NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. NGƯỜI LÙN

Trong Kinh Phật thứ năm[1]: Ngay tại phần chót có một số đông các vị Tỳ khưu (sambahulāna bhikkhūna piṭṭhito piṭṭhito): với việc buổi khất thực cho bữa trưa đă kết thúc sau khi các ngài đă du hành trong một ngày ṿng khắp các làng mạc[2] trong vùng đi cùng là rất đông các vị Tỳ khưu, ngài trưởng lăo Bhaddiya[3] người lùn đă dốc sạch nước trong b́nh[4] cất bát vào trong giỏ thường được sử dụng để mang theo bát, khoác lên vai, gấp chiếc y tăng già lê lại, cũng vắt lên vai bên trái nữa, và rồi, giống như người với con mắt luôn nh́n xuống và với thái độ trang nghiêm, luôn thanh thản[5] (bất chấp điều ǵ xảy đến với ngài) ngài đă ra đi và quay trở lại, nh́n hướng về phía trước hay chờ đợi ngài, hay co duỗi các chi ra vào nhịp nhàng[6], ngài đă tiếp tục lên đường, tâm ngài định sau khi đă thực hiện niệm và tỉnh giác hoàn toàn hiện hữu, nh́n xuống chân sau điều đó như thể ngài thể hiện được chánh niệm và tuệ giác đến mức viên măn[7]; và bằng cách thực hiện như vậy, ngài đă tiến tới gần bước đi của các vị Tỳ khưu đó, (tuy nhiên) khi ngài không có liên quan ǵ đến các vị Tỳ khưu này; tại sao vậy? liên quan đến một thực tế là ngài không thực sự liên kết[8] với họ và hơn thế nữa, chính vẻ bề ngoài của vị trưởng lăo này, đă được đối xử ngược đăi khinh bỉ. Đó là người tạo ra khinh bỉ, các người phàm phu đă ném hạt ngô vào ngài,[9] nhận ra điều này, vị trưởng lăo liền đi cuối cùng hy vọng là họ không gây ra sai lầm do nh́n vào ngài. Chính bằng cách như vậy và các vị Tỳ khưu và vị trưởng lăo đă đi đến thành phố Sāvatthi, họ vào một thiền viện, và rồi đến gặp Đức Thế Tôn v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào dịp đó, vị trưởng lăo Bhaddiya người lùn.”v.v…Về điểm này:

Diện mạo rất soàng (dubbaṇṇaṃ): theo cách này ngài chỉ rơ cho thấy ngài không có được diện mạo tuyệt hảo, Khó coi (duddasikaṃ): [369] một người có vẻ mặt không tạo thiện cảm được; theo cách này ngài làm rơ về phía cá nhân ngài chẳng có bất kỳ điều tuyệt hảo nào cho dù chỉ với một chi tiết nhỏ nhặt về sắc đẹp và cả bất kỳ cử chỉ thân nào khác. Lại có lưng gù (okoṭimakaṃ): lùn, bằng cách này ngài làm rơ ngài chẳng có được sức tăng tướng tuyệt hảo. Đa phần các vị Tỳ khưu đều tỏ vẻ khinh khi ngài. (yebhuyyena [10]bhikkhūna paribhūtarūpa): với h́nh dáng như vậy chẳng đáng các vị Tỳ khưu, cả các người phàm phu ném bắp vào, họ chia thành từng nhóm độ sáu người[11]. v.v…họ không nhận ra được những ân đức tuyệt hảo nơi vị trưởng lăo, các vị đó đă đối xử khinh khi với ngài, nắm lấy ngài, kéo ngài đi và dùng tay[12] đùa nghịch với ngài và kéo tai ngài v.v…[13] (cho dù) không phải những người thánh nhân cũng không phải các phàm phu giới đức[14] đă hành động như vậy. Ngài nói với các vị Tỳ khưu (bhikkhū āmantesi): tại sao ngài lại nói với họ? Khiến cho các ân đức tốt của vị trưởng lăo được lộ rơ ra. Người ta kể lại rằng, điều đó đă diễn ra nơi Đức Phật mà rằng: các vị Tỳ khưu này đă không nhận thấy được đại uy lực[15] nơi vị trưởng lăo con trai của ta.[16] Kết quả là họ đă coi khinh ngài, điều này sẽ trở thành thiệt hại và đau khổ lâu dài cho họ; chính v́ thế tốt hơn ta nên từ bỏ những khinh miệt bằng cách khiến cho các ân đức tốt của ngài hiện rơ cho các vị Tỳ khưu này thấy” Các ngươi có nh́n thấy chăng: passatha no = passatha nu (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài một dạng ngữ pháp khác). Nơi chứng đắc đó v́ vị Tỳ khưu này không thể đạt đến được th́ cũng không dễ ǵ ai đạt đến được. (na ca sā samāpatti sulabharūpā yā tena bhikkhunā asamāpannapubbā): về vấn đề này, cho dù chẳng có bất kỳ thiền chứng nào được chia sẻ chung nơi các đồ đệ trong số bất kỳ chứng đắc nào được các vị đồ đệ chia sẻ với nhau lại chấp nhận cách phân chia sau đây – tức là chứng đắc thiền Jhanas liên kết với cơi sắc giới, chứng đắc thiền jhanas liên kết với cơi vô sắc giới, thành tựu vô lượng tâm, chứng đắc thiền diệt, và chứng đắc thánh quả, điều này có thể dễ dàng đạt đến được, điều này không khó khăn ǵ để không đạt tới; chẳng c̣n điều ǵ mà vị Tỳ khưu này, tức là người lùn Bhaddhiya chưa đạt được. Sau khi đă khiến tỏ lộ ra[17] theo cách này, pháp đại uy lực trong đó, cùng với pháp đại uy lực của ngài) do chính Đức Phật nói tới, ngài nói tiếp “quả thật ngài đầy uy lực và oai phong tột đỉnh, “và trong đó, với chính những nhân duyên nhăn tiền như vậy, ngài đă thực hiện được, sau khi chính ngài đă biết rơ điều đó, ngài đă đạt tới và lại là chính tột đỉnh không ai vượt nổi trong cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) nhằm đem lại lợi ích trong vấn đề này[18]”v.v…để có thể làm rơ[19] được đại uy lực này; đây cũng chính là cách như đă khẳng định ở trên[20], và liên quan đến vấn đề này, Đức Phật đă chỉ rơ cho thấy bằng cách nói rằng, “hỡi các vị Tỳ khưu, vị trưởng lăo này” v.v… “hỡi các vị Tỳ khưu, vị trưởng lăo này không giống bất kỳ vị nào khác, (và) không phải các vị Tỳ khưu người khác đă tỏ ra khinh miệt do dáng vẻ bên ngoài của ngài xấu xí khó coi, (và) gù lưng và ta đă thấy ngài xuất hiện ở vị trí  chót của các vị Tỳ khưu[21]; trái lại, ngài là người có đầy uy lực, có đại thần lực, ngài đă đạt được toàn bộ những lực đó với tư cách là một vị đồ đệ (sāvaka). Chính v́ thế các ngươi hăy xem [22] ngài là một người có ảnh hưởng lớn[23]  như thể bạn có được một chiếc dù đá – điều này sẽ trở thành niềm hạnh phúc và an lạc lâu dài cho ḿnh”.

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): hiểu rơ tới từng góc độ, vị trưởng lăo[24] Bhaddiya một người lùn” người có rất nhiều các ân đức đặc biệt với những biện phân của một con người đầy uy lực và là người có đại thần lực v.v…thế nên Phật Tự Thuyết này đă khởi lên để làm rơ vấn đề này. Về điểm này[25]:

With drivel-free wheel (nelaṅgo [26]): đó là elaṃ (lời nói ngớ ngẩn) tạo thành một lỗi phạm (doso); v́ con người này không có lời nói ngớ ngẩn (drivel), [370] đó chính là thoát khỏi lời nói ngớ ngẩn.” (nelaṃ). Nhưng điều này là ǵ vậy? đó là giới đức được xem như là thanh tịnh hoàn toàn và tuyệt đối. Trong trường hợp hiện nay, chính là nela [27] muốn ám chỉ ở đây, hiểu theo nghĩa được thoát khỏi mọi lỗi lầm (niddosaṭṭhena, điều này có liên quan đến thoát khỏi những lời nói không tốt chính v́ chánh ngữ (aṅga) [28] tạo thành phần[29] chính yếu, lại chính là thoát khỏi lời nói ngớ ngẩn (nelaṃ). Mối liên kết chính với chiếc xe mà ngài sắp sửa nói tới, chính v́ thế, ư nghĩa ở đây là,“với thành phần (aṅga) giới[30] thanh tịnh xuyên suốt và toàn hảo, th́ (chiếc xe chuyển bánh) v́ đây chính là đạo giới liên kết với thánh quả A-la-hán muốn ám chỉ trong trường hợp hiện nay chính  là “với tấm vải bạt màu trắng” (setapacchādo) v́ có một tấm vải bạt màu trắng, tấm “vải bạt” là một miếng vải len v.v…được trải trên chiếc xe; hơn thế nữa, cũng c̣n là tấm vải màu trắng (seto), là do tấm vải đó hoàn toàn trắng tinh[31] và có màu trắng toát (dhavala), hay có thể là một số màu khác gồm màu đỏ hay màu xanh[32] v.v…; nhưng trong hoàn cảnh hiện nay, liên quan đến thực chất đây chính là giải thoát liên kết với thánh quả A-la-hán lại muốn ám chỉ ở đây, chính do bản chất hoàn toàn thanh tịnh mà người ta nói là, “Với một miếng vải màu trắng”; cũng như cũng có lời nói nơi khác “chiếc xe với đồ phụ tùng[33] là giới (S v 6); chiếc xe có một tay quay duy nhất” (ekāro) v́ chiếc xe chỉ có một chiếc nan duy nhất[34] được coi như là chánh niệm vậy. Xuất phát (vattati): tiến lên (lên đường). Chiếc xe (ratho): ngài nói đến có liên quan đến sự hiện hữu hiện nay của vị trưởng lăo. Là con người điềm tĩnh (anīgha): là người thoát khoải đau khổ, ư nghĩa ở đây là người chẳng tồn tại bất kỳ dao động (parikhobha) nơi nào cả, do phiền năo mà ra, giống như một chiếc xe không phải trải qua đoạn đường lầy lội (khobha) nào[35]. Đi lại gần (āyanta): là người đi cuối cùng trong số rất đông các vị Tỳ khưu đang tiến tới gặp ngài . Ḍng suối gián đoạn (chinnasotam): ḍng suối kết thúc. V́ có một ḍng suối, đang chảy, bơ sửa và dầu v.v… đó là vết bẩn trên đầu của trục xe [36] và trục xe của xe ngựa hằng ngày để nó có thể di chuyển thuận lợi[37], nhờ đó  chúng ta có thể nói là ḍng suối không bị gián đoạn. Nhưng ở đây được nói đến ḍng suối bị gián đoạn trong tổng số 36 ḍng suối[38] đă bị bỏ rơi mà không có người c̣n lại- là một ḍng suối bị gián đoạn. Đó là “vô ràng ’ v́ như thế  nó không có sự ràng buộc. Do đó có nhiều sự ràng buộc[39] nhằm  mục đích là ngăn chặn bực lên xuống của xe ngựa[40] bị trục xe rung rinh, như vậy người ta nói phải “có sự ràng buộc”. Nhưng người này th́ không ràng buộc trong tổng số của những ràng buộc của nó, đó là h́nh thức của các pháp kiết sử [41]  phải đoạn trừ một cách hoàn toàn mà không cho dư sót- đó là người vô ràng buộc. Trông thấy (passa): Chính đức Phật nói, sau khi thành đạt được trạng thái hỷ lạc, đó là nhờ kết quả phẩm hạnh thanh cao.  Do đó ngài ám chỉ đại đức Bhaddiya người lùn, khiến ngài không có phương tiện tốt[42], ách tốt, ngựa thuần chủng bị đau[43] tuy nhiên, đó là phương tiện tốt[44] do bởi phương tiện chuẩn mực của nó, người đó là quả vị A La Hán[45], đó là phương tiện tốt[46]  do bởi con đường giác ngộ tương ưng với quả vị A La hán[47] , đó là người có chánh niệm đầy đủ trong giây phút hiện tại [48], đó là người không có lay động[49], lay động của phiền năo không c̣n nữa [371] không c̣n bất kỳ vết dơ bẩn nào cả, vết nhơ đó chính là ḷng Ái dục. Đó là người không có ràng buột, các pháp kiết sử không c̣n nữa. Việc diễn giải Kinh Phật thứ năm kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau, xin cũng đọc SA ii 236tt.

[2]. Chú giải Ce Se giải thích là gāmantare c̣n bản văn Be lại ghi là gāmantarena. Tự điển PED sv khẳng định là gāmantara có nghĩa là “bên trong ngôi làng”, lại giải thích thêm rằng ta chỉ thấy từ ghép này nơi các từ chuyên môn gāmantara gacchati, ta có thể tham khảo Vin ii 300 (trong đó người ta dịch từ này trong B Disc v 417 là “trong số những ngôi làng”). CPD từ antara, đưa ra ư nghĩa là “một ngôi làng bất kỳ”, lại cho chúng ta thấy một từ ghép tương tự là asurantara, không thể liệt kê ra sau đó. Theo SED  từ grāmāntara ám chỉ một “ngôi làng khác”, rất có thể đây là ư nghĩa trong tập chú giải Ud-a 392 dưới đây.

[3]. Chú giải SA khẳng định rằng, trong quá khứ, một vị đại vương đă đối xử không tốt với những người cao niên, kết quả là Sakka đă can thiệp và khiến cho thân nhà vua trở nên ướt sũng như bơ sữa, điều này cho thấy tại sao màu da của nhà vua không được đẹp. Sau đó (và theo như nghiên cứu kỹ lưỡng về vấn đề này trong chú giải AA i 195tt) dưới thời Đức Phật Vipassi (nhưng theo chú giải Thag-a ii 196 là vào thời Đức Phật Phussa) nhà vua phải tái sanh thành con chim cu và đă đem dâng cho Đức Phật một quả xoài, kết quả việc này đem lại là ngài có một giọng nói ngọt ngào (chính v́ vậy nhà vua được giao cho địa vị chánh yếu do giọng nói đầy quyến rũ của ngài như ghi trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 23 do kết quả việc nhà vua đă bố thí cho Đức Phật Padumuttara đi kèm theo với lời ước như vậy – AA i 194tt); nhưng rồi đến thời Đức Phật Kassapa, ngài đă giảm bớt kích cỡ của bảo tháp đang được xây dựng, do kết quả công việc đó, sau này ngài phải tái sanh thành một người gù (hay theo chú giải AA i 196 và Thag-a ii 196, chiều cao của nhà vua kém hẳn những người khác từ lần tái sanh này đến lần tái sanh khác), chú giải Thag-a ii 196 cũng khẳng định rằng ngài đă chứng đắc bất lai bằng cách tu tập thiền minh sát dựa trên đối tượng (nimitta) những chiếc răng của hoàng hậu đang cười.

[4]. Sau đó việc đầu tiên là phải làm khô dưới mặt trời, - xin đọc chú giải Vin i 46. ii 113.

[5]. Pāsādikena; xin đọc chú giải apāsādiko trong Ud-a 360 ở trên. Sự tương phản rơ ràng là có chủ ư.

[6]. Một  cách ám chỉ  về đoạn văn gốc trong D i 70;  Trung Bộ Kinh (M) i 181 v.v…; xin đọc Ud-a 225 ở trên để biết thêm một số chi tiết tương tự như vậy.

[7]. Xin đọc chú giải  Ud-a 166; và 192, trong đó có khẳng định rằng chứng đắc tuệ giác viên măn sẽ giúp thể hiện chánh niệm.

[8]. Asasaṭṭhavihāritāya; liên quan đến asaṃsaṭṭha, xin đọc chú giải  Ud-a 231tt.

[9]. Ohīenti;  không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[10]. Bản văn Ce ghi thêm từ hi;  c̣n  chú giải Be Se Ud lại bỏ qua.

[11]. Cũng như vậy đối với SA ii 236 chú giải về S ii 279; về sáu vị Tỳ khưu này vẫn được nêu lên làm điển h́nh cho các vị Tỳ khưu có hành vi bất thiện, xin đọc Vin ii 1, 77; iii 160 v.v…

[12]. Hay là cánh tay.

[13]. Be giải thích hatthakaṇṇacūikādīsu (Ce hatthakaṇṇacūlikādīsu, Se hatthakaṇṇaculikādīsu) c̣n bản văn ghi là hatthakaṇṇacūādisu. Ta cũng gặp từ Kaṇṇacūikā trong Thanh Tịnh Đạo 249, 255 trong đó ngài Ñāamoli cũng đă dịch một cách tương ứng là “nhĩ căn” (Ppn 268) và “lỗ tai” (Ppn 274) và ngài Pe Maung Tin cũng dịch là “nhĩ căn” (Pp 285) và “nhĩ căn” (Pp 292),  trong văn cảnh ở đây có lẽ đây là “vành tai” hay rất có thể là nhúm lông trong tai, rất phổ biến nơi những người Ấn Độ. Chú giải SA chỉ khẳng định đơn giản là họ lôi kéo xô đẩy nhau ngay tại nơi này (tattha tattha) trong khi đó ngài Woodward (VofU 92 n 1) nhận định rằng “tập chú giải cho biết các vị Tỳ khưu thô lỗ thường nắm tóc và chọc ghẹo ngài” mà không giải thích làm thế nào ta có thể làm thế được đối với vị Tỳ khưu b́nh thường phải cạo hết tóc.

[14]. Xin đọc chú giải  Ud-a 83 ở trên.

[15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mahānubhāvata c̣n bản văn ghi là mahānubhāvatta.

[16]. Điều này có nghĩa là, con tinh thần hay sāvaka; xin đọc Ud-a 59 ở trên. 

[17].  Ce Be Se giải thích là pakāsetvā c̣n bản văn ghi là pakāseti.

[18]. Chú giải Be Se và Ud giải thích là yassa ’ atthāya c̣n bản văn Ce ghi là’ atthāya.

[19]. Pakāsetu; Be dassetu, có nghĩa là chỉ rơ cho thấy.

[20]. Ud-a 104, 156. 268tt 

[21]. Chú giải Be Se giải thích là ayaṃ bhikkhu na yo vā so vā dubbaṇṇo duddasiko okoimako ti bhikkhūna piṭṭhito piṭṭhito āgacchatī ti ca ettakena na oñātabbo c̣n bản văn Ce ghi là ayaṃ bhikkhu na kho aya dubbaṇṇo duddasiko okoimako bhikkhūna piṭṭhito piṭṭhito agacchatī (Ce āgacchatī) ti ettakena oñātabbo.

[22]. Chú giải Ce Se giải thích là oloketabbaṃ, ngài chính là người phải nh́n xuống c̣n bản văn Be ghi là oloketha.

[23]. Garu katvā; thành ngữ này thường được giải thích là “với ḷng kính trọng” nhưng ở đây ta thường được yêu cầu hiểu theo nghĩa đen đó là bản chất nặng nề nơi một vị garu – giống như một chiếc dù đá ngài chẳng phải là một người cần được cho là nhẹ nhàng đâu.

[24]. Ce Be Se giải thích là āyasmato c̣n bản văn ghi là āyasmatā.

[25]. Điều tiếp theo sau đây có thể so sánh với một tập chú giải nhỏ đưa ra trong S iv 291tt; xin cũng đọc chú giải SA iii 93.

[26]. Chú giải Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là neḷaggo, Se nelaggo; điều c̣n lại có thể so sánh với tập  Ud-a 313 ở trên.

[27]. Be Se giải thích là idha nelan ti c̣n bản văn Ce ghi là ’ atthi elan ti

[28]. Chú giải Be Se giải thích là aṅgaṃ c̣n bản văn Ce ghi là aggaṃ maggaṃ; như được chú thích trong Ud-a 76. ở đây từ aṅga h́nh như muốn chỉ rơ cặp bánh của chiếc xe.

[29]. Padhānabhūta; padhāna cũng có nghĩa là “tinh tấn” (cố gắng),v.v… và rất có thể là có kiểu chơi chữ ở đây mà kết quả là phần cơ bản nhất của chiếc xe (padhāna), đó là cặp bánh (aṅga), nhờ đó chiếc xe có thể di chuyển về phía trước giống như ngài Bhaddiya cũng đă di chuyển về phía trước cùng là một drivel-free, hiểu theo nghĩa là phần cấu tạo thành giới đức của ngài xuyên suốt và hoàn toàn thanh tịnh.

[30].  Be Se giải thích là osīlago c̣n bản văn ghi là sīlaggo.

[31]. Suvisuddhao; Be giải thích là suparisuddhao

[32]. Nīla; màu đen hay màu xanh.

[33]. Chú giải Be S giải thích là sīlaparikkhāro c̣n bản văn Ce Se ghi là setaparikkhāro; ngài Woodward (KS v 5) giải thích điều này là “chiếc xe cũng được trang bị với chính trục”, tuy nhiên SA iii 121 giải thích là “chiếc xe” giống như bát thánh đạo, và “giới đức” chính là đồ phụ tùng” cho chiếc xe đó được trang điểm bằng tứ thanh tịnh đạo.

[34].  Chú giải Ce Be Se giải thích là aro c̣n bản văn ghi là āro.

[35]. Be giải thích là khobhavirahita yāna viya kilesaparikhobhavirahitan ti (Ce Se khobhavirahita yāna viya kilesakhobhavirahitan ti ) c̣n bản văn ghi là kilesakhobhavirahitan ti; chú giải kilesaparikkhobhābhāvena aparikkhobha dưới đây. pari (k) khobha không thấy liệt kê trong tự điển PED.

[36]. Akkhasīsesu;  không thấy liệt kê trong tự điển PED hay CPD.

[37].  Chú giải Ce Be (Se) giải thích là sukha (p) pavattanatthaṃ  c̣n bản văn ghi là sukhavattanatthaṃ.

[38]. V́ S iv 292 ở đây đánh đồng sota (ḍng suối) với ái dục (tahā), rất có thể đây chính là một cách ám chỉ về ba mươi sáu dạng ái dục t́m thấy trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 211tt và Vibh 392tt.

[39]. Chú giải Ce Be Se giải thích là bandhanāni c̣n bản văn ghi là vekhabandhanāni.

[40]. Rathūpattharassa; một điểm trên chiếc xe có một khoảng rộng để cho nhà vua đứng trên đó – DA 273  D i 103. C

[41]. Ce Be Se giải thích là sabbasayojanabandhanāna c̣n bản văn ghi là sabbayogasayojanabandhanāna.

[42]. Chú giải Ce Be Se giải thích là suparikkhittaṃ c̣n bản văn ghi là  suparikkhataṃ; điều này như muốn ám chỉ đến trích đoạn ở trên bằng từ chiếc xe lấy giới đức làm đồ phụ tùng.

[43].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ājaññarathaṃ c̣n bản văn ghi là ājaññaṃ rathaṃ

[44]. Sucakkaṃ; Ce ghi là sacakkaṃ.

[45]. Arahattaphalasīsena; chú giải It-a ii 74 ghi: ariyamaggassa sīsabhūta arahattaphalasamāpatti - issariyaṭṭhānaṃ và ở trên, khi người ta cho rằng chiếc bánh xe (aga) được cho là bao gồm phần quan trọng của một chiếc xe . Tự điển CPD không thể liệt kê ra hết từ kép này. 

[46]. Be Se giải thích là su-uttaracchadaṃ c̣n bản văn Ce ghi là sa-uttaracchadaṃ.

[47]. Chú giải Ce Be Se giải thích là arahattaphalavimuttiyā c̣n bản văn ghi là arahattavimuttiyā

[48]. Chú giải Be giải thích là sūpaṭṭhitāya satiyā svāra (Se supatiṭṭhitāya satiyā svāra) c̣n bản văn ghi là sūpatiṭṭhitattāya sūpatiṭṭha, Ce supatiṭṭhitatāya suppatiṭṭhita.Tôi chấp nhận  svāra su+ araṃ.

[49]. Chú giải Ce (Be) Se giải thích là apari (k) khobhaṃ c̣n bản văn ghi là ariyakkhobhaṃ.