NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. NANDA

[168] Trong Kinh Phật thứ nh́: Nanda (Nando) là tên của ngài. V́ ngài đă được đặt [1]”khi vừa mới sanh ra[2], ngài đă khiến cho cha mẹ ngài thật sung sướng (nandayanto), kể cả những người đầy tớ và toàn thể họ hàng ruột thịt, do đă có một tướng (dấu hiệu) đặc biệt của một chuyển luân[3]. Em trai Đức Phật (Bhagavato bhātā): là em của Đức Phật v́ là con do cùng cha sanh ra, v́ chẳng có ai được sanh ra cùng một người cha với Đức Phật cả. V́ lư do đó người ta nói đây là“con trai của cậu” ư nghĩa ở đây là “con trai của người em gái mẹ Đức Phật sanh ra” v́ ngài  là con trai của Mahāpajāpati Gotamī[4]. Không t́m thấy thú vui: anabhirato = na abhirato (một dạng ngữ pháp khác) vị Phạm hạnh (brahmacariyaṃ)[5] : vị thánh (brahmaṃ), phẩm hạnh tốt nhất, tột đỉnh, đang ngồi thiền một ḿnh, ngủ một ḿnh, và kiêng cữ không quan hệ t́nh dục. Tiếp tục một cách thích hợp (santānetu) [6] tiếp tục[7] (tānetu), duy tŕ (v́ cuộc sống phạm hạnh) (Brahmacariya) một cách thích hợp (sammā), kết thúc hoàn toàn, thanh tịnh hoàn toàn từ tâm đầu tiên cho đến tâm cuối cùng; và liên quan đến vấn đề này bằng (ví dụ điển h́nh) từ thứ hai “cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) ta cũng nên hiểu bao gồm cả cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) lại là thánh đạo. Từ bỏ điều học (sikkha paccakkhāya): chối bỏ toàn bộ tam học[8] , vẫn rất nổi tiếng v́ vẫn cần được đem ra thực hành.[9] Được thực hiện chung trở thành một vị Tỳ khưu vào thời điểm được thọ cụ túc giới; có nghĩa là từ bỏ. Đối với cuộc sống hạ giới (hīnāya): cuộc sống trong gia đ́nh. Sẽ đảo ngược (āvattissāmi): sẽ trở lại. Nhưng tại sao ngài lại thông báo cho họ như vậy[10]? Về vấn đề này, đây là một câu chuyện[11] lịch sử.  

Đức Thế Tôn[12] đang lưu lại trong Khu Rừng Tre, sau khi đă du hành đến thành phố Rājagaha với tư cách là một người đă Chuyển Pháp Luân tuyệt vời nhất, khi nhà vua Suddhodana[13] sai mười sứ giả đến gặp Ngài, mỗi vị đi cùng với một đoàn tuỳ tùng gồm một ngàn người, họ ra đi mang theo lời dặn ḍ là phải thỉnh cho được con trai của nhà vua về và yết kiến nhà vua. Khi các sứ giả cùng với đoàn tùy tùng của họ đều đạt đến bậc A-la-hán  (Đức Phật) vừa mới được mời về thăm quê cha đất tổ là nơi chôn nhau cắt rốn sau khi được vị Trưởng lăo udāyi  báo cho biết, người cuối cùng[14] (trong số mười vị sứ giả) đă chứng đắc A-la-hán th́ đến thời điểm phải đi, đă đi sau khi yêu cầu ngài một lời giải thích về con đường[15]. Ngài đă vào thành phố Kapilavatthu vây quanh là hai mươi ngàn người đă đoạn tận các phiền năo. Tại đó Ngài vừa gặp được các họ hàng, Đức Phật đă khiến một đám mưa hoa sen rơi xuống, liên quan đến chuyện kể trong Kinh Bản Sinh Vessantara. Thế rồi, khi Đức Phật đi vào thành khất thực vào sáng ngày hôm sau, Ngài đă tế độ cha Ngài trở thành vị Nhập Lưu thánh quả, với một đoạn kệ “Xin đừng dễ duôi đi khất thực[16]” (Dhp 168) thế rồi Ngài tiến tới nơi cư trú dành cho Ngài, tại đó Ngài đă tế độ Mahāpajapati trở thành vị Nhập Lưu thánh quả và nhà vua trở thành vị Nhất Lai với đoạn Kệ “hăy tu luyện Phật Pháp ” (Dhp 169)

[169] Hơn thế nữa, với việc ngưng công việc sửa soạn bữa ăn, Ngài kể lại một câu chuỵên dựa vào Kinh Bản Sinh Candakinnarī Jātaka liên quan đến những ân đức đặc biệt của mẹ ngài Rāhula[17], ngày thứ ba Ngài lại vào trong thành khất thực khi đó có diễn ra việc cúng lễ, bước vào trong nhà lễ cưới hoàng tử Nanda đang diễn ra[18], Ngài đưa bát khất thực vào tay hoàng tử Nanda, đọc lời chúc phúc và rồi, Ngài ra đi sau khi đă rời khỏi ghế ngồi, Ngài đă không lấy lại bát khất thực từ tay hoàng tử. Xuất phát từ việc kính lễ vị Như Lai, Hoàng tử không thể nói “Ôi Đức Thế Tôn, làm ơn xin nhận lấy bát khất thực của Ngài.[19]” Hơn thế nữa hoàng tử nghĩ như sau: “Ngài sẽ cầm lấy bát khất thực tại đầu cầu thang kia.” Bậc Đạo Sư cũng không thể nhận lấy bát khất thực tại địa điểm đó; hoàng tử lại nghĩ “Chắc hẳn Ngài sẽ lấy bát khất thực ở cuối cầu thang chăng” Bậc Đạo Sư cũng không cầm lấy bát khất thực của ḿnh ở cuối cầu thang; hoàng tử lại nghĩ  “Chắc Ngài sẽ nhận bát ngoài sân hoàng cung chăng” Bậc Đạo Sư cũng không thể nhận bát khất thực tại sân. V́ muốn quay trở lại vị hoàng tử đă theo một cách bất đắc dĩ, do ḷng kính trọng[20], ngài liền nói, “Làm ơn xin Ngài nhận lấy bát khất thực.” Hoàng Tử lại tiếp tục nghĩ rằng “Giờ đây chắc hẳn Ngài sẽ nhận lấy bát khất thực; Ngài sẽ nhận lại bát khất thực tại đây[21].

Vào lúc đó, họ thông báo cho người dể thương nhất đất nước[22] rằng: “Hỡi phu nhân của ta, Đức Phật sắp rời khỏi chúng ta, mang theo nhà vua Nanda; Ngài [23] chia rẽ nhà vua với nàng đó”. Nàng vội chạy lên sân thượng với mái tóc mới chải được có một nửa, nước trên đầu c̣n chảy xuống từng giọt[24] nàng đứng ngay chiếc rèm cửa sổ và nói “Hỡi phu quân, mong rằng hoàng tử mau chóng quay trở lại với thiếp chăng”, lời nói của nàng đă ghi đậm trong trái tim của hoàng tử như thể ở gần bên cạnh[25]. Hơn thế nữa, Bậc Đạo Sư vẫn chưa chịu nhận bát khất thực từ tay chàng và, sau khi đă để cho Ngài đi đến thiền viện nói rằng “Nhà ngươi phải xuất gia, hỡi Nanda.” Do ḷng kính trọng đối với Bậc Đạo Sư, hoàng tử đă không thể nói lên lời từ chối “ta sẽ không xuất gia” và (thay v́) nói vâng, ta sẽ xuất gia” ngài lại nói, “Trong trường hợp đó, hăy để cho Nanda xuất gia” Bậc Đạo Sư đi đến thành luỹ Kapilavatthu[26] và vào ngày thứ ba Ngài đă khiến cho Nanda xuất gia.[27]

Vào ngày thứ bảy, Ngài đă khiến cho hoàng tử Rāhula, là người đă tự đến chỗ nghỉ ngơi của Thế tôn,[28] sau khi bà mẹ[29] đă sai đến làm duyên cho Rāhula thực hiện chuyến xuất gia, sau đó Rāhula nói rằng “Hỡi vị sa môn, hăy chia phần gia tài cho con.”[30] Vào một ngày khác[31], sau khi đă kể lại Kinh Bản Sinh Mahādhammapāla, Ngài đă tế độ nhà vua thành thánh quả Bất lai. V́ lư do đó, sau khi Đức Phật đă trở lại một lần nữa đến thành Rājagaha vây quanh là một Tăng đoàn các vị Tỳ khưu sau khi đă thiết lập bà Mahāpajāpati nơi thánh quả nhập lưu; c̣n cha Ngài đă chứng đắc ba thánh quả. Khi Ngài hứa là sẽ đi từ nơi đây đến thành Sāvatthi, có Trưởng giả Anāthapiṇḍika tiếp đón ngài, tại đó sau khi đă kết thúc xây dựng một thiền viện rất lớn tại khu rừng Jeta, làm nơi cư trú cho Ngài.

Và mọi việc đă diễn ra như vậy, khi  Bậc Đạo Sư c̣n đang lưu lại tại khu rừng Jeta, có vị hoàng tử Nanda, [170] là người rất ngại xuất gia, và là người không nhận ra được nỗi nguy hiểm dục lạc, đă trở thành nhàm chán[32] khi nhớ tưởng về lời tuyên bố được thốt lên do người yêu mến nhất trong nước và thông báo cho các Tỳ khưu về việc ngài không c̣n hứng khởi trong cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) v́ lư do đó người ta nói rằng, “và vào dịp đó, Trưởng lăo Nanda…đă quay trở lại cuộc sống[33] hèn hạ.”

Nhưng tại sao Đức Thế Tôn đă làm cho người này xuất gia[34] như vậy? Nhận ra rằng ḿnh không thể chia tay nổi khỏi dục lạc, bằng cách đầu tiên chỉ ra cho thấy những mối hiểm nguy trong đó, nhưng sau khi đă bảo cho ngài quyết định xuất gia và chia tay với chàng bằng những cách thức[35] khôn khéo, ngài có thể tạo ra ngay cả sự phân biệt rơ ràng hơn đă xuất hiện. Bậc Đạo Sư rất toàn vẹn thuần hóa những ai có khả năng chịu hướng dẫn, v́ thế trước tiên đă khiến cho chàng xuất gia. C̣n người con gái Thích Ca (Sākiyānī): nàng công chúa Thích Ca. Dễ Thương nhất nước: janapadakalyāī = janapadamhi kalyāī  (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), là người phụ nữ đẹp nhất, là người không thấy xuất hiện sáu thiếu xót nơi thân, người được thành tựu với năm đặc tính dễ thương. Do bởi nàng không quá cao, không quá thấp (lùn)[36] không quá ốm, không quá mập, không quá đen[37], không quá trắng, một người vượt trội làn da chúng sanh, (nhưng) là người đă không đạt được nước da[38] thiên đ́nh, chính v́ thế nàng là người không thành tựu[39] sáu nhược điểm về thân, nàng được phú cho sáu đặc tính dễ thương, tức là: dễ thương nơi làn da, dễ thương nơi cơ bắp, có móng tay, móng chân tuyệt đẹp, có bộ xương cân đối, và nét đẹp trẻ trung cũng rất hấp dẫn. Về khía cạnh này[40] nàng có thể toả sáng một vùng khoảng độ mười đến mười hai hatthas[41] với ánh sáng rực rỡ từ chính cơ thể nàng toát ra, hoặc giả nàng lại giống hệt như cây piyaṅgu[42] (cây tắc) hay loại cây giống như vàng, đó là làn da dễ thương của nàng[43]. Hơn nữa, tứ chi của nàng và cặp môi[44] trông tựa như san hô đỏ hay vải len đỏ, giống như được trát lên một lớp sữa tinh chất, đó là hương thương da thịt của nàng, hai mươi phiến móng của nàng tọa lạc ở vị trí dính chặt không thể rời khỏi phần thịt, giống như được trát[45] một lớp sữa tinh chất, tại một vị trí trông giống như những ḍng thác sữa đang tuôn trào, đó là vẻ đẹp dễ thương nơi móng tay móng chân của nàng. Ba mươi hai chiếc răng của nàng, rắn chắc[46]giống như một hàng san hô hoàn toàn tinh khiết, xuất hiện trông tựa như những hàng đá quí, đó là vẻ đẹp đáng yêu của xương. Cho dù có tồn tại trong khoảng thời gian một trăm hai mươi năm, dáng vẻ của nàng vẫn giống như con gái mười sáu, không một sợi tóc bạc[47] nào, đó chính là tính trẻ trung dễ thương của nàng và nàng xinh đẹp, được ban tặng cho những phẩm chất đặc biệt dưới dạng như vậy,v́ lư do đó có lời nói rằng “Nàng là người phụ nữ đáng yêu nhất nước.”

Vừa ra khỏi nhà (gharā nikkhamantassa) đây là sở hữu cách (hiểu theo nghĩa) thiếu quan tâm, ư nghĩa là gharato nikkhamato (một dạng ngữ pháp khác). Cũng[48] giải thích là gharā nikkhamanta. [171] Với mái tóc mới chải được một nửa (’ ullikhitehi kesehi) là sử dụng cách làm dấu hiệu phương thức. Ư nghĩa ở đây là việc chải tóc đă bị gián đoạn nửa chừng. Họ cũng giải thích là ’ullikhitehi (từ đồng nghĩa) [49] ullikhitaṃ [50](đang chải dở dang) đang sửa soạn mái tóc có h́nh dáng trông giống như mào con rắn vậy.[51]v.v… họ cũng nói là mái tóc được rẽ đôi [52]. Nh́n lên (apaloketvā): nh́n xuống (oloketvā) như đang dán nửa con mắt,[53] tựa như ám chỉ tỏ ra rất tŕu mến yêu thương và đầy t́nh cảm[54]. Ôi Đức Thiện Thệ, đối với tôi (maṃ bhante) : ngay cả trước đó đă thốt lên từ maṃ (“ta”) do tâm của chàng đă bị quẩn, kết quả là chàng đă quá chán nản, chàng lại nói thêm  “đă nói điều đó với ta[55] (maṃ), một cách nhanh chóng (tuvaṭaṃ) : nhanh chóng. Chính do chăm chú niệm tâm mà (tam anussaramāno): chính do chăm chú niệm (anussaranto, một h́nh thức ngữ pháp khác) mà lời tuyên bố của nàng hay nói cách khác, lời tuyên bố[56] của nàng cộng với cách hành động[57] (mời mọc) như vậy.

Đức Thiện Thệ đang khi dẫn chàng bằng sức mạnh thần thông vào cơi Tam Thập Tam, nghĩ rằng : “Ta phải làm thế sao cho tham dục của chàng lắng dịu xuống bằng những phương cách (khôn khéo) sau khi đă nghe lời tuyên bố này, trên đường đi ngài chỉ cho chàng thấy một con khỉ [58] với tai, mũi và đuôi cắt cụt ngồi trên một gốc cây đang cháy rụi giữa một cánh đồng đang cháy và thế rồi ngài dẫn[59] chàng vào cơi Tam Thập Tam.

Nhưng người ta khẳng định trong Kinh pāli là mặc dù Bậc Đạo Sư có đến[60] cơi Tam Thập Tam chỉ có một lần; điều này được khẳng định do có liên quan đến cơi Tam Thập Tam mà không đề cập ǵ đến việc ngài đă đi tới đó, v́ đang khi đi tới cơi đó Đức Thế Tôn đă chỉ cho Nanda thấy[61] có chú khỉ bị tổn thương. Nhưng nếu điều đó xảy ra như vậy làm thế nào lại xảy ra ví dụ[62] co bóp v.v…? Điều này được coi là một ví dụ khi (chúng) biến mất. Đức Phật đă dẫn chàng vào cơi Tam Thập Tam và cho chàng nh́n thấy năm trăm tiên nữ có chân chim bồ câu đang hầu hạ Thiên Vương đế thích, là vua các chư thiên và ngay lúc đó họ đă đứng yên để chào Đức Phật [63] rồi đặt câu hỏi với chàng về sự khác nhau liên quan đến việc thành tựu sắc đẹp giữa người phụ nữ đẹp nhất nước và về những tiên nữ đó. V́ lư do đó có lời nói rằng, “Thế rồi Đức Phật nắm lấy tay Nanda…(có các tiên nữ) có chân bồ câu (đă xuất hiện để hầu hạ Thiên Vương đế thích, vua các chư thiên”. Về điểm này:

Nắm chặt lấy tay (bāhāya gahetvā): như thể Ngài đă nắm lấy cánh tay (bāhumhi [64]gahetvā, một dạng ngữ pháp khác); v́ vào lúc đó Đức Phật đă thực hiện[65]  uy lực của Ngài như để cho vị Trưởng lăo Nanda nh́n thấy Ngài được nắm lấy cánh tay mà dẫn vào, và[66], về điểm này vừa nh́n thấy cơi Tam Thập Tam  hay tự ḿnh[67] đă vào trong đó, c̣n về phần vị Trưởng lăo, Đức Phật đă muốn là Ngài sẽ chỉ cho Trưởng lăo biết cơi thần tiên là ǵ đang khi c̣n ngồi thiền theo kiểu đó[68] [172] Cũng tương tự như vậy vào lúc Ngài thực hiện thần thông cho Trưởng lăo biết về các cơi thế gian được vén mở[69]; Hay nói cách khác Ngài có thể gửi Trưởng lăo tới đó thông qua thần thông của Ngài. Nhưng v́ sự hiện hưu nhân loại đối với Ngài th́ quá thấp kém và đáng ghê tởm khi so sánh với hiện hữu thiên đàng. Trên đường đi, Ngài muốn chỉ cho Trưởng lăo thấy[70] chú khỉ và muốn chỉ  cho Trưởng lăo những chứng đắc rạng rỡ và tráng lệ liên kết đến cơi chư thiên, sau khi đă đưa Trưởng lăo vào đó, nhằm mục đích muốn tạo cho Trưởng lăo chứng đắc hạnh phúc như vậy, chính v́ thế Ngài đă nắm lấy tay và dẫn Trưởng lăo vào đó, nghĩ rằng theo cách đó sẽ tạo cho Trưởng lăo thích thú đặc biệt đang khi theo đuổi cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya), nhằm đem lại lợi ích cho Trưởng lăo. Có chân bồ câu (kakuapādāni): các tiên nữ có chân giống như [71] chim bồ câu, do chân có màu đỏ. V́ thế có lời nói rằng, “Tất cả họ đều có đôi chân hết sức thanh tú như vậy, do kết quả các cuộc bố thí bằng dầu thoa xức[72] trên chân các đồ đệ vị Thiện Thệ Kassapa. Giờ đây xin nh́n ḱa: passasi no = passasi nu (một dạng ngư pháp khác). Càng[73]đẹp hơn quá chừng (abhirūpatarā): với vẻ đẹp đặc biệt đó. Càng chiêm ngưỡng càng thấy đẹp tuyệt trần (dassaniyatarā): thật đẹp tuyệt trần chưa từng nh́n thấy (passitabbatarā) hiểu theo nghĩa hoàn toàn làm hài ḷng những người nh́n ngắm, ngay cả suốt ngày cũng không nhàm chán. Càng gây cảm hứng thanh thản (pāsādikatarā): đem lại vẻ thanh tú to lớn khắp các phần cơ thể của họ; nhưng tại sao Đức Phật lại tạo cho vị Trưởng lăo Nanda có ḷng chai đá[74] như vậy được chứng kiến các tiên nữ? Để diệt trừ các phiền năo của ngài một cách dễ dàng như vậy. Do đó ta nên hiểu điều này, giống như một lương y tài ba, khi phải chữa bệnh cho những bệnh nhân có quá nhiều thể dịch trong cơ thể, trước tiên Ngài làm tăng thêm[75] những thể dịch trong cơ thể đó, bằng cách cho uống một loại dầu v.v…và sau đó giúp họ tống khứ[76] hết ra ngoài bằng cách ói ra hay cho đi tháo ra ngoài; cũng như vậy đối với Đức Phật, một người rất thành tựu trong việc tế độ những ai có khả năng chấp nhận Ngài hướng dẫn, bằng cách làm gia tăng tính tham dục nơi Nanda, bằng cách cho ngài được nh́n thấy các tiên nữ, sau đó ước muốn tống khứ ra ngoài không dư sót với thuốc trị bệnh đó là thánh đạo. Chú khỉ bị tổn thương (paluṭṭhamakkaṭī ): chú khỉ với tứ chi lớn nhỏ bị thiêu rụi, chính v́ thế (evam eva kho) có nghĩa là với chú khỉ bị tổn thương như thế, tai mũi bị cắt cụt có ư chỉ cho thấy Ngài muốn dùng việc chú giải so sánh với người phụ nữ đáng yêu nhất nước. Cũng giống như vậy nguời phụ nữ đáng yêu nhất nước sánh với năm trăm tiên nữ. Với năm trăm tiên nữ (pañcannaṃ accharāsatāna) là sở hữu cách hiểu theo nghĩa đối cách, ư nghĩa ở đây là pañca- accharāsatāni (năm trăm tiên nữ này); hay nói cách khác đây chính là sở hữu cách liên quan đến các thành phần cấu thành[77]  khi đối chiếu với đặc tính tuyệt hảo h́nh dáng năm trăm tiên nữ này (pañcannaṃ accharāsatāna) là ư nghĩa ám chỉ ở đây và khi đối chiếu với (upanidhāya) chính là khi ta sắp xếp cận kề với[78], có nghĩa là khi so sánh với. Liệt kê (saṅkhyaṃ [79]): phẩm chất năng lực các phụ nữ[80]; hay nói cách khác một phần nhỏ[81]. Một phần chia nhỏ (kakabhāgaṃ):  phần bằng nhau trong phân số đó (kalāya pi bhāga,  thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài. Khi một phần (toàn diện) được phân thành mười sáu phần, một phần trong đó được coi như là một phần mười sáu[82], mỗi một phần trong số đó ta gọi là “một phần nhỏ trong đó”. [173] Ngài cho là nàng không đi đâu xa ngoài phần phân chia nhỏ này đó là cách so sánh. Đối lại với (upanidhiṃ): ngay cả được đặt kế bên bằng cách coi nàng là một, cũng như cách so sánh cho rằng “đây là điều giống nhau[83]”. Hỡi Nanda, hăy hưởng niềm vui thú, Hỡi Nanda, hăy hưởng vui thú đi” được nói ra bằng cách nhắc lại lời tuyên bố[84] với mục đích tạo mối quan tâm đối với sảng khoái, trong đó ta[85] không thể hưởng thích thú được mà không ám chỉ bằng tên, bằng cách nói rằng “Cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) được đề cập đến trước đó, mà chúng ta đă quá quen.” Ta sẽ là người bảo đảm cho các ngươi (ahaṃ te pāibhogo): tại sau Đức Phật lại muốn ám chỉ đến cuộc sống dưới dạng phạm hạnh (Brahmacariya) cho ngài Nanda và hành xử như là người bảo đảm cho cuộc sống không phải dưới dạng phạm hạnh? Chính cách đó tham dục nơi ngài Nanda chắc chắn sẽ diệt trừ đi v́ đó là đối tượng của cuộc sống đó; ngài hành xử như người bảo đảm. Biết rơ rằng điều đó chắc chắn sẽ tạo cho ngài diệt trừ tham dục một cách dễ dàng sau khi đă chuyển sang một đối tượng t́nh cờ khác, một câu chuyện tại thiên đường (theo văn cảnh ở đây) bằng một cuộc nói chuyện liên tiếp[86] là một ví dụ điển h́nh minh họa cho điểm này.

Hăy đến mà nghe (assossuṃ): ta có thể nghe được bằng cách nào vậy? V́ vào thời điểm đó, Trưởng lăo Nanda đă tới[87] chỗ nghỉ ngơi ban ngày, sau khi  Đức Phật đă chỉ cho ngài những nhiệm vụ phải thực hiện. Đức Phật nói đến một biến cố cho các vị Tỳ khưu đang có mặt để phục dịch cho ngài; tuy nhiên, giống như một người tài giỏi sau khi đă tháo gỡ ra được cái chốt[88] không thể lộ ra[89] bằng một cái chốt khác, tiếp đó mới gỡ bỏ được cái chốt đó lấy tay lung lay. Cũng giống như vậy sau khi đă diệt trừ tham dục mà ngài đang chánh niệm tỉnh giác dưới dạng một đối tượng quen thuộc bằng một đối tượng ngẫu nhiên, Đức Phật truyền dạy cho các Tỳ khưu rằng, “Các ngươi phải ra đi và báo cho ngài Nanda biết danh tánh người được thuê và người mua hàng,” cũng ước ao diệt trừ điều đó bằng cách biến thành nguyên nhân thánh đạo, đó chính là cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya)[90]vậy, chính v́ thế các vị Tỳ khưu đă đến và nghe. Tuy nhiên một số lại cho là Đức Phật đă thực thi[91] biểu diễn thần thông của ḿnh làm cho các vị Tỳ khưu đó biết rơ vấn đề. Với tựa là người thuê làm việc: bhatakavādena= bhatako ti vādena (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) v́ bất kỳ người nào làm công để nhận tiền lương thuê được gọi với tên là “người làm thuê”, người ta nói rằng“với danh nghĩa là người làm thuê”, v́ ngay cả Trưởng lăo này, đang khi thực hiện cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) có thể qui vào cách tiêu khiển[92] trong tương lai của các tiên nữ, như thể ngài chính là người “làm thuê ăn lương”. Với danh nghĩa là người mua hàng. (upakkitakavādena) : Bất kỳ ai mua bất kỳ điều ǵ[93] bằng đồng tiền kahāpaas v.v… được gọi là “người mua hàng” vị Trưởng lăo này cũng đang t́m cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) của ḿnh liên quan đến các tiên nữ; chính v́ thế (ngài được ám chỉ đến) với cách diễn tả như một “người mua hàng”; hay nói cách khác ngài được gọi là một người “làm công” v́ đang khi duy tŕ cuộc sống phạm hạnh theo lệnh của Đức Phật, được coi như là cuộc sống dưới dạng phạm hạnh (Brahmacariya) c̣n tiền thuê chính là việc tiêu khiển tương lai với các tiên nữ. H́nh như ngài đang làm như vậy, nhờ vào số tiền thuê đó. Đức Phật hỗ trợ[94] dưới tư cách là duy tŕ. [174] Tương tự như vậy, người ta nói rằng như “người mua” v́, đang thực hiện huấn lệnh của Đức Phật sau khi đă t́m ra được hàng hóa chính là việc tiêu khiển tương lai với các tiên nữ là điều có thể chấp nhận được, h́nh như thông qua hàng hóa đó ta đă mua[95] nơi Đức Phật. Bị quấy rầy (aṭṭiyamāna) : bị đàn áp, áp bức, bị gây đau khổ[96]. Bị bôi nhọ (harāyamāno) bị hạ nhục[97]. Gây kinh hoàng (jigucchamāno): tự trách ḿnh[98] v́ căm phẫn[99]. Một ḿnh (eko): không có bạn bè,[100]. Sống viễn ly [101] (vūpakaṭṭho): sống tách biệt[102] cả[103] về thân lẫn tâm khỏi những vật dục và những phiền năo dục. Tinh tấn (appamatto): không rời bỏ niệm[104] liên quan đến đề mục thiền của ngài (đề tài hành thiền). Nhiệt t́nh (ātāpī ) : có ḷng nhiệt huyết[105] bằng cách tỏ ra nhiệt t́nh dưới dạng cố gắng cả về thân lẫn tâm; đó chính là nhiệt tâm, tinh tấn, v́ chúng sẽ thiêu rụi các phiền năo (ātāpeti [106]). Cống hiến (pahitatto): cam kết (pesitatto), với hết sức b́nh sinh của ḿnh để đạt đến mục tiêu (vissaṭṭhattabhāvo) bằng cách không quan tâm đến thân xác cũng như mạng sống; hay nói cách khác cam kết (pesitacitto) với cả tấm ḷng nhằm đạt đến Níp bàn[107]. Chẳng bao lâu sau (na ’eva) : không lâu sau đó (na ’ eva, một dạng ngữ pháp khác) b́nh luận về đề mục thiền của ngài. Nhằm lợi ích điều đó đem lại: yassatthāya = yassa atthāya (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Người đàn ông (kulaputtā): đàn ông cũng có hai loại: đàn ông do bẩm sanh đă là đàn ông, và đàn ông do thiện hạnh; nhưng ngài đă đạt đến nam tính theo cả hai cách. Một cách chính đáng (samma-deva): với nguyên nhân thuận tiện và lư do chính đáng[108]. Từ gia đ́nh (agārasmā): từ nhà ḿnh. Vào nơi vô gia cư (anagāriya [109]): thực hiện việc xuất gia. Đối với những sinh hoạt như cày bừa và buôn bán v.v…[110]được coi như là công việc nhà (home(li) ness”[111] v́ những công việc đó nhằm đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh (agārassa), (trong khi đó) việc xuất gia được gọi là vô gia cư (không ở lại trong gia đ́nh) v́ chẳng có công việc ǵ dành cho gia đ́nh cả. Xuất gia (pabbajanti): tu lên bậc trên. Vô thượng đó : tadanuttaraṃ = taṃ anuttaraṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Tột đỉnh cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya): thánh quả A-la-hán tạo thành tột đỉnh cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) đó chính là thánh đạo; chính v́ lợi ích này người đàn ông đó đă xuất gia[112]. Trong toàn bộ những nguyên nhân thấy được (diṭṭheva dhamme): trong cùng hiện sanh đó. Được thực chứng, sau khi đă tự thắng tri (sayaṃ abhiññā sacchikatvā): trước tiên tự sắp đặt, sau khi đă biến tri, ư nghĩa ở đây là hiểu biết không lệ thuộc vào người khác. Gia nhập vào và rồi an trú trong đó (upasampajja vihāsi) : đạt đến hay nói cách khác thành tựu được và rồi an trú trong đó. Đang khi vẫn c̣n[113] an trú trong đó như vậy “Ngài có thể thắng tri được[114]: “những ǵ đă diệt tận chính là tái sanh … (chẳng phải nơi này nơi no, mà ở tại chính nơi đây.) “Như vậy ở đây mức độ phản khán lại đă được làm rơ[115] . Về điểm này: 

Diệt tận tái sanh[116].(khīā jāti): trước tiên, đây chẳng phải là lần sanh trong quá khứ đă bị diệt tận, thực chất là tái sanh này đă hoại diệt trước đó[117]; cũng không phải là tái sanh tương lai sắp diễn ra[118], do thực tế là tái sanh đó vẫn chưa diễn ra; trong khi đó cũng chẳng phải là tái sanh trong hiện tại, do thực tế là nó vẫn c̣n đang tồn tại. Tuy nhiên bất kỳ tái sanh nào được phân loại thành một, bốn hay năm uẩn trong số một, bốn hay năm uẩn hữu[119] tạo thành, cũng có thể xuất hiện do không tu luyện thánh đạo đến mức toàn thiện. [175] Được diệt tận thông qua việc thâm nhập vào từng pháp, trong đó không c̣n khởi sanh, do thánh đạo đó đă được tu luyện kỹ càng. Chính v́ thế, sau khi đă phản khán các phiền năo đă được đoạn trừ qua tu luyện thánh đạo, người đó thắng tri bằng cách am hiểu rằng do các phiền năo[120] không c̣n tồn tại, cho dù nghiệp chướng c̣n tồn tại, không phải là yếu tố gây ra tái sanh trong tương lai. Đă sống: vusitaṃ = vutthaṃ (một dạng ngữ pháp khác) đă sống đă thực hiện hoàn toàn, đă dẫn đi, nghĩa là đă kết thúc.[121] Cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya): cuộc sống phạm hạnh chính là thánh đạo; v́ đó là bảy bậc hữu học (sekhas), cùng với người hiền phàm tục, là những người đă sống cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) là cuộc sống chỉ thấy nơi người nào đă đoạn tận các lậu hoặc, nơi người nào đang và đă sống cuộc sống đó; chính v́ thế, đang khi phản khán lại chính cuộc sống của ḿnh dưới cuộc sống phạm hạnh, người đó thắng tri rằng “đă hoàn thành cuộc sống phạm hạnh”. Đă thực hiện những ǵ phải làm (kataṃ karaīya): đi đến kết thúc, có tới mười sáu nhiệm vụ phải thực hiện nhờ biến tri, đoạn trừ, thực chứng, tu tiến, tập luyện thông qua bốn thánh đạo liên quan đến tứ diệu đế[122]. V́ người ta cho rằng chính người hiền phàm tục v.v…đă thực hiện được những nhiệm vụ đó, là người đă đoạn tận được

hết các lậu hoặc, chính là người đă thực hiện những ǵ phải làm, chính v́ thế, đang khi phản khán lại những ǵ của ḿnh vẫn c̣n cần phải thực hiện, người đó đă thắng tri là “đă thực hiện những điều phải làm” Chẳng c̣n ǵ khác hơn công việc này (nāpara itthattāya): ngài đă thắng tri “giờ đây đối với ta chẳng c̣n nhiệm vụ nào khác hơn là tu luyện, đó là thánh đạo nhằm đem lại lợi ích cho cuộc sống hiện tại[123], v́ lợi ích cho pháp này dưới dạng mười sáu nhiệm vụ, hay nói cách khác v́ nhằm đoạn tận các phiền năo” Hay nói cách khác, chẳng c̣n ǵ tiếp theo cuộc sống này (nāpara itthattāya): ngài đă thắng tri rằng “đối với ta không có tương tục tính nơi các uẩn tiếp theo sau cuộc sống này. Đối với tương tục tính nơi các uẩn thuộc loại như vậy giờ đây[124] hiện đang c̣n tiến triển; hơn nữa, ta đă biến tri ngũ uẩn tồn tại giống như cây cối có rễ bị cắt; chúng sẽ tàn lụi đi, như một đám lửa không được tiếp thêm nguyên liệu, với tâm tử cuối cùng này, các uẩn sẽ rơi vào trạng thái thiếu chức danh[125] nhằm đem lại lợi ích thiết thực. Một người nào đó (aññataro): một người. Thuộc các vị A-la-hán (arahataṃ) có nghĩa là ngài đă trở thành một đồ đệ vĩ đại (savakas) của Đức Phật  họ là những vị A-la-hán.[126]

Một số các chư thiên (aññatarā devatā): một số Chư thiên Phạm thiên nhờ họ đă chứng đắc thánh đạo[127] v́ họ[128] tự thắng tri được phạm vi bậc vô học do thực chất là chính họ đă là bậc vô học (asekha). v́ bậc hữu học (sekha) hiểu rơ phạm vi của bậc hữu học này nọ, trong khi đó người phàm tục chỉ biết chính phạm vi những người phàm tục mà thôi. Khi đêm đă về khuya[129] (abhikkantāya rattiyā) : khi đêm đă hoàn toàn tan biến, có nghĩa là vào canh giữa đêm. Với nước da vượt trội hẳn (abhikkantavaṇṇā) với làn da của chàng hầu như trổi vượt nhất. Với toàn bộ (kevalakappaṃ): từ mọi phía không dư sót. Sau khi đă cháy rực lên (obhāsetvā): sau khi đă biến cánh rừng Jeta trở thành luồng sáng với chính những tia sáng chói giống như tia sáng mặt trời và mặt trăng[130]. Tiến lại gần (ten, upasaṅkami): tràn ngập niềm vui và phỉ lạc sau khi đă thẩm tra vị Trưởng lăo Nanda đă chứng đắc A-la-hán, [176]  đă tiến lại nghĩ rằng chắc hẳn ngài đă khiến Đức Phật biết[131] điều này. Thông qua đoạn tận các phiền năo[132](āsavāna khayā): đây chính là các phiền năo nó tuôn trào ra (āsavanti) đây, nghĩa ở đây là chúng đă tiến hành bằng nhăn môn v.v…hay nói cách khác chúng là những phiền năo tuỳ thuộc vào (ā) chuyển tánh (là những trạng thái tâm) hay tùy thuộc vào (ā) tột đỉnh tái sanh (như là không gian) chúng đang tuôn trào (savanti), ư nghĩa chúng tiến hành phù hợp với chính những trạng thái tâm và không gian đó. Chính là các phiền năo[133] v́ giống như những thứ rượu mạnh (āsavā) được chiết từ những quả madira v.v…[134]hiểu theo nghĩa được lên men trong một thời gian rất lâu. Thực chất việc lên men lâu dài như vậy nên được theo cách khẳng định là “ Hỡi các vị Tỳ khưu, khởi điểm vô minh thật không hiển nhiên chút nào”(Av 113) v.v… hay nói cách khác chúng cũng là các lậu hoặc v́ chúng tạo ra (savanti [135]), đem lại (pasavanti), đau khổ kéo dài nơi ṿng luân hồi, và liên quan đến vấn đề này, ư nghĩa đầu tiên áp dụng cho các phiền năo, ư nghĩa thứ hai lại áp dụng cho nghiệp chướng và các phiền năo không chỉ là những phiền năo xuất phát từ nghiệp chướng[136] mà chúng c̣n được tạo thành do những phiền toái nhiều loại[137] khác nhau nữa. Thí dụ như “Hỡi cunda, ta không diễn giải Phật Pháp nhằm mục đích ngăn ngừa các phiền năo chỉ là những điều kiện hiện tại” (D iii 129) liên quan đến vấn đề này, đây chính là các phiền năo tạo thành căn cho việc luận tranh là điều được truyền lại do các phiền năo[138] đó,“những phiền năo đó có thể khởi sanh giống như chư thiên, hay một kẻ di chuyển được trên không (gandhabba) hay nhờ đó ta có thể chuyển đến[139] các hiện trạng dạ xoa, lại có thể chuyển[140] thành hiện trạng nhân loại, tất cả những thứ phiền năo ta đă tiêu diệt, đă đánh cho tan tác, đă buông lỏng.[141](Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 39[142]- liên quan đến vấn đề này, đây chính là nghiệp chướng c̣n trong tam giới[143] và bất kỳ các pháp bất thiện nào c̣n lại được truyền lại như là các phiền năo; trong khi đó “nhằm ngăn ngừa những phiền năo thuộc các nguyên nhân nhăn tiền như vậy, nhằm chống lại các phiền năo thuộc về kiếp sau.” (Vin iii 21) (liên quan đến vấn đề này, đây chính là những phiền toái khác nhau không chỉ làm tổn hại đến người khác[144], như lương tâm không ổn định, mây mù và ách phược[145] v.v…nhưng c̣n là những ǵ tạo ra đau khổ liên kết với các khổ cảnh (được truyền lại dưới dạng các phiền năo), hơn thế nữa, chính các phiền năo này cũng đă được truyền lại trong Luật Tạng. Có hai đặc