi là byākarissāmi.

[22]. Ce Be Se và Ud giải thích là rājā; c̣n bản văn lại bỏ qua. 

[23].  Be giải thích là attanā c̣n bản văn Ce Se ghi là attano.

[24].  Chú giải Be giải thích là ’va; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua. 

[25].  Ce Be Se giải thích haneyya, c̣n bản văn ghi là hīḷeyya, tỏ vẻ thù địch với.

[26].  Chú giải Ud-a 111 ở trên.

[27]. Kunthakipillika; chú giải Sn 602 (được giải thích là “kiến hay mối” trong GD ii 70) và chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 189 và MA iv 108 trong đó không thấy có ân đức được cho là nét đặc trưng nổi bật của vị thánh đệ tử. (ariyasāvaka)

[28].  Ce Be Se giải thích là parassa c̣n bản văn lại ghi là yassa.

[29]. Kammāna dhammatā.