NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9. NGHỀ THỦ CÔNG

Trong Kinh Phật thứ chín: Giờ đây, hỡi các chư huynh, ai trong các ngươi biết được một nghề thủ công nào đó (ko nu kho āvuso sippa jānāti) : Hỡi các chư huynh, ai trong chúng ta qui tụ lại tại nơi đây đă có được một số phương tiện kiếm sống, dựa trên chính kinh nghiệm[1] của ḿnh, ta gọi điều là “nghề thủ công” hiểu theo nghĩa cần thiết phải có một chút huấn luyện. Người nào đă được huấn luyện một nghề nghiệp (ko kiṃ sippaṃ sikkhi): kẻ nào, đă tham gia trong một thời gian dài tại một gia đ́nh của người nào đó là thầy dạy nghề, đă được huấn luyện cả về lư thuyết lẫn thực hành[2] trong nghề đó từ những thầy dạy nghề như là nghề huấn luyện voi chẳng hạn v.v…[3]. Nghề nào là nghề chính (katara sippa sippāna [4]) nghề nào là nghề chính, là cao nhất, trong các nghề, v́ lư do không thể tiếp cận được[5], v́ lư do  đem lại hiệu quả lớn, và v́ lư do nó mang lại thành công mà không gặp khó khăn ǵ; dựa trên căn bản đó, một người có thể sống dễ dàng, đây chính là ư nghĩa. Một số trong đó (’ ekacce): một số trong các Tỳ khưu đó, những người đó[6] đă xuất gia nơi những gia đ́nh là chủ voi. Nói như vậy (evam āhasu) : những người này đă công bố như vậy. Cũng như ở dưới đây, phương pháp được áp dụng giống như vậy tại những nơi như vậy như thể ekacce (một số) đă được nói tới. [205] Nghề luyện voi (hatthisippaṃ): toàn bộ nghề này diễn ra liên quan đến những ǵ được biểu diễn với voi, được phân chia thành bảy loại nghề luyện voi: bẫy voi, thuần hoá voi, dẫn voi, và trị bệnh cho voi vv… từ đó ám chỉ những ǵ liên quan đến “nghề luyện voi [7]” trong trường hợp này.” Nghề luyện ngựa (assasippaṃ):  nghề này cũng vậy, phương pháp vẫn có phần giống nhau. Nghề đóng xe (rathasippaṃ), tuy nhiên, ta nên được hiểu không những chỉ có việc thuần hóa ngựa và luyện ngựa đua[8] thôi đâu v.v…mà c̣n có nghề thiết kế xe ngựa, nhưng c̣n gồm cả việc đóng xe ngựa nữa. Nghề bắn cung (dhanusippaṃ): nghề làm cung; c̣n[9] được gọi là  “Dhanurveda”[10]. Nghề đúc kiếm (tharusippaṃ) : nghề này có liên quan đến những việc chế tạo vũ khí. Nghề ra dấu hiệu (muddāsippaṃ [11]): là nghề tính toán bằng cách ra dấu[12] hiệu bằng tay. Nghề kế toán (gaṇanasippaṃ  [13]): là nghề tính toán không gián đoạn[14]liên tục. Nghề thẩm định (sakhānasippa): nghề tính toán thành từng khối lượng lớn bằng cách thêm vào[15] hay trừ đi v.v…[16] người nào sành nghề này ngay cả chỉ nh́n một cây, cũng có thể tính toán được,[17] “có bao nhiêu[18] lá ở trên cây”. Nghề thư pháp (lekhāsippa) : là nghề viết những vần chữ theo kiểu rồng bay phượng múa; hay nói cách khác đây là khoa viết thư pháp[19]. Nghề làm thơ (kāveyyasippa): nghề này [20] sáng tạo ra những bài thơ [21], có bốn loại nhà thơ như: nhà thơ tưởng tượng v.v… làm thơ bằng chính trí tưởng tượng của mỗi người, nghề làm thơ nhờ nghe hay đọc được thơ của người khác, bằng cách thâm nhập vào các vần thơ đó, đây là cách du nhập. Chính v́ thế ta sẽ phân tích đoạn thơ đó[22] hay bằng cảm hứng nổi lên ngay tại chỗ sau khi đă đọc một số bài thơ[23], kết quả là “ta sẽ sáng tác một bài thơ[24] nhằm đối lại bài thơ đó” Về điểm này Đức Phật nói rằng, “Hỡi các vị Tỳ khưu, có bốn loại nhà thơ [25] như kể trên: làm thơ theo trí tưởng tượng, làm thơ liên quan đến truyền thống truyền khẩu,[26] làm thơ liên quan đến du nhập[27] thơ của người khác, và làm thơ  theo cảm hứng” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 230). Nghề Lokāyata (lokāyatasippa): nghề này chính là khoa ngụy biện, chối bỏ cơi đời sau và níp bàn[28] được tiến hành theo phương pháp suy luận, “con quạ có màu trắng là do xương của nó có màu trắng; con sếu màu đỏ là do màu đỏ trong máu con vật đó.[29]v.v…Nghề hành chính (khattavijjāsippa): là nghề làm chính trị như là (luận án về) Aṅgi và Māsurakkha v.v…[30]người ta nói rằng đây là tên dành cho mười hai nghề quan trọng. Chính v́ lư do đó ngài nói rằng, “nghề chính”  về điểm này và đó là như vậy.

Thẩm định lại vấn đề (etam attha viditvā): thẩm định vấn đề dưới mọi khía cạnh, thực chất là v́ lư do có nhu cầu sống. Trong toàn bộ lănh vực nghề nghiệp[31] đều không thể xảy ra thoát khỏi đau khổ nơi ṿng luân hồi. [206] Hơn thế nữa, có một thực tế là chỉ có một cách thoát khỏi đau khổ đó là giới, v.v…phải hoàn toàn thanh tịnh và hiện trạng các vị Tỳ khưu làm nghề nghiệp ǵ đó được t́m thấy nội trong việc cung cấp cho cuộc sống mà thôi, chính v́ thế Phật Tự Thuyết này đă khởi sanh nhằm giải thích vấn đề này. Về điểm này:

Không kiếm sống bằng một nghề (asippajīvī): ngài là kẻ không sống bằng bất kỳ nghề nghiệp nào[32] v́ ngài không biến cuộc sống[33] lệ thuộc vào bất kỳ nghề nghiệp nào cả. V́ lư do đó bất kỳ hy vọng nào về những nhu cầu thiết yếu đă bị trấn áp do việc đoạn trừ này, dưới dạng đoạn trừ đến tận gốc rễ[34] bốn loại tái sanh[35]; theo cách đó ngài đă làm rơ giới (sīla) chính là thanh tịnh các phương tiện cuộc sống.[36]. Nhẹ kư (lahu): ngài rất nhẹ kư, là v́ thiếu thức ăn dồi dào[37] v́ lư do ngài thiếu không có các địa vị và tiền bạc cho cuộc sống,[38] theo cách thức này ngài chỉ rơ cho thấy tính cách dễ nuôi của ngài hoàn tất được thông qua tri túc về bốn nhu cầu cần thiết. Người  nào muốn t́m kiếm hạnh phúc (atthakāmo): ngài là người chỉ ước muốn hạnh phúc, v́ ngài ước ao, muốn[39] có hạnh phúc, nhưng chẳng phải thứ hạnh phúc nào khác hơn là thứ hạnh phúc cho cơi thế gian cùng với các chư thiên; theo cách thức này, v́ lư do  tránh những ǵ không phải là hạnh phúc cho chúng sanh đă được thể hiện, ngài đă làm rơ giới thu thúc trong[40] giới bổn (Pātimokkha). Do việc giải thích làm rơ hoàn toàn việc kiềm chế của ngài khỏi những sự việc không thuộc hạnh phúc cho chúng sanh, như thể sát sanh v.v…Với căn được thu thúc (yatindriyo) : ngài có các căn giúp thu thúc bằng cách quán xét. V́ lư do đó tham ái không thể nổi lên v.v…thuộc lục căn: như nhăn căn v.v…; như vậy chính giới thu thúc các căn được đề cập đến ở trên. Đă giải thoát hoàn toàn dưới mọi góc độ (sabbadhi vippamutto): khi một người nào đó có giới đă được thanh tịnh hoàn hảo đến như vậy, và người đó lại hoàn toàn tri túc về bốn nhu cầu cần thiết, sau khi đă nhiệt t́nh tu luyện thiền Minh Sát như am hiểu các hành chỉ là vô thường v.v…[41] sau khi đă hiểu được danh và sắc chỉ là các pháp hành mà thôi, đă giải thoát đến mọi khía cạnh, dưới mọi hoàn cảnh, liên quan đến những lần tái sanh v.v… v́ lư do đó các kiết sử đă được diệt trừ bằng cách áp dụng tứ thánh đạo sẽ diễn ra rất thành công và tiếp theo ngay sau đó. Hành giả vô gia cư, là người chẳng sở hữu bất kỳ thứ ǵ, là người không ước ao trông chờ điều ǵ hết (anokasārī amamo nirāso): tương tự như vậy, v́ lư do đó một thực tế là ngài đă giải thoát hoàn toàn dưới mọi khía cạnh, ngài đă trở thành hành giả vô gia cư, lư do là chẳng có nơi nào trở thành điểm đến (hẹn) cho ngài cả.[42] Với ái trong dục giới được coi là những nơi cư trú; ngài đă trở thành người chẳng “sở hữu” điều ǵ (chẳng có ǵ là của ḿnh) v́ lư do đó chẳng có bất kỳ điều ǵ biến thành sở hữu của ngài cả, ở bất kỳ nơi nào giữa các sắc v.v…; ngài là người “chẳng trông chờ điều ǵ” v́ lư do đó ngài chẳng có ǵ để trông chờ cả. Ngài chỉ là một vị Tỳ khưu, sau khi đă là vị hành giả đơn phương độc mă, sau khi đă diệt trừ ngă mạn (hitvā māna ekacaro sa bhikkhu): và như vậy, với tư cách là một hành giả đơn phương độc mă, giữa bốn oai nghi thân, kết quả là ngài ước ao trở thành sa môn[43] và rơi vào hiện trạng một người chẳng có chút ái dục như: người bạn hữu,[44] không tu luyện, không giống như các Tỳ khưu này, kết thân thành nhóm[45], sau khi đă từ bỏ, sau khi đă diệt trừ ngă mạn không dư sót trong cùng một thời điểm đó, ngài đă chứng đắc thánh đạo A-la-hán. Được nhận ra[46] (biết đến) với tư cách là “Tỳ khưu” hiểu theo nghĩa tột đỉnh, v́ lư do mọi phiền năo nơi ngài đă bị đoạn tận hoàn toàn. Và về điểm này, chính là các ân đức hiệp thế ta đang đề cập đến bằng câu“không sống nhờ bất kỳ một nghề nào” v.v…các ân đức siêu thế được đề cập đến ở đây chính là “giải thoát hoàn toàn dưới mọi góc độ” v.v… về điểm này, ngài giải thích làm rơ được câu “không sống nhờ bất kỳ nghề nghiệp nào.” Và cũng như vậy ngài làm rơ: “ Phật Pháp này chỉ dành riêng cho những ai trú ngụ nơi vô sanh, không dành cho kẻ nào lo kiếm sống[47] qua tà mạng phụ thuộc vào một nghề nghiệp nào đó; chính v́ thế các ngươi cần phải từ bỏ dựa trên bản chất của bất kỳ nghề nghiệp nào mà hăy tự huấn luyện ḿnh theo giới cao siêu hơn v.v…

Đến đây kết thúc diễn giải Kinh Phật thứ chín.


 

-ooOoo-


[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là jīvitanimitta c̣n bản văn ghi là jīvikānimitta;  theo nghĩa đen điều này lại thuộc về cuộc sống trên thế gian này.

[2]. Āgamato payogato ca; hay theo truyền thống và nghề nghiệp, CPD, sv āgama, trích dẫn điều này làm ví dụ cho truyền thống cho dù có thể đây chỉ là một ví dụ về “nghiên cứu” hay “khoa học” như SED đă xác minh sv, cũng như payoga h́nh như cũng là một ví dụ tu tập (đối nghịch lại với lư thuyết) như đă được tự điển SED chứng thực.

[3]. C̣n bản văn chèn thêm assa; Ce Be Se lại bỏ qua.

[4]. Chú giải Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là katarasippa sippāna, Ce ghi katara sippāna

[5]. Agārayhatāya; tham khảo tự điển CPD, sv agārayha “Spk i 417”  h́nh như không xác thực.

[6]. Ở đây tôi theo cách chấm câu trong Be Se, tức là Be pabbajitā/ te// Evam āhati, c̣n bản văn Ce ghi là pabbajitā // Te evam āhasū ti.

[7]. Chú giải Ce Be Se giải thích là hatthisippan ti, c̣n bản văn ghi là hatthisippaṃ.

[8]. Sāraa;  không thấy ghi theo nghĩa này trong tự điển PED hay SED.  Chú giải Vv-a 86, trong đó ta dịch là “dàn xếp”

[9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yo c̣n bản văn cũng giải thích như vậy.

[10]. Tôi đoán chừng cách dịch là dhanubbedho, điều thông thường với tất cả các ấn phẩm được sử dụng, lại sai ở từ Dhanubbedo. Một bài viết nổi tiếng về nghề bắn cung được coi như là một Upaveda. Chú giải CPD, sv issāsasippa, đă in từ ghép 

thành dhanubbedo, không lưu ư đến đặc tính không b́nh thường này. Woodward chấm câu là ’ubbedho. H́nh như lại quyết định lấy yếu tố đầu của từ ghép là dhana.

[11].  Chú giải Se giải thích là muddhāsippa.

[12]. Chú giải Ce Be giải thích là hatthamuddāya gaanasippa (Se ghi hatthamuddhāya gaṇanāsippaṃ) c̣n bản văn ghi là hatthamuddāya gaasīsena sippa.  Chú giải bài thảo luận trong PED sv muddā,  trong B disc ii 176 n 4 Dial i 21 n 4 và VofU 38 n.2. Trong DA 95 chúng ta thấy muddā được giải thích là hatthamuddāgaanā vuccati, về điểm này, Sv-p đă nghiên cứu kỹ lưỡng như sau: 

Hatthena adhippāyaviññāpana hatthamuddā; tathā ’ eva gaanā. Chính v́ vậy có điều đă xảy ra là tác giả đă hiểu từ hatthamuddāgaanā trong DA thành dvandva, hatthamuddā có nghĩa là khiến người khác phát hiện ra ḿnh đang tập trung chú ư bằng cách lấy tay ra hiệu, gaanā là cách đếm số bằng cách co duỗi những ngón tay lại. Nếu như vậy, th́ cách giải thích của Dhammapāla bằng các từ “nghề tính toán bằng cử điệu bàn tay” rất có thể được biết rơ như là “cách tính toán bằng các cử chỉ bàn tay người khác”.  Sự giải thích nào bảo đảm sự phân biệt giữa muddā và gananā đối với những ai quan tâm, chúng tôi cảm thấy không hài ḷng ở sự ghi chú B disc. Chú giải Trung Bộ Kinh II 56 cũng giải thích muddā theo như angulipabbesu sannam thapetvā hatthamuddā . Do  đó không chắc có quân đội nào quan trọng bằng Ireland  được ám chỉ (p 49 n 14)

[13].  Chú giải Se giải thích là gaanāsippa ở đây và trong phần chú thích.

[14]. Acchiddakao; chú giải Se giải thích là acchiddao Sv-p cắt nghĩa là Pārasikamilakkhakādayo viya navantavasena gaanā, việc tính toán bằng cách thêm vào số chín và đối với người ngoại quốc như người Ba Tư v.v… “Việc tính toán bằng tận ở số chín” có thể hiểu là hệ thống thập phân được thừa hưởng từ cách tính của người Ả rập có nghĩa là 1-9, 10-19. v.v… tức là một hệ thống dựa trên mười số hơn là một dựa trên số chín. Trong khi đó thực tế rơ ràng đây không phải là hệ thống sử dụng trong khoảng thời gian īkās nổi lên. Một khối lượng lớn cách phân loại theo cấp số nhân bốn td. Tứ chân đế, tứ lậu, tứ thánh đạo, tứ thánh quả, tám thiền Jhanas, bát chánh đạo, mười sáu nhiệm vụ, ba mươi hai tướng, một phần thân thể. v.v… tất cả đều dựa trên một bốn hay tám, chú giải, the Scientific American, March 1983. tr. 49 điều này gợi ư cho thấy có một hệ thống tính toán rất có thể đă được sử dụng nơi những người Dravidians. Cách giả thích Sv-p lại xung khắc với hệ thống đưa ra trong Dial i 22 n 1.  

[15]. Ce Be giải thích là saṅkalanao (Se sakalana) c̣n bản văn ghi là saṅkhalanao

[16]. Pauppādanādi; Sv-p khẳng định rằng bằng cách dùng từ ādi (v.v…) th́ phép nhân và phép chia cũng được gộp lại trong đó.

[17]. C̣n bản văn ghi thêm ca; Ce Be Se bỏ qua. 

[18]. Chú giải Be Se giải thích là gaṇituṃ (Ce vl) c̣n bản văn Ce ghi là bhaṇituṃ.  Chú giải MA ii 56 cũng đưa ra thêm nhiều ví dụ nữa.

[19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là lipiñāa c̣n bản văn ghi là likhañāa; viết chữ tại phương đông theo truyền thống liên quan đến việc ghi hay khắc chữ lên lá buông bằng một cây bút trâm.  Cũng xin đọc thêm chú giải B Disc ii 177 n 1. 

[20]. Chú giải DA 95 cũng tương tự như vậy; cũng như AA iii 211.

[21]. Kabbao ; Se ghi là kattabbao

[22]. Chú giải Be giải thích là naṃ c̣n bản văn ghi là taṃ; Ce Se lại bỏ qua.

[23]. Chú giải Ce Be giải thích là kabbaṃ c̣n bản văn Se ghi là kattabbaṃ.

[24]. Chú giải Ce Be giải thích là kabbaṃ c̣n bản văn Se ghi là kattabbaṃ.

[25]. Theo Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 230, bản văn chèn thêm katame cattāro trong ngoặc kép; Ce Be Se lại bỏ qua.

[26]. Sutakavi; rất có thể  là một nhà văn viết ca khúc ballads

[27]. Atthakavi; theo tự điển CPD sv. là một nhà thơ giáo khoa.

[28]. Chú giải Ud-a 394 dưới đây.

[29]. Chú giải DA 91 trong đó có hai ví dụ khác nữa được đưa ra; cũng xin đọc thêm DA 247.

[30]. Chú giải Be giải thích là abbheyyao , Se (Ce vl) ajjheyyao c̣n bản văn Ce ghi là ageyyamāsurakkhādi;  cũng xin đọc thêm chú giải DA 93. CPD, dựa trên cơ sở ‘P” (rất có thể là ấn bản tiếng Miến), yêu cầu giải thích là Abbheyya hay Ambheyya, cho rằng đây là một tên riêng. Trong khi đó Sv-p i 167 (Ee) lại giải thích như sau: Agino sattha ageyya Māsurakkhena kato gantho Māsurakkho (Aṅgeyya  là một luận án viết về những người Aṅgi, cuốn sách Māsurakkha do người Māsurakkha sáng tác). Không rơ aṅgi có phải là một tên riêng hay không – rất có thể có tham khảo về từ Aṅgir (theo SED th́ ông ta là một thầy Rishi đă nhận Brahmavidyā từ tay Arthavan và truyền đạt cho Satyavāha, là thiền sư người Agiras), hay là người sở hưũ Agas, hay ngay cả tiếng Agī (có nghĩa là lời hứa, đồng ư, và như vậy rất có thể (một chuyên luận về hiệp ước hay công ước) cũng không rơ ràng. SED có một mục từ ngắn gọn là Masurakita; rất có thể đây là tên một ông vua.

[31]. Sabbasippāyatanāna; Chú giải DA 156; sippam eva sippāyatana.

[32]. Ce Be Se và Ud giải thích là asippajīvī  c̣n bản văn ghi là asippajīvi.

[33].  Chú giải Ce Be giải thích là jīvika c̣n bản văn Se ghi là jīvita.

[34]. Samucchedavikkhambhanena; ở đây Se ghi sudūravikkhambhanena 

[35]. Liệt kê trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 10 = It 109; Vibh 375.

[36]. Chú giải Ce Be Se (và Thanh Tịnh Đạo 22) giải thích là ājīvapārisuddhisīla c̣n bản văn ghi là  ājīvaparisuddhisīla . Đây là một trong bốn cách phân chia giới (sīla) được t́m thấy trong Thanh Tịnh Đạo 11tt.

[37]. Chú giải Ce Be Se giải thích là abahulasambhāro c̣n bản văn ghi là abahusambhāro.

[38].  Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 241, trong đó hai từ này được định nghĩa rơ ràng.

[39]. Icchati; Be  lại bỏ qua.

[40].  Chú giải Ud-a 223tt dưới đây.

[41].  Chú giải Ud-a 191.

[42]. Be giải thích là abhisaraṇassa  c̣n bản văn Ce Se ghi là abhissaraṇassa.

[43]. Điều này có thể trở nên rơ ràng hơn nếu như được giải thích chung với  chú giải Ud-a 231 dưới đây.

[44].  Chú giải S i 83 trong đó Ajātasattu được cho là pāpasahāyo.

[45].  Chú giải chú thích trong Ud-a 231 dưới đây.

[46].  Chú giải Ce Be Se chèn thêm so, c̣n bản văn lại bỏ qua. Cách chèn thêm như vậy xem ra không bảo đảm, v́ so cũng đă xuất hiện trước đó trong câu văn rồi.

[47].  Chú giải Ce Be giải thích là jīvika c̣n bản văn Se ghi là jīvitaṃ.