NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                           CHƯƠNG BA

                               NANDA

                                                1. NGHIỆP (Kamma)

[165] Trong Kinh Phật đầu tiên chương Nanda: có một vị Tỳ khưu nọ (aññataro bhikkhu): Có một vài vị Tỳ khưu đă đoạn tận các phiền năo (āsavas) không được xác định rơ bằng danh và tánh. Người ta kể lại rằng ngài là cư dân thành Rājagaha, ngài đă nhận thấy tội lỗi nơi ṿng luân hồi khi phải chứng kiến một cú sốc từ Trưởng lăo Moggallāna, đă xuất gia dưới sự chứng minh của Bậc đạo Sư, đă thanh tịnh[1] giới và lấy Tứ Chân Đế làm đề mục thiền cho ḿnh, và rồi không lâu sau đó ngài đă đạt đến bậc A-la-hán sau khi đă tinh tấn tu luyện thiền quán; Vào giai đoạn sau này trong ngài đă nổi lên một nỗi đau đớn hết sức khó chịu, ngài đă t́m cách vượt qua bằng cách quán xét chính tâm đó; v́ trong ngài chẳng nổi lên bất kỳ đau khổ tâm nào cả do ngài đă đoạn tận các phiền năo trong tâm. Tuy nhiên đau khổ[2] thân vẫn nổi lên. Một ngày kia, khi Đức Thế Tôn đang diễn giải Phật Pháp, ngài đă đến ngồi trong tư thế kiết già, ngay tại một nơi không xa (Đức Thế Tôn) cho lắm, và kể lại những đau khổ đó; chính v́ lư do đó có lời nói rằng, “Ngài đang ngồi thiền cách Đức Thế Tôn không xa lắm” v.v… Về điểm này [3]:

Kiết già (pallaṅkaṃ): ngồi trong tư thế hai đùi khóa lại hoàn toàn. Sau khi đă ngồi xếp (chân) (ābhujitvā): sau khi đă khóa chân lại. Sau khi ngồi toàn thân đứng thẳng (ngồi trong tư thế thẳng lưng) (uju kāya paidhāya) : khi đă ngồi phần lưng phía trên thẳng tắp, tạo cho mười tám đốt xương sống thẳng hàng với nhau. V́ theo cách đó da, thịt và bắp thịt của người nào ngồi như vậy sẽ không bị xoắn lại [4]: Chính v́ thế ngài đă ngồi thiền trong tư thế như vậy. Được sanh ra với dị thục nghiệp cổ xưa. (purāakammavipākaja): được sanh ra do kết quả dị thục nghiệp chướng đă thực hiện trong quá khứ; hay nói cách khác v́ lư do ngài sanh trong dị thục nghiệp chướng xa xưa, trong một tập thể tạo thành ṿng luân hồi dị thục được tạo thành gồm hạnh phúc và đau khổ, bằng cách tham gia một phần trong đó[5]. Là  ǵ vậy? Đó chính là điều gây đau đớn[6], và khi chỉ rơ cho thấy bằng câu này, “Được sanh dưới dị thục nghiệp chướng xa xưa.” mà nỗi đau khổ đó bắt nguồn từ nghiệp chướng đó, ngài không chấp nhận khả năng đau khổ đó xuất hiện do việc tấn công th́nh ĺnh từ phía bên ngoài hay do thời tiết thay đổi v.v…[7] Điều đó gây đau đớn (dukkhaṃ): một người phàm tục[8] không thể nào[9] chịu đựng nổi điều đó. [166] Sắc bén (tippaṃ): nhọn sắc; hay nói cách khác thái quá[10] do cách những đau đớn đó xuất hiện[11] một cách áp đảo như vậy. Khó chịu (kharaṃ): gay gắt. Nhức nhối (kaṭukaṃ) khó chịu. Chịu đựng (adhivāsento): lưu lại trên đó (upari vāsento), cam chịu, chịu đựng. Chánh niệm, tỉnh giác (sato sampajāno): đang chánh niệm và tỉnh giác đến bằng cách ghi nhận và biết rỏ vào cảm thọ đó. V́ thế có lời nói rằng: “Sau khi đă chánh niệm, tỉnh giác bằng cách niệm được tu luyện[12] bằng cách chú ư đến đặc tính vô thường nơi cảm thọ, tức là. “Điều ǵ ta biết là cảm thọ chính là vô thường hiểu theo nghĩa không tồn tại sau khi đă xuất hiện,[13] là y tương sinh khởi sanh phụ thuộc vào cảnh duyên không đáng ưa thích v.v…[14] (và) do thực chất là chính bản chất đó mang tính chất hoàn toàn dễ hoại diệt, một khi đă sanh lại phải bị diệt, phải chịu suy tàn, phải chịu tan biến đi, phải chịu tiêu diệt.” và tác ư bằng cách thấu triệt bản chất rơ ràng như thế.[15] Hay nói cách khác, chánh niệm như vậy do thực tế là chánh niệm, đă hoàn toàn hiện hữu ở bất kỳ nơi nào trong thân, thọ, tâm và các pháp[16] liên quan, nhờ chứng đắc chánh niệm viên măn (hoàn toàn); cũng giống như chú ư do thực chất là các hành đă được am tường thông qua chứng đắc tuệ giác[17] viên măn (hoàn toàn). Không gặp phải sầu khổ nữa (avihaññamāno): đang ngồi thiền như thế ngài đă đạt đến (một số) chứng đắc, ngài không phải quay trở lại với sầu khổ nữa, không giống như kẻ phàm tục mù ḷa sau khi đă khẳng định bằng cách, tức là “Hỡi các vị Tỳ khưu, do không thể kiếm được lời diễn giảng Phật Pháp, kẻ phàm nhân, khi vừa tiếp cận toàn bộ cách thức[18] nơi những hiện tượng đau khổ, lại cảm thấy đau buồn, mất nhuệ khí, than văn, kêu gào đấm ngực, rơi vào t́nh trạng vỡ mộng.”  ( [19] ) (nhưng) chỉ xua tan được đau đớn thân mà thôi, khởi sanh với dị thục nghiệp chướng xa xưa, lại không để làm khởi sanh đau khổ tâm, do đă hoàn toàn triệt hạ tận gốc rễ[20] bằng chính thánh đạo.

Đă chứng kiến (addasā): đă nhận ra (addakkhi, một h́nh thức ngữ pháp khác) vị Trưởng lăo đó ngồi thiền theo cách đó cộng với hành vi chịu đựng những pháp đă loại bỏ được.

Vấn đề này (etam atthaṃ): thẩm tra dưới mọi góc độ vấn đề này, được coi như là một thất bại về phía những ai đă đoạn tận mọi phiền năo do các pháp thế gian đă làm vấy bẩn[21], đó là lư do tại sao họ không tập luyện liên quan đến mục tiêu đạt đến ngay cả khi sức khỏe không tốt đă được lương y chữa trị theo kiểu đó v.v…Kinh Phật Tự Thuyết này (ima udāna): đă làm khởi sanh Phật Tự Thuyết này để giải thích chứng đắc giải thoát khỏi mọi phiền toái nơi các hiện tượng đau khổ thuộc bất kỳ loại nào về phía những ai đă xem trọng[22] Phật Pháp. Về điểm này:

Những ai đă tiêu diệt được hết các nghiệp chướng (sabbakammajahassa): người nào đă tiêu diệt được hết nghiệp chướng; v́ từ lúc thánh đạo tột đỉnh khởi sanh trở đi, mọi hành động, cả các hành vi thiện cũng như bất thiện đă được tiêu diệt hết đối với vị A-la-hán[23] do người đó sẽ không c̣n khả năng tái tái sanh được nữa, do đó trí tương ưng với thánh đạo được gọi là, “Cách tạo ra những hậu quả có khả năng diệt trừ nghiệp chướng.”[24] Đối với một vị Tỳ khưu (bhikkhuno): v́ (người nào đă) trở thành một vị Tỳ khưu bằng cách trở thành người đă đoạn tận được hết các phiền năo (bhinnakilesatāya) [25] trong ḿnh. Là người đă giũ sạch được hết bụi bậm, đă tạo ra trước đó (dhunamānassa purekata raja): là người đă giũ sạch hết, là người đang diệt trừ hoàn toàn, nhờ cách cảm nghiệm được dị thục, mà nghiệp chướng của nó chính là cảm nghiệm đau khổ là như thế nào và đă tạo ra được trước khi chứng đắc  A-la-hán (và đau khổ) được tạo ra đó có tên gọi là “cấu uế” do thực tế là đau khổ đă được trộn lẫn với cấu uế tham dục v.v…[26]  [167] Trong khi đó sau khi chứng đắc A-la-hán, người đó chẳng c̣n tạo ra được bất kỳ hành vi nào đáng khiển trách. Trong khi các hành vi [27] vô tội lại do căn tái sanh đă được đoạn trừ đến tận gốc rễ, duy chỉ và duy nhất duy tác[28] với nghiệp chướng mà thôi. Do thiếu khả năng tạo ra thánh quả,  giống như cây, hoa người ta đă bị bứng[29] hết rễ. Đối với người nào chẳng có ǵ là “của ḿnh” (amamassa): v́ đối với người nào coi như chẳng có ǵ là “của ḿnh” cả. Đối với người nào việc chiếm hữu làm của riêng ḿnh không c̣n tồn tại, do không có việc chiếm hữu (bất kỳ điều ǵ) là “của riêng ḿnh” ở bất kỳ nơi đâu giữa sắc pháp v.v…[30] v́ đối với người nào coi chiếm hữu làm của riêng tạo ra thân của họ. Do ảnh hưởng bản ngă tạo ra, phải được lương y chăm sóc v.v…; trong khi đó vị A-la-hán đă cho rằng chẳng có điều ǵ là “của riêng ḿnh” cả chính v́ thế tự bản chất ngài đă tỏ ra thọ xả ngay đến việc chăm sóc thân. Kiên định (ṭhitassa) kiên tŕ ở mức cao độ lại chính là Níp Bàn, sau khi đă vượt qua tứ bộc lưu; hay nói cách khác kiên định do không phải chạy theo các lănh vực tái sanh.[31]V́ đối với những vị sekhas và phàm tục ta nói rằng họ đang lao vào ṿng luân hồi bằng cách diệt tái sanh do họ đă không diệt trừ được hết các phiền năo và những tích luỹ của ḿnh[32]; trong khi đó vị A-la-hán là người “kiên tŕ”[33]do không c̣n những thứ đó, hoặc giả, người nào kiên tŕ nơi thánh pháp[34] chính là người đă thành tựu thập lực nơi những người đă đoạn tận các phiền năo (asvas). Kiên tŕ (tādino)[35] : kiên định do trạng thái kiên tŕ[36] của họ chỉ là một và là một hiện trạng duy nhất, trong đó có những ǵ ta ước muốn v.v… liên quan, do được trang bị với năm loại thần thông bậc thánh[37] được nói đến theo cách như sau “[bằng cách nào] người đó có thể trú tưởng không ghê tởm trong pháp ghê tởm?” (Ps ii 212, trích trongThanh Tịnh Đạo 382) v.v…và với lục chi xả[38] không hề lay chuyển do tám pháp thế gian[39]. Không cần phải nói đến dân chúng (attho ’atthi janaṃ lapetave). Chẳng có công việc ǵ cần phải nói với công chúng như vậy (lapituṃ, là một h́nh thức ngữ pháp khác) nói với công chúng rằng, “Các ngươi phải chữa trị với đủ thứ bệnh tật v.v…” do việc người đó không coi trọng thân của ḿnh. V́ đây chính là tư thế của những người nào đă đoạn tận các phiền năo, tức là. “Giống như một  cành lá khô, được loại khỏi [40] ranh giới của ḿnh (cành cây) mong rằng thân ta, tự nó phải tan vỡ và sụp đổ [41]. V́ thế có lời nói rằng:

“Ta chẳng phải chờ chết, ta cũng không chờ được sống, ấy vậy ta đang chờ đợi [42] thời giờ [43]của ta, giống như người đi làm thuê chờ ngày công của ḿnh” (Thag 606 = 1003 = Miln 45[44])

Hay nói cách khác, ư nghĩa ở đây là đối với người nào đă đoạn tận các phiền năo th́ không cần phải yêu cầu người khác (lapetave) nói rằng, “Con người xứng đáng yêu cầu điều ǵ?” Bằng cách chỉ ra một số dấu hiệu[45] để tạo cho họ nói với (lapāpetu, một dạng ngữ pháp khác) bằng lời mời gọi liên quan đến những Tứ vật dụng. Do thực tế là có tà mạng thuộc loại như vậy (tādisassa) đă được diệt trừ hoàn toàn bằng thánh đạo. Chính v́ thế Đức Thế Tôn đă thể hiện nơi người nào ngạc nhiên với câu vấn nạn, “Vị Trưởng lăo này đă không chữa chạy bệnh tật của ḿnh nhằm mục đích ǵ vậy? mà lại ngồi không cách xa Đức Thế Tôn là bao? Lư do ngài không để cho người khác lưu ư đến ngài.

Việc diễn giải Kinh đầu tiên đến đây là kết thúc.

 

-ooOoo-

 

[1]Ce Be Se giải thích là sodhetvā c̣n bản văn ghi là sādhetvā.

[2].  Chú giải Miln 44.

[3].  Chú giải DA 210; SA i 238; AA ii 294. iii;  Thanh Tịnh Đạo 271; Ps i 176 

[4]. Paṇamanti; Be namanti. DA và Thanh Tịnh Đạo lại ghi thêm: “thế rồi cảm thọ đă có thể khởi sanh một cách khác  từ giây phút này, đến giây phút khác với cách đan quyện vào nhau như vậy do các nguyên nhân có sẵn, đă không khởi sanh”.

[5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vipākavaṭṭasamudāye tadekadesabhāvena  c̣n bản văn ghi là vipākasamudāye vā ekadesabhāvena. Qủa luân (vipākavaṭṭa) là một trong ba luân như vậy trong ṿng luân hồi đă được phân tích: (1) nghiệp luân (các hành và hữu); (2) phiền năo luân (vô minh, ái và thủ) và (3) quả luân (thức, danh, sắc, lục nhập, xúc và thọ) xin đọc thêm Thanh Tịnh Đạo 581; cũng đọc thêm  Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 189.

[6].  Chú giải Be Se giải thích là Kiṃ tam? Dukkhaṃ đau khổ;  Chú giải Ce giải thích là Ki ta dukkha? C̣n bản văn lại không thể chấm câu chính xác.

[7]. Xin tham khảo danh sách tám nguyên nhân đau khổ đó là: mật, nước miếng, gió, kết hợp với các tính khí thân, thay đổi theo mùa, căng thẳng không thích hợp với những hiện tượng xảy ra, tấn công bất th́nh ĺnh từ bên ngoài và những ǵ phát sanh do kết quả nghiệp chướng Chú giải S iv 230; Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 87, iii 131, v 110; Miln 135.

[8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là asakkuṇeyyaṃ c̣n bản văn ghi là asakkuṇeyyavedanaṃ.                                                                                            

[9]. Chú giải Ce Se giải thích là puthujjanehi c̣n bản văn Be ghi là pacurajanehi, do thường dân.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là bahalaṃ vā c̣n bản văn ghi là balavaṃ.

[11]. Abhibhavitvā pavattiyā

[12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là satokāritāya c̣n bản văn ghi là sato, karitāya.  

[13]. Chú giải Ud-a 91. 215 cũng tương tự như vậy.

[14]. Chú giải (Ce) Se giải thích là aniṭṭhārammaādi  (Be opaccaye) c̣n bản văn ghi là anitthārammaa ādi-paccaye; cảnh duyên thuộc dạng duyên thứ hai trong số hai mươi tư duyên của bộ Paṭṭhāna và có liên quan đến đối tượng, thiếu điều đó th́ tâm thức không thể diễn ra xin đọc e.g. Asl 2; JPTS 1915, tr. 52; Tự điển Phật Giáo sv paccaya; cũng xin đọc Ud-a 179.

[15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aviparītasabhāvao c̣n bản văn ghi là aviparītassa-bhāvao . Chú giải Ud-a 190.

[16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kāyavedanācittadhammesu c̣n bản văn ghi là kāyavedanā cittadhammesu.

[17]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 212 giải thích về tính viên măn niệm và tuệ.

[18]. Chú giải Be giải thích là aññataraññatarena c̣n bản văn Ce Se ghi là aññatarena; chú giải Trung Bộ Kinh (M) iii 249.

[19]. Không t́m ra nguồn gốc, không thấy bất kỳ nguồn nào do Woodward trích là chính xác cả. Be đưa ra nguồn là “S i 408 (Be).

[20]. Chú giải Ce Be Se giải thích là samugghātitattā c̣n bản văn ghi là samugghātattā

[21]. Chú giải Ce Be giải thích là anupalepitao (Se ghi là anupalepītao) c̣n bản văn ghi là anupakkilesao.

[22]. Chú giải Ce Be giải thích là sakhatadhammāna c̣n bản văn Se ghi là sakhātadhammāna.

[23]. Hay toàn bộ các hành vi về phía vị A-la-hán, kể cả hành vi thiện lẫn bất thiện, được cho là phải bị đoạn trừ.

[24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là asamatthabhāvato yato ariyamaggañāa kammakkhayakaran ti vuccati c̣n bản văn ghi là asamatthabhāvato.

[25]. Một nguyên từ tương đương luôn là từ Bhikkhu – chú giải Pv-a 51. 146; Vv-a 29 v.v…

[26].  Đó là rāga (tham dục) dosa (sân hận) và moha (si mê)

[27]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anavajjakiriyā ca c̣n bản văn ghi là anavajjakiriyāya. 

[28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kiriyamattā c̣n bản văn ghi là kiriyāmattā.

[29]. Ce Se giải thích là samucchinnattā ucchinnamūlatāya (Be samucchinnattā samucchinnamūlatāya) c̣n bản văn ghi là samucchinnamūlatāya.

[30].  Chú giải Ud-a 195.

[31]. Chú giải Ce Be Se giải thích là paisandhigahaavasena vā sandhāvanassa abhāvena c̣n bản văn ghi là paisandhigahae vā abhāvena.

[32]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kilesābhisakhārāna c̣n bản văn ghi là kilesasakhārāna; có lẽ đây là một tham khảo về bốn sanh y (upadhi) dục, ngũ uẩn, phiền năo và hành sanh y . Như thấy trong SnA 44. 436;  chú giải Pv-a 230, Vv-a 213.

[33]. Chú giải Ce Be Se giải thích là abhāvato hito c̣n bản văn ghi là abhāvato.

[34]. Rất có thể đây là cách nói bóng gió về thập lực được liệt kê trong Ps ii 173tt tuy nhiên điều này lại không đề cập ǵ đến từ ariyadhamma (thánh Pháp). Ta cũng đă bắt gặp mười thánh pháp khác trong MA i 22; Asl 351 chính v́ ta đă đề cập đến thánh pháp mf không có bất kỳ lời giải thích thêm nào trong Vv-a 130. 172.  Mặt khác điều này được coi như là một cách tham khảo về thập thánh đạo A-la-hán  trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 221 v.v…

[35]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tādino ti c̣n bản văn ghi là tādino pi.

[36].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tādībhāvena c̣n bản văn ghi là tādibhāvena. H́nh như từ này có nghĩa là điều ǵ c̣n lại không di dời được, không ảnh hưởng, không thay đổi giữa những hoàn cảnh thay đổi bên ngoài. Hay cũng như vậy chú giải so sánh với việc lựa chọn của ngài Ñāamoli với từ “tính quân b́nh” trong (Ppn 5) và trong Miln 382, làm thế nào trái đất lại là tādisā bất chấp những ǵ tản mát trên đó. Chính v́ thế VS 139. 155 rất có thể nên sữa lại để giải thích là “v́ lư do chứng đắc trạng thái nơi chúng sanh luôn kiên định, nơi những pháp đáng ước ao v.v…có liên quan” và “v́ lư do ngài chứng đắc chúng sanh kiên định nơi những pháp đáng ước ao v.v…có liên quan” lần lượt, với những điều chỉnh tương tự được thực hiện trong PS 141 (về Pv. II 9 v 71).  Xin đọc EV I 131 về Thag 41. MA iii 342 (không phải đoạn 343 như được khẳng định trong EV). BHSD, sv tāyin, và Childers, sv tādi, lưu ư chúng ta là Dhp-a (ii 181tt) về Dhp 95 trước tiên lại đưa ra ư nghĩa này (aṭṭhahi lokadhammehi akampiyabhāvena, do không bị lay chuyển với tám pháp thế gian) và rồi cũng có nghĩa khác là “thuộc loại như vậy” (evarūpassa), h́nh như đây cũng là biện pháp Dhammapāla đă sử dụng dưới đây.  Cũng xin đọc chú giải Ud-a 255.

[37]. Khả năng an trú tưởng (1) điều không ghê tởm nơi điều ghê tởm, (2) điều ghê tởm nơi điều không ghê tởm (3) và điều không ghê tởm cả nơi điều ghê tởm và điều không ghê tởm (4) điều ghê tởm nơi cả điều không ghê tởm lẫn điều ghê tởm; và (5) tránh được cả điều ghê tởm lẫn điều không ghê tởm, ngoài ra c̣n tỏ ra thọ xả, chánh niệm và tỉnh giác D iii 112tt, người ta nói rằng không có các lậu hoặc và không dẫn đến tái sanh lại trở thành trái ngược với định nghĩa b́nh thường của thần thông (xin đọc trong Chú giải Udāna 161 ở trên) là điều được cho là có các lậu hoặc và dẫn đến tái sanh).

[38]. Lục chi bằng sáu loại đối tượng ham muốn và không ham muốn lại tập trung chú ư vào lục môn . chú giải Thanh Tịnh Đạo 160.

[39]. Chú giải Dhp-a về Dhp 96 (trích trong Childers)

[40]. Chú giải Be giải thích là pavutto; c̣n bản văn Ce Se ghi là pamutto –  chú giải Udana 46 ở trên.

[41]. Ce Be Se giải thích là patatu c̣n bản văn ghi là palātu.

[42]. Paikakhāmi; hay chờ đợi.

[43]. Đó chính là vô dư níp bàn của ngài - chú giải EV i 163 về Thag 196.

[44]. Tuy nhiên, điều đó giải thích abhinandāmi, c̣n bản văn ghi là abhikakhāmi; chú giải Manu vi 45. Woodward  đưa ra tham khảo là “S i 65” nhờ đó rất có thể ngài muốn ám chỉ SA i 126 về S i 65, trong đó ngài đă trích đoạn kệ này, cũng cùng một đoạn kệ lại được trích dẫn trong chú giải Udāna 432 dưới đây, trong đó Woodward muốn ám chỉ tham khảo hiện hành, như  là “supra, tr. 157” (thay v́ tr, 167).    

[45]. Không nghi ngờ ǵ nữa, đây là cách nói bóng gió về Pv-a 146 khẳng định rằng “các vị thánh đứng yên (chỉ nhằm) giải thích đây là cách khất thực của các vị thánh” và đối với J iii 354 lại chỉ ra cho thấy họ không làm bất kỳ cử chỉ nào, bằng cách thay đổi oai nghi thân cũng như các ngài không phá vỡ im lặng để lôi kéo chú ư của người khác; các ngài đă đứng yên không cử động và không nói một lời. Chỉ nhằm làm rơ nhu cầu cần của khất thực của các ngài.  Chú giải PS 157 n 9 để có thể tham khảo thêm.