NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3. NGƯỜI CHĂN B̉

Trong Kinh Phật thứ ba: Trong số những người Kosalans (Kosalesu) : “những Kosala”[1] là tên của các hoàng tử thuộc về[2] quốc gia này; (bằng cách mở rộng) trú xứ của các vị đó,  tuy nhiên chỉ có một quốc gia duy nhất đă được đề cập đến, đơn giản là “những người Kosalan” trong quốc gia thuộc sở hữu của những người Kosalan[3] đó. Đang phải đi du sĩ trong những chuyến đi xa (cārika carati): [241] đang du sĩ trong những chuyến đi từ quốc gia này sang quốc gia khác bằng cách tiến hành những cuộc du sĩ một cách thoải mái chậm răi[4]. Do một người vĩ đại (mahatā): do một người không chỉ[5] vĩ đại do những ân đức đặc biệt to lớn, nhưng c̣n vĩ đại ở một số điều liên quan đến thực chất là ngài có rất nhiều ân đức bất tận[6]. Tăng đoàn các vị Tỳ khưu. (bhikkhusaṅghena) : một nhóm[7] các vị sa môn đông đảo[8] do đặc tính ngang bằng nơi những ân đức họ có được như là chánh kiến và giới vậy (morality). Đi kèm với (saddhiṃ): cùng với. Sau khi đă bước ra  khỏi con đường (maggā okkamma): sau khi đă bước ra khỏi con đường. Ngay gốc một cây nào đó (aññataraṃ rukkhamūla): gốc cây, được coi là nơi gần một cây cổ thụ to lớn là cây bóng mát, có cành và lá xum xuê[9]. Một người chăn ḅ: (aññataro gopālako): là người chăn thả một số đại gia súc tuy nhiên ta cũng được biết người đó tên là Nanda[10]. Người ta kể lại[11] rằng ông ta là một người giàu có, có rất nhiều tài sản, rất nhiều của cải nhưng cũng lại giống một vị sa môn tóc rối có tên là Keṇiya,[12] giả dạng như là một người thực hiện việc xuất gia sa môn,[13] cũng như vậy ngài đă giả dạng và chăn giữ bầy ḅ của ông Anāthapiṇḍika, nhưng thực chất lại canh giữ tài sản của chính ḿnh, làm như vậy để tránh được cảnh nhà vua cưỡng đoạt mất tài sản đó[14]. Do công việc chăn thả đó, thỉnh thoảng ngài có thể thưởng thức năm món ngon được chế biến từ thịt ḅ[15], đem đến trước sự hiện diện của vị đại nhân giàu có, dâng cho người đó rồi đến nơi Đức Phật  nh́n ngắm ngài và lắng nghe Phật Pháp, cầu xin vị đạo sư để chính ḿnh cũng có thể đến nơi trú xứ của Đức Phật. Vị Đạo sư đă không đi[16], chờ cho đến khi trí của vị đó trưởng thành; (nhưng) sau này ngài mới nhận ra, đang khi c̣n thực hiện những cuộc du sĩ khắp các vương quốc cùng với một Tăng đoàn các vị Tỳ khưu đông đảo, th́ trí của vị đó giờ đây đă trưởng thành, ngài bước ra khỏi lối đi không xa nơi trú xứ của Đức Phật là bao và tự ngồi dưới gốc một cây cổ thụ chờ cho ngài sẽ tới. Vui vẻ và thỏa măn được nghe nói: “Người ta kể lại rằng, khi c̣n đang thực hiện những cuộc du sĩ đến nhiều vương quốc khác nhau, Đạo sư đă tới đây[17]” cả Nanda nữa, cũng rất hăm hở đi tới đó, đi đến gặp vị Đạo sư, chào đón ngài, và rồi kéo dài cuộc tiếp đón, ngài tự  ḿnh ngồi sang một bên. Thế rồi Đức Phật đă thuyết pháp cho ngài. Sau khi đă thiết lập nơi thánh quả nhập lưu, và ngài đă thỉnh Đức Phật đến và tổ chức bố thí kéo dài bảy ngày liên tiếp gồm cả cơm sửa. Vào ngày thứ bảy Đức Phật đă tỏ ḷng ngưỡng mộ và rồi ngài lên đường, v́ lư do đó có lời nói rằng: “và đối với người chăn ḅ đó đă ngồi sang một bên, Đức Phật chỉ cho ngài thấy Tứ Diệu Đế trong cuộc đàm đạo Phật Pháp …rồi ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rồi lên đường”[18][242] về điểm này:

Chỉ rơ cho thấy (sandassesi): trước tiên đang khi chỉ rơ cho thấy, bằng cách cho thấy “đây là những pháp thiện, những pháp kia lại là bất thiện.” v.v…việc dị thục các hành vi, cơi thế gian này và kiếp sau. Ngài làm rơ (sammā dassesi[19], thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới một dạng[20] ngữ pháp khác) vào lúc kết thúc cuộc nói chuyện liên tục[21]. Khiến cho họ tiếp thu được điều đó (samādapesi): khiến cho ngài thiết lập nơi điều này, bằng cách khiến cho ngài chấp nhận một cách phù hợp với giới (morality) và v́ thế có lời nói rằng, “Thực sự đây là các pháp đă khiến khởi sanh nơi các người thiền chứng pháp chân đế đó.” Khiến cho ngài trở nên cừ khôi. (samuttejesi): khiến cho ngài trở thành sành sỏi (sammā uttejesi,  thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài nơi một dạng ngữ pháp khác) khiến cho người đó sắc bén đủ[22] các pháp được thực hiện đó, khi đă trở nên sắc bén và rơ ràng như việc tham dự vào công việc thấu triệt đến đúng thời điểm sẽ được tu dưỡng. Đem ra thực hiện với thánh đạo vậy. Khiến cho ngài nổi giận với những điều kích thích (sampahaṃsesi): khiến cho ngài phải nổi giận trước những thôi thúc đó (suṭṭhu pahaṃsesi [23],  thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài theo một dạng ngữ pháp khác) bằng cách tạo thích thú mừng rở hân hoan[24] trong tâm. Bằng cách chỉ ra cho thấy các pháp biệt phân [25] liên tiếp đă đạt đến được bằng cách tu luyện; và hơn thế nữa, về điểm này, ta nên hiểu cách chỉ định rơ này bằng cách đẩy lùi lẫn lộn liên quan đến các pháp phải chịu tội, vô tội và đau khổ v.v… khiến cho ngài có thể thực hiện bằng cách diệt trừ dễ duôi ở bất kỳ nơi nào liên quan đến[26] việc tu luyện thích hợp, khiến cho ngài trở nên thành thạo bằng cách diệt trừ phạm lỗi thuộc pháp hôn mê tâm, (đang khi đó) lại khiến cho ngài phát sanh động tâm (là điều ta nên hiểu) bằng cach hoàn tất thành công những việc tu luyện thích hợp. Chính v́ thế bằng cách diễn giải Phật Pháp, Đức Phật đă tự giác ngộ ra[27] rằng ngài đă được thiết lập nơi thánh quả nhập lưu. Ngài đă đồng ư (adhivāsesi): sau khi đă được mời bằng cách “Ôi Đức Phật, mong rằng ngài đồng ư đến dùng bữa với tôi” v.v…nhờ bữa ăn đó, nhờ ngài mà chân đế đă được nhận ra; ta đồng ư, mong rằng điều đó diễn ra, chỉ trong tâm, không cần biểu lộ bằng hành động thân hay khẩu[28] nào, cũng chính v́ lư do đó ngài đă nói, “Với sự im lặng của ngài.” với cơm sửa không có nước (appodakapāyāsaṃ): với cơm sửa đặc không có nước. Đă được sửa soạn (paiyādāpetvā): đă đến kết thúc thành công, đă trang hoàng tô điểm. Và với bơ lỏng c̣n tươi nguyên (navañ ca sappiṃ): lấy bơ tươi, trộn ngay với bơ lỏng và hương vị chất bơ được sửa soạn. Bằng chính bàn tay của ngài (sahatthā): phục dịch họ, với tất cả ḷng quan tâm, chỉ bằng chính bàn tay của ngài (’eva). Làm cho họ hài ḷng, thoả măn (santappesi): cho họ dùng đồ ăn đă được sửa soạn sẵn. Đă thiết đăi (sampavāresi) tạo cho (Tăng đoàn các vị Tỳ khưu cùng với Đức Phật lănh đạo) từ chối (thức ăn thêm) với lời khẳng định “đủ rồi, đủ rồi”. Đă kết thúc bữa ăn (bhuttāvi): là người với công việc bữa ăn đă kết thúc. Rời khỏi bát khất thực (onītapattapāni): buông bát đĩa xuống.[29] Dhotapattapāi)  (ngài đă rửa bát và rửa tay (i) cũng là một cách giải thích. Ư nghĩa ở đây là người đă rửa tay (hatthaṃ) rửa bát  sau bữa ăn. Thấp (nīca): ngồi một nơi không cao cho lắm – tự ḿnh ngồi tại một nơi dành riêng, đă trở thành thói quen của các cư dân trong vùng Ariyan. – và hơn nữa ngài c̣n ngồi rất ngay ngắn trước sự hiện diện của Đức Phật gần nơi ấn định trên một chiếc ghế gỗ dài. Với bài thuyết pháp (dhammiyā kathāya) v.v…được đề cập đến liên quan đến việc đánh giá cuộc bố thí vào ngày thứ bảy. [243] Người ta kể lại rằng ngài đă thỉnh Đức Phật và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu lưu lại đó trong suốt bảy ngày[30], sau khi ngài đă mở một cuộc bố thí rất lớn, nhưng vào ngày thứ bảy, ngài đă thực hiện bố thí gồm toàn cơm sửa đặc (không có nước); và Đức Phật chỉ đơn giản tỏ ḷng khen ngợi[31] của ngài rồi lên đường, liên quan đến việc, đang khi Đức Phật c̣n hiện diện tại đó, vẫn thiếu vắng trí trưởng thành đầy đủ cần thiết để thiền chứng thánh đạo cao hơn.[32] Ngay tại các vùng giáp ranh với  ngôi làng đó (sīmantarikāya): ngay  tại khu giáp ranh[33] với ngôi làng, trong vùng phụ cận với ngôi làng đó[34]. Người ta kể lại rằng cư dân trong làng đă tham gia đàm đạo với ngài, đề cập đến một số đầm nước trong vùng. Ngài đă thắng thế và chiếm luôn chiếc đầm đó. Một số người cảm thấy khó chịu và kết quả là họ đă dùng cung tên bắn ngài[35] và họ đă giết ngài đang khi ngài lên đường một ḿnh[36] ngay tại vị trí giữa hai ngôi làng, (ngay sau đó) hắn đă cầm bát khất thực của Đạo sư, theo ngài xa xa và rồi khi được nói cho biết, “Hỡi đạo hữu, nhà ngươi có thể ra về được rồi đó.” hắn đă đảnh lễ Đức Phật, đi quanh ngài theo hướng phải, thực hiện nghi lễ đảnh lễ (anjali) với Tăng đoàn các vị Tỳ khưu, rồi quay lại hai tay để lên đầu[37] theo cách chào anjali và rồi hai tay chụm lại để trên đầu và ra đi cho tới khi họ chỉ c̣n nh́n thấy bóng người (đạo hữu) đó trên cánh đồng lúa; v́ lư do đó có lời nói rằng, “Không lâu sau khi Đức Phật vừa lên đường rời khỏi nơi đó, (có người) đă giết chết[38] người chăn ḅ đó bên trong vùng giáp ranh giữa hai ngôi làng. Một số vị Tỳ khưu vừa tới nơi sau khi c̣n lưu lại đàng sau để kết thúc một vài công việc, đă chứng kiến người chăn ḅ[39] nằm chết như vậy và thông báo sự việc đă diễn ra cho Đức Phật biết, về vấn đề này có lời nói rằng, “Thế rồi một số lớn các vị Tỳ khưu đă…”

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): vừa khi biết được sự việc diễn ra, tức là. V́ người đă giết chết Nanda, là thánh đệ tử đă thiền chứng chánh kiến, đă phạm phải biết bao nhiêu phạm lỗi, thế nên hành vi đó đă đem lại kết quả[40] tức thời, chính v́ thế[41] một khi tâm đă bị dẫn dắt sai lầm[42]đă đem lại cho chúng sanh[43] những kết quả c̣n ghê gớm hơn cả những người trộm và điều hiềm khích [44] có thể gây ra cho họ, chính v́ thế đă khởi sanh Phật Tự Thuyết (Udāna) này để làm rơ vấn đề, về điểm này:

Một kẻ (thù của) kẻ thù (diso disaṃ): người làm hư hỏng là người có khả năng phải hư hỏng.[45] Một tên trộm bị trộm cướp – “vừa nh́n thấy” là từ cuối cùng c̣n lại. Điều đó khả dĩ có thể tạo ra (ya kayirā): hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh ngài [46]phải chịu do kẻ thù có thể gây ra (vừa nh́n thấy một kẻ thù), chính điều này cũng là phương pháp có liên quan đến những ǵ nói trong câu thứ hai. Về vấn đề này có người cho biết rằng: cảnh ngộ khốn khổ và bất hạnh của tên cướp đó,[47] là do chính tư cách thô bạo và độc ác của hắn gây ra, thế nên vừa nh́n thấy (một tên cướp khác) tên cướp đó đă sai phạm chống lại tên cướp đó, giống y như cách hắn đă phạm lỗi chống lại vợ con, đồng ruộng và đất đai hay ḅ trâu v.v…hắn đă phạm lỗi chống lại người trước kia đă là người bạn (lừa dối), hay thù địch, vừa nh́n thấy kẻ thù địch, con người mang sẵn tính trả thù v́ lư do này lư do khác đă tạo ra (hay do cùng một cách tên đó đă đàn áp vợ con (người khác) hay phá hoại cả đồng ruộng v.v… c̣n hơn thế nữa[48] hắn c̣n lấy mạng cả người đó nữa, [244] do tâm đă bị ác pháp dẫn lối chỉ đường đă tạo ra điều bất thiện trong số mười loại hành vi bất thiện (D iii 269), thế nên hắn c̣n có thể tạo ra điều xấu xa hơn thế nữa. Đối với người có tâm địa hay trả thù hay kẻ thù địch thuộc dạng ta đă đề cập tới[49] ở trên, có thể dễ dàng tạo đau khổ nổi lên ngay trong cuộc sống này hay (hạng người thứ hai) là kẻ thù hay người chủ tâm trả thù, hay tự kết thúc cuộc sống của chính ḿnh, ngược lại, tâm địa của hạng người này, một khi đă bị những điều sai lạc chỉ lối dẫn đường trong số mười hành vi bất thiện, sẽ khiến cho người đó gặp phải hoàn cảnh khó khăn và bất hạnh nhăn tiền như vậy, và khiến cho hắn không thể ngóc đầu lên được, sau khi những sai phạm đó đă  quẳng hắn vào khổ cảnh đời đời cho dù có phải tái sanh tới cả trăm ngàn lần.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ ba kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1].  Chú giải DA 239 cũng tương tự như vậy.

[2].  Chú giải Be giải thích là Jānapadino (DA janapadino) c̣n bản văn Ce Se ghi là janapadavāsino; Chú giải Ud-a 182 cũng giống hệt như vậy khi nói về những người Vajjians. Chú Giải Phật Tự Thuyết Kệ 377 nói về những người Mallas. Mặc dù Dhammapāla lại bỏ qua từ rūhivasena, khi giải thích rộng nghĩa thêm, DA chèn thêm từ rūhīsaddena.

[3]. Chú giải Ce Se giải thích là tasmi Kosale janapade. Be ghi tesu Kosalesu janapade, DA ghi tasmi Kosalesu janapade. C̣n bản văn ghi là tasmi Kosalajanapade.

[4].  Chú giải Ud-a 183 ở trên.

[5].  Chú giải Ud-a 399, 407 dưới đây, cũng như trong DA 35. 

[6]. Be Se Chú giải Phật Tự Thuyết Kệ Ud-a 407 giải thích là aparicchinna sakhyattā (Ce aparicchinnakasakhyattā) c̣n bản văn ghi là aparicchinnaka-sakhātattā.

[7]. Gaa;  chú giải Ud-a 310 dưới đây.

[8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là osahatena c̣n bản văn ghi là osagatena;  chú giải Ud-a 125, 288 cũng tương tự như vậy. 

[9]. Chú giải Be giải thích là ghanapattasākhāviapasampannassa c̣n bản văn ghi là sandagahanapaicchannassa, một bụi cây dầy đặc che phủ kín, Ce Se giải thích là ghanapattapalāsassa, với một đám lá cây và cành lá dầy đặc; xin đọc chú giải Pv-a 43. việc lựa chọn ư nghĩa ở đây là tùy hỉ.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Nando nāma c̣n bản văn ghi là Nandā nāma, đă hàm ư sai lầm ngài là một phụ nữ.   

[11]. Chú giải Dhp-a  i 323tt về điều tiếp theo sau đó.

[12]. Một vị Bà la môn giàu có đă trở thành một vị ẩn sĩ tóc rối để bảo toàn tài sản của ḿnh; người ta cho rằng ban ngày ngài hành sử như là một vị ẩn sĩ, nhưng ban đêm lại tận hưởng thú vui nhục dục – MA iii 399 Sn-a 440; cũng xin đọc DA 270.

[13]. Chú giải Se giải thích là pabbajjāvesena (= Dhp-a vl) pabbajjavesena , Ce Be Dhp-a pabbajjāvasena, bằng việc xuất gia, cho dù pabbajitavesena,  là một từ vl khác trong tập Dhp-a, có lẽ thích hợp hơn.

[14]. Chú giải Se Dhp-a giải thích là rājapīla pariharanto c̣n bản văn ghi là rājapīlamapaharanto,  Ce Be rājapīla apaharanto. Ư nghĩa của từ pariharati không thấy được liệt kê trong PED, nhưng  chú giải SED sv cũng đă giải thích.  Chú giải Ud-a 106 trong đó đă trích dẫn vấn đề này như là một trong số những lư do dẫn đến một số người đă thực hiện xuất gia.

[15]. Thường được coi như là sữa, kem, bơ sữa, bơ  tươi và bơ đặc.

[16]. Agantvā; chú giải Ce Se đă bỏ qua, trong khi đó câu này nên được ghi : Hỡi đạo sư, sau khi đă biết điều đó sau này, đang khi thực hiện du hành nơi các quốc gia khác nhau vây quanh là một số đông các vị Tỳ khưu đang chờ đợi đến phiên ḿnh chứng đắc trí trưởng thành,  ngài biết được rằng trí của ngài đă đạt đến trưởng thành…

[17].  Chú giải Ce Be giải thích là ito āgacchati. C̣n bản văn Se ghi là ito gacchati, ? xuất phát từ đây.

[18]. Như vậy đoạn trích dẫn kéo dài từ giữa đoạn văn đến đoạn thứ nh́ tới đoạn cuối đoạn thứ tư trong  chú giải Ud.

[19].  Ce Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là desesi.

[20]. Dhammapāla giải thích là tiếp đầu ngữ sano đứng trước ba động từ là sammā (thích hợp, đúng đắn, đầy đủ, v.v…) c̣n ở động từ thứ tư (đúng, tinh vi, đúng đắn). Tôi chọn các động từ này, giống như trong Ud-a 361, 388 dưới đây, được coi như là một thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài. 

[21]. Một cách ám chỉ cuộc thuyết pháp tiếp diễn bắt đầu với bài thuyết pháp về bố thí, thuyết pháp về giới (morality) và thuyết pháp về thiên đường (td.  Trung Bộ Kinh (M)  i 379) trong đó không c̣n nghi ngờ ǵ nữa những ǵ đề cập đến ở trên được coi như là một bản luận văn tóm lược.

[22].  Chú giải Be Se giải thích là sammā uttejeti sammadeva tejesi c̣n bản văn Ce ghi là samuttejesi sammā uttejesi.

[23]. Ce Be Se cũng giải thích như vậy bản văn ghi là suṭṭhu sampahasesi.

[24]. Pamodāpana; không thấy liệt kê trong tự điển Childers, PED, hay SED.

[25]. Pubbenāpara <pubbena + apara, ngược lại Woodward ở đây chấm câu là pubbe-nāpara, và trong Ud-a 398 dưới đây giải thích là pubbe nāpara.  Cũng xin đọc thêm chú giải MA iv 137 về  Trung Bộ Kinh (M) iii 79, SA iii 205 về S v 154, và AA iv 31 về  Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 47. các pháp đó ghép thành cặp, nhưng các cặp được đặt vào giữa để tạo thành một tột đỉnh “thang siêu nhiên” nơi bậc A-la-hán. Có nghĩa là, ngài có thể bắt đầu chứng tỏ rằng  thiền định tốt hơn là giới (morality), rồi ngài lại chứng tỏ cho thấy Thiền Jhanas sơ đẳng lại tốt hơn  chuẩn bị định, và rồi thiền Jhanas bậc hai tốt hơn thiền Jhanas sơ đẳng, v.v…và cuối cùng thánh đạo và thánh quả A-la-hán lại tốt hơn thánh đạo và thánh quả bất lai. (Bhikkhu Bodhi).

[26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sammāpaipattiya pamādāpanodanena c̣n bản văn ghi là sammāpaipattiyā samādapanena;  từ mục vl của ngài Woodward về samādāpanodanena rơ ràng là sai, cũng như vậy chú giải với từ pamādāpanodanena, là điều chắc chắn đă khởi sanh do sự lẫn lộn có sẵn liên quan đến hai mẫu tự p/s thuộc các mẫu tự Tích Lan (Sinhale).

[27].  Sāmukkasikāya; được định nghĩa trong Ud-a  283 dưới đây.

[28]. Kāyagavācaga acopento;  chú giải Asl 93tt, 240; cũng xin đọc Ud-a 320 dưới đây, một cách tương tự như vậy, các bậc thánh (ariyans) khi đi khất thực, chỉ đứng yên một chỗ để chỉ cho dân chúng thấy nhu cầu của các ngài, mà không hề kích hoạt bất kỳ cơ quan thân hay khẩu nào cả. – J iii 354.

[29]. Chú giải cuộc thảo luận trong GD  i 257; cũng như chú thích trong Ud 89.

[30]. Đoạn văn này xem ra hơi tối nghĩa một chút; rất có thể chúng ta nên hiểu rằng ngài bắt đầu công việc khất thực ngay sau khi ngài đă được sự đồng ư của  Đức Phật lưu lại tại đó bảy ngày, hơn là sau khi ngài đă lưu lại ở đó trong thời gian đó.

[31]. Anumodanam eva katvā; theo bài tường thuật trong Ud , mặc dù h́nh như ngài phải nhắc lại bài thuyết pháp tiếp diễn đó hơn là thực hiện một việc ban phước lành thường được làm vào thời điểm tột đỉnh của buổi bố thí. Những vị bạn hữu người Sri lanka của tôi cho biết  anumodana được sử dụng vào những ngày này để chỉ việc chuyển giao công đức cho những thân nhân quá cố tiếp theo sau cuộc bố thí.  chú giải kế tiếp sau đây.

[32]. Bài tường thuật trong Dhp-a có phần khác một chút, khẳng định rằng Nanda trở thành người tiếp nhận bài thuyết pháp tiếp diễn, bằng cách đó ngài đă thiết lập nơi thánh quả Nhập lưu, chỉ tiếp theo ngay sau khi Đức Phật đă tỏ ḷng tán thán  ngài vào ngày thứ bảy. Thế rồi tiếp tục bằng cách nói rằng ngài đă bị một thợ săn giết chết trên đường về nhà, kết quả là các vị Tỳ khưu đă đổ lỗi cho  Đức Phật về cái chết của ngài nói rằng Đức Phật đă không có mặt tại đây, th́ Nanda đă không hề bị giết.  Đức Phật trả lời rằng Nanda chắc hẳn sẽ bị giết chết cho dù ngài có đến đây hay không, v́ chẳng có cách nào để giải thoát ngài khỏi chết, ngay cả ngài có đi đến cùng khắp bốn phương thiên hạ, nên nhớ điều này đối với các chúng sanh đó, một khi đă đi sai đường th́ không thể tránh được ngay cả kẻ trộm cũng như hành vi trả thù. Chẳng có chuyện kể nào ăn khớp với đoạn kệ có nội dung nhằm giới thiệu, cả bài tường thuật của Dhammapāla cũng không ăn khớp với câu chuyện trong chính  chú giải Ud, trong đó có kể lại rằng Đức Phật chỉ đơn giản được thỉnh tới tham dự một bữa ăn vào ngày hôm sau, chứ không phải trong khoảng thời gian bảy ngày đó. Thế rồi c̣n nữa, chẳng có bất kỳ tập chú giải nào làm rơ vấn đề phía nào đă bị hướng dẫn sai lệch, mặc dù h́nh như trong đoạn kệ đó đă nói tới số mệnh của ngài Nanda đối nghịch lại với số mệnh của người sát hại ngài – do tâm bị hướng dẫn sai lệch nơi người giết, thế nên người giết người đă gây hại nhiều hơn là một người thù có thể gây cho ngài Nanda, (trong bất kỳ hoàn cảnh nào, là một vị nhập lưu, c̣n phải trải qua chỉ một lần tái sanh to lớn hơn trong số bảy lần tái sanh) chỉ đơn giản bị giết, trong khi đó người giết người dứt khoát đă phải chịu khổ cảnh. Trưởng lăo Nārada, h́nh như lại suy nghĩ khác đi, v́ trong phần ngài phân đoạn chú giải Dhp-a ngài khẳng định: “Khi  Đức Phật từ giă, ngài (Nanda) đi tiễn đưa Ngài (Đức Phật) một quăng đường và quay trở về nhà. Khi ngài đang quay về t́nh cờ ngài đă bị giết bằng một mũi tên bay lạc. Các vị Tỳ khưu đă nhận định rằng nếu Đức Phật không đến thăm địa điểm đó. th́  ngài (Nanda) đă không gặp phải tai nạn chết người như vậy. Đức Phật trả lời, do chẳng có hoàn cảnh nào ngài có thể thoát khỏi cái chết do hành vi nghiệp chướng bất thiện tiền kiếp và cộng với nội ác tâm bị dẫn lạc hướng đă trở nên vô cùng bất lợi đối với chính người đó (Nanda)” (Dhammapāla, New Delhi, 1972, tr. 45) Như vậy Nārada h́nh như được coi như là câu trả lời của Đức Phật được đặc biệt áp dụng đối với trường hợp Nanda; nếu như ngài có lư, chỉ nổi lên một câu hỏi nữa là làm thế nào một vị Nhập Lưu, lại có thể được giải thoát khỏi khổ cảnh. (td S  i 70) mà ngài Dhammapāla đă nói đến, Cuối cùng cũng cần đặt vấn đề là cho dù có đề cập đến tứ phương thiên hạ, (catasso disā) trong câu trả lời của Đức Phật như trong tập chú giải Dhp-a và cũng xuất hiện các từ (catasso disā) trong đoạn kệ (có thể được hiểu là “khắp tứ phương thiên hạ”) chỉ là điều hoàn toàn trùng khớp.

[33]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sīmantare c̣n bản văn ghi là sīmantasīmantare.

[34]. Ce Be Se giải thích là tassa gāmassa antara // Gāmavāsino  c̣n bản văn ghi là tassa gāmassa antaragāmavāsino; hay có lẽ bên ngoài (= một điều khác hơn là) ngôi làng đó.

[35].  Chú giải Ce Be Se giải thích là ta;  c̣n bản văn lại bỏ qua.

[36].  Ce Be Se giải thích là ekaka c̣n bản văn ghi là  ekeka.

[37]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sirasi c̣n bản văn ghi là sirasmi; trong các câu như vậy từ sirasi xem ra có phần bị đâm thủng –  chú giải Vv-a 24. 205.

[38].  Chú giải Be Se  giải thích là voropesi c̣n bản văn Ce ghi là coro māresi, một người cướp bị giết; đây là điều không rơ ràng đối với cách giải thích này.  không thấy xuất hiện trong các ấn bản đă được biết tới, đă được ghép vào tập chú giải ở đây. Woodward h́nh như  không thể nhận ra sự khác biệt này, Dhp-a  i 323 giải thích là eko luddako vijjhitvā māresi, nhưng ngay cả điều này h́nh như không khiến khởi sanh cách giải thích coro māresi.

[39].  Be Se giải thích là ta (Ce na); bản văn lại bỏ qua.

[40]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ānantariyakamma c̣n bản văn ghi là ānantarikakappa.

[41]. Trong tập  chú giải Trung Bộ Kinh (M) iii 255 người ta cho chúng ta biết rằng các của bố thí dành cho các thinh văn được nhiều công đức hơn là của bố thí dành cho những người không phải là các thinh văn, và ư nghĩa ở đây là h́nh như các hành vi bất thiện cũng tương tự như vậy đem lại nhiều việc đáng trách hơn là thực hiện điều ǵ khác hơn thế.

[42]. Micchāpaihita; đối nghịch lại với sammāpaihita, được hướng dẫn một cách đúng đắn, như trong tập chú giải Ud-a 320 dưới đây.

[43]. Imesa sattāna; câu này làm nổi lên nét đặc biệt trong bài tường thuật trong tập chú giải Dhp-a  i 324 (ya hi ’eva corā na verino karonti ta imesa sattāna antopaduṭṭha micchāpaihita citta eva karoti) nhưng h́nh như điều này diễn ra không đúng vị trí ở đây.

[44].  Chú giải Ce bỏ qua.

[45]. Ce Be Se giải thích là dūsanīya c̣n bản văn ghi là dusanīya; hay đơn giản chỉ là “người làm hư hỏng” –  chú giải SED sv dūsaīya/ dūsiya.

[46]. Chú giải Ce Be giải thích là ya tassa c̣n bản văn Se Dhp-a ghi là ya ta tassa.

[47]. Ce Be Se giải thích là ya tassa, c̣n bản văn Dhp-a ghi ya ta tassa

[48]. Bản văn Dhp-a chèn thêm pana na;  Chú giải Ce Se lại bỏ qua na Be bỏ qua tất ca.

[49]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vuttappakāro hi c̣n bản văn  (Dhp-a) ghi là vutta (p) pakārehi.