|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
CHƯƠNG HAIMỤC CHÂN LÂN ĐÀ(Mucalinda)1. Mucalinda [100] Trong kinh phật đầu tiên, trong chương[1] Mục Chân Lân Đà: ngay dưới gốc Mục-Chân-Lân-Đà (mucalindamūle) : đây là cây nīpa[2], liên quan đến vấn đề này, có nghĩa là được đề cập đến với tên là “Mục Chân Lân Đà” (Mucalinda) cũng được đề cập đến với tên khác là “nicula”[3] mọc ở vùng phụ cận đó. Tuy nhiên một số người lại cho là cây “mucala”chính là tên gọi cây đó và ta c̣n gọi là cây “Mucalinda”[4], hơn thế nữa, liên quan đến một sự kiện đây là cây cổ thụ lâu đời nhất trong khu rừng đó[5]. Một trận băo lớn, khủng khiếp (mahā akālamegho): một trận băo lớn đă nổi lên khi mùa mưa xuất hiện[6]. V́ mùa mưa đă xuất hiện vào những tháng hè năm rồi [7] đă làm ngập những vùng trũng[8] cakkavāḷa. Trời mưa kéo dài bảy ngày (sattāhavaddalikā): Khi trận mưa nổi lên, trời đổ mưa[9] liên tục suốt bảy ngày. Gió lạnh thổi, trời u ám (sītavātadudinī): và trong bảy ngày trời mưa liên tục đó người ta nói rằng đây là một thời gian trời đất u ám[10] nhất liên quan đến một sự kiện, trong những ngày đó trời tối sầm do khắp tứ phía những luồng gió lạnh xen lẫn những trận mưa tầm tă đă che phủ toàn bộ khiến trời tối đen không chút ánh sáng. Cây Mục chân lân đà, Long vương (Mucalindo nāma[11] nāgarājā): bên dưới đầm sen trong vùng phụ cận với cây Mục chân lân đà đó; (và) tại nơi đó xuất hiện một Long vương rất oai phong. Từ cơi Long vương (sakabhavanā): xuất phát từ cơi Long vương đó. Long vương đă quấn quanh cây đó bảy ṿng (sattakkhattuṃ bhogehi parikkhipitvā): trong hoàn cảnh đó Long vương đă quấn quanh cây bảy ṿng trong khi đó Đức Thế Tôn đang ngồi thiền dưới gốc cây. Giương cao chiếc mào to lớn trên đỉnh đầu (upari muddhani mahantaṃ phaṇaṃ vihacca): để lộ chiếc mào ngay trên đầu Đức Thế Tôn. Phaṇaṃ karitvā (lắc lư chiếc mào đó) cũng là một cách giải thích[12]; có cùng một ư nghĩa như vậy. Người ta nói rằng điều nào diễn ra đối với Long vương đó: “ngay lúc đó[13] Đức Thế Tôn đang ngồi thiền dưới gốc cây kế bên Long vương, và trong khi đó bảy ngày trời mưa tầm tă đang diễn ra; ta phải t́m[14] cho ngài một ngôi nhà và một nơi trú ngụ[15].” Cho dù (Long vương) có thể tạo ra một ṭa lâu đài bằng bảy loại châu báu, nó đă khiến cho thân h́nh[16] trở nên to lớn lạ thường, nghĩ rằng làm thế th́ bản chất thân Long vương sẽ không bị mất đi và nghĩ rằng hắn đă phục dịch cho vị Như Lai Thập Lực, [101] và rồi Long vương đă cuộn tṛn quanh Đức Thế Tôn đến bảy ṿng, lắc lư và để lộ chiếc mào trước mặt Ngài. Trong tập chú giải[17] Khandhaka có kể lại rằng: “bên trong các khúc cuốn khoanh (Long vương đó) mang dáng dấp một căn pḥng nghỉ ngơi trong một kho tàng tại Lohapāsāda[18] vậy, nhưng trong tập chú giải Trung Bộ Kinh[19] lại cho rằng căn pḥng đó mang dáng dấp một tầng hầm[20] của Lohapāsāda. Người ta cũng kể lại rằng cách Long vương bố trí cho vị đạo sư có thể lưu lại trong đó ở bất kỳ thân oai nghi [21] nào ngài muốn; nhưng Đức Thế Tôn chỉ lưu lại trong đó với oai nghi ngồi thiền như Ngài đă thực hiện trong suốt bảy ngày đó và vị trí đó trông giống như một căn nhà có đầu hồi với cửa sổ đóng rất dễ dàng và cửa ra vào cài then cẩn thận. Không để cho Đức Thế Tôn phải chịu lạnh (mā Bhagavantaṃ sītaṃ) là cách giải thích hoàn hảo nhất về lư do Long vương tạo một nơi trú ngụ cho Đức Phật theo cách[22] đó. V́ (Long vương) duy tŕ tạo ra trú xứ theo cách đó, nghĩ rằng. “Đừng để cho Đức Thế Tôn phải chịu lạnh, phải chịu nóng; đừng để cho Ngài phải chịu muỗi ṃng[23] chích v.v…ảnh hưởng đến Ngài”; cho dù những sự việc này có thể xảy ra trong suốt bảy ngày mưa tầm tă đến như vậy, Ngài chẳng phải chịu đựng nóng bức, tuy nhiên thỉnh thoảng trời nóng[24] vẫn có thể diễn ra vào lúc tạnh mưa, (chính v́ thế) Long vương suy nghĩ: như vậy quả thực là thích hợp, tức là “mong rằng những phiền toái[25] này không ảnh hưởng đến Ngài bao giờ.” Tuy nhiên[26] một số người lại cho rằng, liên quan đến vấn đề nóng bức được đề cập đến ở đây là nói đến lư do Long vương tạo ra một hiện trạng vây quanh Đức Phật bằng cuốn khúc của ḿnh; v́ trong Tiểu Bộ Kinh[27] có đề cập đến hơi nóng do thân Long vương tạo ra có thể ảnh hưởng đến Đức Phật trú ngụ trong đó; trong khi nó tạo ra một trạng thái kéo dài đến như vậy, Long vương đă tiếp tục tạo ra trú xứ [28] theo cách đó, nghĩ rằng “Đừng để cho Đức Phật phải chịu đựng sức nóng”. Đă quá rơ ràng (viddhaṃ): đă bay bổng lên cao[29], ư nghĩa ở đây là đă đi rất xa[30] do cơn mưa băo đă qua khỏi. Nhưng sấm chớp đă biến mất (vigata-valāhakaṃ) : cơn mưa băo đă tan biến mất. Chư thiên (devaṃ): bầu trời. Nhận ra: biết được[31] rằng, giờ đây bầu trời chẳng c̣n sấm chớp ǵ nữa, chắc hẳn là Đức Phật không c̣n gặp phiền hà ǵ phát xuất từ khí lạnh khi trời đổ mưa v.v… tháo gỡ ra (viniveṭhetvā): gỡ bỏ đi. Chính (Long vương) đă xuất hiện nguyên h́nh (sakavaṇṇaṃ):. Được rút lại (paṭisaṃharitvā): khiến cho biến mất. Xuất hiện dưới dạng một chàng trai Bà la môn trẻ tuổi (māṇavakavaṇṇaṃ): dưới dạng một chàng trai trẻ tuổi[32]. Vấn đề này (etam atthaṃ): am tường vấn đề này dưới mọi khía cạnh, tức là đối với vị nào đă cảm nghiệm được niềm vui sướng tột đỉnh khi viễn ly th́ đơn giản lúc nào người đó cũng cảm nghiệm được niềm hạnh phúc tột đỉnh. Tập chú giải Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khiến khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vẻ oai nghiêm nơi hạnh phúc viễn ly có được. Về vấn đề này: Viễn ly chính là hạnh phúc tột đỉnh (tu là cơi phúc) (sukho viveko) viễn ly [33] cơ bản được coi như là níp bàn, chính là niềm hạnh phúc tột đỉnh. Đối với vị nào đă tỏ ra hài ḷng (tuṭṭhassa): đối với vị nào đă hài ḷng với cách thức măn nguyện liên kết với trí tứ thánh đạo. Người đó đă lắng nghe Phật Pháp của Ngài (sutadhammassa): vị nào đă thực hiện được Phật Pháp của Ngài, đă làm Phật Pháp của Ngài được truyền bá sâu rộng. Người nào thấy: passato=passantassa (một dạng diễn tả ngữ pháp khác) toàn bộ vấn đề này, cách viễn ly đó, hay toàn bộ những ǵ cần được nh́n thấy [102] với tuệ nhăn đạt đến được thông qua chính sức lực của ḿnh dưới h́nh thức tinh tấn[34]. Với bản chất vô hại (abyāpajjaṃ): với đặc tính bất phẫn nộ; theo cách này đây chính là giai đoạn tiền từ bi được đề cập đến ở đây. Đó là tự chế với ḷng kính cẩn đối với chúng sanh đồng loại (pāṇabhūtesu saṃyamo): và[35] đó chính là tự chế với ḷng tôn trọng chúng sanh đồng loại (sattesu), có nghĩa là không gây xúc phạm[36] (không gây tổn thương) đó chính là niềm hạnh phúc tột đỉnh vậy; theo cách này, đây chính là giai đoạn được ám chỉ xảy ra trước ḷng từ bi nhân ái. Ly tham [37] trong đó thế gian này có liên quan cũng chính là niềm hạnh phúc tột đỉnh, hạnh phúc tột đỉnh này thuộc loại nào vậy? Đó là loại siêu vượt khỏi các dục lạc (kāmānaṃ samatikkamo) có nghĩa là điều đó không vương vấn đến tham dục[38], là điều ta đề cập đến như, “điều siêu việt khỏi mọi dục lạc” đó cũng được coi là hạnh phúc tột đỉnh; theo cách này ta đang đề cập đến thánh đạo của vị Bất Lai. Diệt trừ ngă mạn (asmimānassa yo vinayo): hơn thế nữa[39], ta đang đề cập đến chính bậc A-la-hán vậy, v́ bậc A-la-hán được coi như điều “diệt trừ ngă mạn, thông qua xả” và ngoài điều đó ra, chẳng c̣n có hạnh phúc tột đỉnh nào tồn tại, v́ lư do đó Ngài đă nói, “đây quả thực là niềm hạnh phúc tột đỉnh”. Chính v́ thế Ngài đă làm cho giáo lư của Ngài đạt đến tột đỉnh chính là đạt đến bậc A-la-hán[40] vậy. Đến đây ta kết thúc phần diễn giải Kinh Phật đầu tiên.
-ooOoo- [1]. Liên quan đến cách giải thích tiếp theo, xin đọc chú giải. Vin-958tt. [2]. Theo PED, là cây Nauclea cadamba, một loại cây Asoka. Nhưng theo SED. cả quả và hoa của loại cây đó hay là cây Ixora Bandhucca hay một loại cây Asoka nào đó. Chú giải J i 13 (kệ 61) = Bv ii 51, Jayawickrama (Chuyện kể về Đức Phật Cồ Đàm, 17 n 27) cũng đă xác định được cây này với tên là Kadamba hay là Nauclea cadamba. [3]. Theo PED, là Barringtonia acutangula; chú giải Vv-a 134. [4]. Nghĩa đen là đức vua Mucala (<mucala+inda). [5]. Vanajeṭṭhakatāya; chú giải vanapatijeṭṭhake (là vị Trưởng lăo Mộc Thần) [6]. Theo truyền thống th́ biến cố này xảy vào tuần thứ sáu sau ngày Đức Phật chứng đắc Giác Ngộ. Kể từ lúc Giác Ngộ diễn ra vào đêm rằm (có nghĩa là vào ngày cuối) tháng Vesākhā (tháng tư/ tháng năm), sự kiện này cũng đă diễn ra vào giữa tháng Āsāḷhī và như vậy là hai tuần trước khi mùa mưa bắt đầu; xin đọc câu tiếp theo. [7]. Chú giải Vv-a VII 5 6 mùa đông chính thức kết thúc vào trước ngày rằm tháng Āsāḷhī khi mùa mưa bắt đầu. [8]. Gabbha, hay bên trong, ḷng mẹ v.v… Rất có thể toàn bộ vùng xa nhất do một dăy núi bao bọc, về vùng này có chú giải trong PS 147 n. 132 [9]. Vuṭṭhikā; PED đă khẳng định sai rằng điều này chỉ xảy ra trong từ ghép dubbuṭṭhikā, là thời kỳ hạn hán, thiếu mưa. [10]. Duddinī; Vin-asītavātaduddinī, là một ngọn gió lạnh, trời u ám vào ban ngày. [11]. Bỏ qua trong Luật Tạng Vin và trong toàn bộ tác phẩm Ud. [12]. Đó cũng là cách giải thích trong Vin i 3 [13]. Bản văn Ce Be Se giải thích là ca c̣n bản văn th́ giải thích là hi. [14]. Vāsāgāraṃ; theo PED sv, là một pḥng ngủ. [15]. Bản văn Ce Be Se giải thích là vaṭṭati c̣n bản văn th́ ghi là vattati. [16]. Attabhāvaṃ. [17]. Vin-a 958. theo bản văn Ce Se ghi lại a vl Andhakaṭṭhakathāyaṃ đă chỉ rơ thay v́ là một tập chú giải Luật tạng cổ xưa do một số trường phái Andhaka miền nam Ấn độ gán cho; chú giải Tự Điển Bách Khoa Phật Giáo I 606tt và ii 337tt [18]. Bhaṇḍāgāragabbhappamāṇaṃ; DPPN i 638tt cho rằng “Đây là khoảng không gian do các khúc cuốn của long vương tạo ra và rộng bằng một không gian của một căn pḥng thuộc điện Lohapāsāda”. Cung điện vừa kể “chính là một ṭa nhà tọa lạc tại Anurādhapura, tạo thành sảnh đường trai nhật của một Đại Thiền Viện (Mahāvihāra)…một ṭa nhà chín tầng, mỗi pḥng rộng tới một trăm cubit vuông và cao, mỗi tầng như vậy có tới một trăm pḥng…ṭa nhà có mái lợp bằng tấm đồng lát mỏng, chính v́ thế ta có tên gọi như vậy, các vị Tỳ khưu cư ngụ trong chín tầng ṭa nhà đó, tuỳ theo thành tích đa dạng của từng người một, bốn tầng cuối cùng dành làm nơi cư trú của các vị A-la-hán. (DPPN ii 795) [19]. Không được dịch, theo như bản văn Be. “ Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 90 (Be)”. [20]. Bản văn Be giải thích là heṭṭhālohapasādappamāṇaṃ (c̣n Ce Se giải thích là heṭṭhā lohapasādappamāṇaṃ).C̣nbản văn ghi heṭṭhā Lohapāsādappamānaṃ. [21]. Đi, đứng, ngồi và nằm. (bốn tư thế) [22]. Bản văn Be giải thích là tassa tathā karitvā ṭhānakāraṇaparidīpanaṃ c̣n Vin-a ghi là (Se tassa tathā karitvā ṭhānakaraṇaparidīpanaṃ) c̣n bản văn Ce lại ghi tassa ṭhānakaraṇaparidīpanaṃ. [23]. Bản văn Ce Be Se Vin-a giải thích là daṃsādisamphasso c̣n bản văn ghi là dhaṃsādisamphasso vā. [24]. V́ đây đă là cuối mùa nóng. [25] . Ce Be Se giải thích là tam pi; bản văn lại bỏ xót. C̣n Vin-a giải thích là tam pi naṃ, có thể là điều muốn nói đến ở đây. [26]. Bản văn Ce Be Se giải thích là keci ’ettha vadanti, c̣n bản văn lại ghi là keci vadanti ’ettha. [27]. Đây là điều không rơ ràng điều này ám chỉ nguồn bản văn nào. [28]. Bản văn Ce Be Se giải thích là karitvā aṭṭhāsī ti, bản văn th́ ghi là karī ti. [29]. Bản văn Ce Be Se Vin-a giải thích là ubbiddhaṃ, c̣n bản văn ghi là ucchinnaṃ; chú giải MA ii 377; It-a i 90 cũng tương tự như vậy. PED không có mục từ nào là ubbiddhaṃ cả. [30]. Dūribhūtaṃ; rất có thể là ư tưởng này là bầu trời (không gian) xem ra “gần lại” khi cơn giông băo đang hoành hành. Nhưng điều này lại trở lại hiện trạng b́nh thường khi cơn giông tan biến đi. [31]. Bản văn Ce Be Se giải thích là ñatvā c̣n bản văn th́ ghi là natvā. [32]. Kumāra; Be ghi là kumāraka. Được định nghĩa trong Ud-a 109 và 294 dưới đây. [33]. Chú giải Phật Tự Thuyết Kệ (Ud-a) 231 dưới đây để chỉ ba loại viễn ly; cũng như Chú Giải Phật Tự Thuyết Kệ 251 dành cho viễn ly hạnh phúc tột đỉnh. [34]. Chú giải D iii 229. [35]. Bản văn Ce Be Se Vin-a giải thích là ca c̣n bản văn ghi là vā. [36]. Bản văn Ce Be Se Vin-a giải thích là avihiṃsanabhāvo sukho c̣n bản văn th́ ghi là avihiṃsa-bhāvo vā. [37]. Bản văn Ce Be Se giải thích là vigatarāgatā c̣n bản văn (Vin-a vl) ghi là vītarāgatā, Vin-a virāgatā. [38]. Bản văn Be giải thích là vigatarāgatā c̣n bản văn ghi là vītarāgatā, Bản văn Ce Se Vin-a ghi là virāgatā; cách giải thích ở đây rơ ràng có cùng một ư nghĩa theo như trong câu trước ở trên. [39]. Bản văn Ce Be Se Vin-a giải thích là pana; c̣n bản văn th́ bỏ xót. [40]. Ce Be Se giải thsich là desanāya kūṭaṃ c̣n bản văn lại ghi là desanākūṭaṃ; chú giải Vv-a 243 cũng tương tự như vậy. trong Ud-a 216 dưới đây. chúng ta thấy thay thế cho: imaṃ mahā udānaṃ…kūṭaṃ gahetvā |
|