NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG BỐN: MEGHIYA

                         1. MEGHIYA

[217] Trong Kinh Phật thứ nhất nói về Chương Meghiya: Tại thành phố Cālikā (Cālikāya) : Trong[1] thành phố có tên như vậy. Người ta kể lại rằng, không có chỗ đặt cổng thành, mọi nơi chỉ thấy toàn là bùn đất[2] (calapaṅkaṃ), liên quan đến địa điểm thành phố được xây trên vùng đất bùn, trước con mắt các vị khách văng lai,  có nghĩa là thành phố được bao phủ một lớp bùn đất (cālamāna) và chính v́ người ta gọi thành phố đó là Cālikā. Trên ngọn núi Cālika (Cālike pabbate): Cách thành phố đó không xa có một ngọn núi; v́ ngọn núi này có màu sắc trắng tinh, ngay cả những đêm tụng giới (Uposatha) trời tối như mực, trước mắt khách văng lai xuất hiện ngọn núi trắng toát phủ đầy tuyết (calamāna), chính v́ thế ta gọi là “Ngọn Núi Cālika”. Gần đó dân chúng đă xây một thiền viện rất lớn dành cho  Đức Phật; vào thời điểm đó, Đức Phật đang lưu lại trong thiền viện vĩ đại toạ lạc trên ngọn núi Cālika này, Ngài biến thành phố thành ngôi làng hành xứ; v́ lư do đó có lời nói rằng: “Đức Phật đang lưu lại trong thành Cālikā, trên đỉnh núi Cālika. Meghiya (Meghiyo) là tên vị Trưởng Lăo. Là người thị giả (upaṭṭhāko hoti): là người hầu cận[3]. V́ vào thời điểm Đức Phật vừa chứng đắc giác ngộ, Ngài chưa có ai theo hầu[4] thường xuyên cả; đă có thời Ngài chọn Nāgasamāla[5] làm thị giả cho ḿnh một thời gian, vào thời điểm khác lại thấy Nāgita cũng đi theo hầu Ngài, rồi c̣n có Upavāna[6], Sunakkhatta cũng phục dịch Ngài trong một thời gian, cả Sa-di Cunda[7]Sāgata, và Meghiya (là Trưởng Lăo Meghiya) cũng đă làm thị giả cho Ngài trong thời gian này. V́ lư do đó có lời nói rằng, “Và vào dịp đó, Trưởng lăo Meghiya làm thị giả cho Đức Phật”. Ngôi làng Jantu (Jantugāma): xa hơn một chút có ngôi làng làm hành xứ chăn tha gia súc có tên như vậy, đó cũng là một thiền viện cùng tên như vậy. Jattugāma[8] cũng là một cách giải thích. Kimikāā (Kimikāāya) : liên quan đến con sông tên là “Kimikāā”, liên quan đến sự kiện trong con sông đó có quá nhiều con trùn đen (akimīna) .V́ Ngài đang duỗi chân ra (jaghāvihāra[9]): đang khi Ngài c̣n du sĩ đó đây nhằm mục tiêu xua đuổi mệt mỏi nổi lên do hai cẳng chân của Ngài đă ră rời, do kết quả ngồi thiền[10] trong một thời gian dài. Đầy cảm hứng thanh thản (pāsādika). Cảnh vật xung quanh như tạo cảm giác thanh thản cho những ai chiêm ngắm cảnh rừng thưa thớt và cành lá cây bóng láng[11] [218]“thoải mái”(manuññaṃ), do có những lùm cây bóng mát dầy đặc[12] và cảnh vật thiên nhiên “tươi đẹp” ngay tại phương trời hiệp thế đó; “thích thú” (ramaīya) v́ cảnh vật làm say mê ḷng những người nhập thiền, hiểu theo cách tạo ra niềm vui và phỉ lạc. Thích hợp (alaṃ) đầy đủ, thích hợp cũng là ư nghĩa muốn đề cập đến ở đây. Cần cố gắng luyện tinh tấn (padhānatthikassa): có nhu cầu tu dưỡng bằng cách  thiền yoga[13]. Nhằm mục tiêu gia tăng tinh tấn (padhānāya): nhằm những mục tiêu thực hành Phật Pháp nơi vị  sa môn. Ta phải đến: āgaccheyyāha = āgaccheyya aha (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Người ta kể lại rằng địa điểm đó trước đây là một công viên các Trưởng lăo trước đă trải qua cả năm trăm lần tái sanh, trong đó Ngài liên tiếp với tư cách một người và cũng là một vị vua duy nhất.[14] Chính v́ lư do đó tâm Ngài đă có chiều hướng muốn lưu lại đó ngay khi vừa đến thành phố. Trước tiên làm ơn xin hăy đợi (āgamehi tāva): Vị đạo sư, nhận ra rằng đang khi Ngài thẩm định lại lời tuyên bố của vị Trưởng lăo về những ǵ ngài đă chứng kiến, đó là lúc trí của ngài chưa đạt đến trưởng thành đă nói như vậy nhằm bác bỏ. V́ vào thời điểm như vậy khi ta chỉ có một ḿnh (’ amhi tāva[15]). Nhưng ngược lại Ngài đă nói điều này với ngài Trưởng lăo nhằm mục đích chứng tỏ tính nhân hậu trong tâm, biết rằng, cho dù ngài đă đến đó trong hoàn cảnh như vậy[16], ngài cũng không nghi ngại những ǵ đă diễn ra để phải quay trở lại đây một lần nữa, do ḷng hăng hái v́ biết rằng công việc vẫn chưa hoàn tất. Và cho đến khi một vài vị Tỳ khưu khác cũng tới đây (yāva añño pi koci bhikkhu āgacchati) có nghĩa là làm ơn đợi cho đến khi một vài vị Tỳ khưu khác đến đảnh lễ trước mặt ta. Koci bhikkhu dissati (một số vị Tỳ khưu khác xuất hiện) cũng là một cách giải thích[17]; họ cũng giải thích[18]āgacchatu, giống như dissatu.[19] Chẳng c̣n điều ǵ để thực hiện nữa.(n’ atthi kiñci uttariṃ[20] karaīya): liên quan đến mười  sáu nhiệm vụ Ngài đă thắng tri v.v… có ảnh hưởng đến tứ thánh đạo liên kết với tứ thánh đế[21], hay nói cách khác liên quan đến việc Ngài đă thiền chứng giác ngộ, thực vậy, ngoài điều này ra, Ngài chẳng c̣n phải thực hiện bất kỳ điều ǵ khác nữa. Cũng chẳng c̣n điều ǵ Ngài phải làm (n ’atthi katassa vā paticayo) cũng như chẳng có bất kỳ điều ǵ phải thực hiện ngoại trừ những ǵ Ngài đă làm[22]. V́ đối với thánh đạo, một khi ta đă tu dưỡng, th́ chẳng cần phải tu dưỡng lại nữa, đối với các phiền năo cũng vậy, một khi đă diệt trừ ta chẳng cần diệt trừ thêm một lần nữa. Cũng có một số điều cần thực hiện thêm. (atthi[23]  katassa paticayo): liên quan đến thánh đạo một khi  chưa đạt đến được, v́ nhu cầu cần thiết, ta vẫn c̣n phải làm một vài điều thêm vào đó  như tăng thêm thọ tŕ giới (đạo đức) v.v…chẳng hạn, là điều ta cần phải hoàn tất liên tục tính. Ư nghĩa đây có thể là một điều ước. Hỡi Meghiya, làm sao chúng ta có thể lên tiếng, khi ngài đă đề cập đến chánh tinh tấn (padhānan ti kho Meghiya vadamāna kinti vadeyyāma): thực vậy[24] làm sao chúng ta có thể nói khác với ngài[25] được, khi ngài nói rằng “Ta sẽ thực hiện Phật Pháp với tư cách là một sa môn”? [219] Ngồi  trong thời gian c̣n lại trong ngày. (divāvihāra nisīdī): ngồi  vào thời gian nghỉ ngơi trong ngày và ngồi  như vậy, Ngài đă thực hiện như vậy tại một nơi có một phiến đá[26] đầy triển vọng, cả trăm lần tái sanh làm vua liên tục. Với một đoàn tuỳ tùng có rất nhiều[27] vũ nữ, khi ngài tham dự tiêu khiển trong công viên. Hơn thế nữa, đối với Ngài ngay từ thời điểm ngồi như vậy,  t́nh trạng sa môn của ngài thay đổi[28] liên tục, ngài xuất hiện là một vị vua, đang ngồi trên ngai vàng rất có giá trị, trên có che một chiếc dù màu trắng, vây quanh là  một đoàn tuỳ tùng các cung nữ. Rồi ngài lại liên tưởng đến các dục lạc, khi nếm thử vị ngọt ngào tuyệt hảo đó; ngay lúc đó, h́nh như ngài đă nh́n thấy hai người trộm đă lấy cắp được rất nhiều của cải[29] đem đến tŕnh diện trước mặt ngài. Cho dù có ác ư khởi lên nơi ngài,[30] bằng cách hạ chiếu chỉ hành quyết29 một trong hai tên cướp và cũng liên quan đến tính hung hản đó ngài đă hạ chiếu trói gô cổ[31] tên trộm c̣n lại – như vậy vây quanh ngài là những suy nghĩ bất thiện giống như một cây đă bị các giây leo hay một tổ ong[32] mật vây hăm. Liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng “Giờ đây khi Trưởng Lăo Meghiya” v.v…quả thực đây là một điều kỳ thú (acchariyaṃ vata bho): người ta kể lại rằng ư nghĩa điều kỳ diệu đó là một lời khiển trách phù hợp với điều Trưởng lăo Ānanda vừa chứng kiến thân[33] xương xẩu đầy vết nhăn của Đức Phật đă kêu lên, “Ôi kỳ diệu thay, đây quả thật là điều chưa từng thấy bao giờ.” Tuy nhiên, một số người lại cho rằng vào dịp đó đă nổi lên[34] nơi ngài những dục tư duy do thói tham lam ước muốn thưởng thức hoa quả, đọt cây non v.v…sân tư duy do nghe thấy âm thanh của các côn trùng có cánh. v.v… phát ra, với tiếng kêu inh ỏi chói tai. Hại tư duy[35] bằng những cục đất đá v.v…(hoặc giả) những dục tư duy do các ngài ngắm nh́n nơi đó nghĩ rằng, “Ta đang ngự trị ngay tại đó”. Sân tư duy do ḷng bội bạc đối với các vị cư trú trong rừng do nh́n thấy họ cư trú tại trú xứ này nọ[36], Hại tư duy do ư tưởng nối thù địch đối với các ngài. Trong bất kỳ trường hợp[37] nào, chính việc khởi sanh nơi ngài những tà tư duy đó lại chính là lư do làm khởi sanh những điều tuyệt diệu vậy.[38] Bị bủa vây và (anvāsattā) theo dơi. Bị phân tán.[39] Xuất phát từ một số ít suy tư như vậy, lại xuất hiện ở số nhiều[40] có liên quan đến chính ngài và các thầy Guru.[41] Anvāsatto [42] cũng là một cách giải thích. Tiến đến gặp Đức Phật (yena Bhagavā ten’ upasaṅkami ): sau khi đă phát hiện một người có nhiều tư duy bất thiện như vậy, người đó sẽ không thực hiện được điều ǵ thích hợp với các đề mục thiền[43] ḿnh đang nhập thiền “Đức Phật nh́n xa trông rộng chắc chắn phải hoàn tất tu luyện chiêm ngưỡng những thứ đó.” [220] Đă đứng dậy khỏi[44] chỗ ngồi đó, chổ ngài đă ngồi thiền từ bấy lâu nay nghĩ  rằng ngài phải thông báo điều này cho vị Như Lai Thập Lực biết thử thách[45] này, và rồi đi đến gần Đức Phật, và sau khi đă đi đến, ngài  thuật lại cho Đức Phật về những ǵ đă diễn ra với ngài bằng cách nói rằng, “ Bạch Thế tôn chính v́ giờ đây tôi đă” v.v…Về điều này:

Đối với hầu hết vấn đề (yebhuyyena):  dồi dào, kiên tŕ. Điều ác (pāpakā): hèn hạ ti tiện. Bất thiện (điều xấu) (akusalā): những ǵ được tạo ra do thiếu tài khéo thiếu hiền triết[46], hay nói cách khác những điều đó là “bất thiện” hiểu theo nghĩa tạo ra kết quả[47] xấu, khổ cảnh, “thiếu khôn khéo” liên quan đến việc đối ngược lại với những ǵ là hiền triết; đây[48] c̣n là một “tư duy” hay tầm (vitakko) v́ điều đó cân nhắc (vitakketi[49]), xem xét[50] hướng tâm vào một đối tượng[51], “một dục tư duy ” là một tư duy kèm theo với cảm khoái dục lạc, nghĩa là một tư duy kèm theo với những ước muốn dục lạc dưới dạng các phiền năo dục có những vật dục làm đối tượng[52] (chính v́) giống như một “sân tư duy ” là một “tư duy đi kèm với ác ư (và) hại tư duy là “một tư duy kèm theo điều tàn nhẫn”.  Về những tư duy này, một “dục tư duy” th́ đối nghịch lại với ly dục tư duy (diệt dục) diễn ra bằng cách thưởng thức[53] các ước muốn dục lạc tham dục đó, một “sân tư duy ” là tư duy đối nghịch lại với ḷng từ tâm diễn ra dưới dạng những lời phát biểu khiếm nhă liên quan đến[54] tha nhân, tức là. “Mong rằng chúng sanh này bị giết chết[55] hay bị tiêu diệt không c̣n tồn tại nữa.” Một “hại tư duy” là tư duy đối nghịch lại với bi tâm diễn ra bằng các ước muốn tạo phản kháng với chúng sanh bằng cách ra tay, bằng ném đá, bằng cách dùng cây gậy. v.v… Nhưng tại sao Đức Phật lại tự cho phép ngài tới đó? Ngài tự cho phép ḿnh thực hiện điều đó, ngay cả khi ngài không được phép làm như vậy, th́ sự việc vẫn cứ diễn ra bỏ lại ngài phía sau và ngài sẽ chịu đựng sai lầm đó, “Đối với tôi, xuất phát từ ước muốn đối với đầy tớ của Đức Phật đă không cho phép tôi tới đó.” Điều đó có thể gây thiệt hại và đau khổ lâu dài. Chính v́ thế  đang khi diễn giải Phật Pháp  thích hợp cho ngài Trưởng lăo,  Đức Phật (vẫn c̣n) ngồi thiền sau khi báo cho vị Trưởng lăo biết điều ǵ đang diễn ra, ngài nói tiếp “ Khi việc giải thoát tâm chưa trưởng thành đầy đủ, hỡi Meghiya” v.v…” về điểm này:

Chưa trưởng thành đầy đủ (aparipakkāya): chưa hoàn toàn trưởng thành. Khi giải thoát tâm (cetovimuttiyā) Khi việc giải thoát tâm vẫn chưa (ceto vimuttiyā,  thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) khỏi các phiền năo; v́ ngay trong giai đoạn trước (thiền chứng thánh đạo) th́ giải thoát tâm khỏi các phiền năo thông qua nhất thời cho dù trấn áp đi chăng nữa (ngược lại) vào giai đoạn kế tiếp[56] thông qua triệt tiêu cũng như tịnh chỉ [57], việc giải thoát này cũng đă được đề cập đến từng chi tiết ở trên.[58] Chính v́ thế ta nên hiểu theo cách đă được khẳng định ở trên; v́ Thiền Minh Sát chính là biết rơ từ đáy ḷng thánh đạo[59] đă trưởng thành đầy đủ. Khi mục đích của ta liên quan đến vấn đề này đă trở nên hoàn toàn trưởng thành, đă nở rộ[60] do những điều đó đem lại giải thoát trưởng thành hoàn toàn. (Thiền Minh Sát như thế) được biết đến là do “Việc giải thoát tâm đă đạt đến trưởng thành hoàn toàn vậy”. Thiếu yếu tố này đúng là chưa trưởng thành đầy đủ vậy. Nhưng điều ǵ có thể đem đến giải thoát trưởng thành hoàn toàn? Bằng cách thanh tịnh các quyền đem lại hiệu quả tốt như tín quyền v.v… ta nên hiểu có tới mười lăm pháp như vậy, v́ đây là những ǵ được đề cập đến.

Khi chúng ta xa lánh những cá nhân thiếu niềm tin, khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến, khi ta ngồi vây quanh tỏ ḷng kính lễ, những người có niềm tin,  khi ta quán xét lại Kinh Tạng tạo cảm giác thanh thản [221]  ba phương cách đó chính là khả năng thanh tịnh tín quyền vậy. Khi ta xa lánh những cá nhân biếng nhác, khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến, khi ta ngồi quanh tỏ ḷng kính lễ những ai đă có tâm tinh tấn. Chính là khi ta quán xét chánh tinh tấn vậy. – Trong ba trường hợp vừa kể, chính tấn quyền sẽ được thanh tịnh. Khi ta tránh những ai thất niệm[61]. Khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến, khi ta ngồi thiền kính lễ các chúng sanh, đang hành chánh niệm, khi ta quán xét lại Tứ Niệm Xứ – trong ba trường hợp vừa kể đó chính là niệm quyền được thanh tịnh. Khi ta tránh chúng sanh không định tâm, khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến những chúng sanh đó, khi ta ngồi thiền tỏ ḷng kính lễ họ, là những chúng sanh tập trung nhập thiền định khi ta quán xét lại các thiền Jhanas và giải thoát.[62] – Trong ba cách vừa nêu khả năng định quyền được thanh tịnh. Khi ta tránh xa những chúng sanh trí tuệ yếu kém, khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến họ khi ta ngồi thiền để tỏ ḷng kính lễ họ, thuộc dạng chúng sanh thiền chứng trí tuệ. Khi ta quán xét lại hạnh và trí[63] sâu sắc đó – trong ba phương cách đó chính là tuệ quyền được thanh tịnh. V́ lư do đó, khi ta tránh năm loại chúng sanh này, khi ta theo đuổi, khi ta phải cần đến, khi ta ngồi thiền tỏ ḷng kính lễ năm loại chúng sanh, khi ta quán xét lại năm bài kinh[64], th́ năm quyền này[65] được thanh tịnh theo mười lăm cách đă được liệt kê.” (Pts ii 1). C̣n mười lăm phương pháp khác cũng đem lại giải thoát trưởng thành toàn diện với điều ǵ có tín quyền là điều thứ năm,[66] năm tưởng này cùng chia sẻ cách quán triệt, tức là tưởng vô thường, tưởng đau khổ, tưởng vô ngă, tưởng đoạn diệt và tưởng ly tham[67] (và) có người bạn thân, thu thúc giới bổn, diệt dục triệt để,[68] khai tâm tinh tấn và trí tuệ sâu sắc. Liên quan đến những vấn đề này, Đạo sư của chúng rất khôn khéo trong việc thuần hóa những ai có khả năng dẫn dắt được. Trước tiên ngài cho rằng, “Năm phương pháp đó sẽ dẫn đến trưởng thành toàn diện.[69]” Trong trường hợp hiện nay, ngài làm rơ vị thế Trưởng lăo Meghiya, là người có khả năng chấp nhận hướng dẫn; chỉ cần năm điều cuối cùng cũng đem lại giải thoát trưởng thành toàn diện, như có người bạn tốt, v.v… và ngài nói tiếp, “Liên quan đến vấn đề này, Trưởng Lăo Meghiya là vị Tỳ khưu[70] có người bạn tốt” v.v…cung cấp thêm chi tiết về những điều này.” về điểm này:

(1) Ngài (Trưởng lăo) có người bạn tốt (dễ thương) (kalyāamitto): v́ ngài có người bạn dễ thương, đầy triển vọng và xinh đẹp, người có người bạn rất tốt (dễ thương)”. Khi ngài có người bạn tốt với những ân đức đặc biệt như giới (morality) v.v… người (bạn tốt) đó luôn sẵn sàng phục vụ trong mọi t́nh huống, tức là “người (đó) đă tận diệt hết những ǵ bất thiện”, (người đó) được đem lại hạnh phúc.[71] Như vậy (người đó) có “một bạn tốt” v́ đi kèm với người đó, (saha ayati), kết bạn cùng với người đó, thế nên những chúng sanh đáng yêu (kalyāa) đă đề cập tới ở trên dưới mọi  h́nh thức thân, không bao giờ rời bỏ những oai nghi đó. Người đó có bạn tốt. (kalyāasahāyo). [222] v́ đi tới với cả tâm lẫn thân trong một pháp nghiêng về, thiên về, hướng về những ca nhân đáng yêu đó mà thôi, đó là người có “bạn tốt” . Thông qua ba từ này, ngài khiến khởi sanh mối tương quan liên kết với người bạn tốt đó.  Trong hoàn cảnh hiện nay, lại có những ân đức đặc biệt liên quan đến người bạn tốt đó. – liên quan đến vấn đề này, người bạn tốt chính là người có niềm tin, có giới hạnh (morality), có khả năng lắng nghe, có tính hoà nhă, có chánh tinh tấn, có chánh niệm, có thiền định, có thiền tuệ; về điểm này, nhờ có đức tin. Ngài đặt niềm tin đó nơi việc giác ngộ của vị Như Lai và nơi kết quả, nơi các nghiệp thực hiện. Kết quả là ngài không bao giờ bỏ qua t́m kiếm hạnh phúc cho chúng sanh là điều tạo thành nhân để có được giác ngộ toàn hảo. Qua việc Ngài có giới hạnh, cùng với những bạn bè sống đời phạm hạnh.  Ngài là người rất đáng quí, là người dễ thương, đáng kính trọng, đă được tu dưỡng, là người phát lộ[72] những ǵ là bất thiện, là người phát ngôn. Một người chú tâm kiên định với lời nói (của người khác); qua việc ngài có khả năng lắng nghe; ngài là người tạo ra được những cách diễn giải Phật Pháp cao siêu liên quan đến tứ diệu đế và y tương sinh. v.v… thông qua việc ngài có được tính hoà nhă, ngài là người có rất ít nhu cầu, hài ḷng, ẩn đật, không có nhiều giao tiếp; thông qua việc ngài có chánh tinh tấn, ngài là người khai tâm chánh tinh tấn; là người chỉ chăm lo đến hạnh phúc cho chúng sanh; thông qua việc ngài có chánh niệm. Ngài là người hiện hữu chánh niệm. Thông qua việc ngài có chánh định, ngài không bao giờ tỏ ra phân tâm, là người có tâm luôn nhập thiền định; (trong khi đó) thông qua việc ngài có trí  tuệ. Ngài am hiểu[73] các pháp một cách rơ ràng. Đang khi ngài t́m kiếm. Thông qua chánh niệm. Ngài t́m thấy được những sanh thú[74] thuộc cơi nhàn cảnh. Thông qua trí tuệ Ngài hiểu ra được thực chất pháp. Thông qua trí  tuệ, là điều mang lại hạnh phúc và đau khổ[75] cho chúng sanh. Sau đó, một khi đă trở thành tâm nhất cảnh trong đó thông qua chánh định, chánh tinh tấn của Ngài đă giáo hoá chúng sanh khỏi  điều đau khổ[76] và rồi  thúc đẩy họ quan tâm đến những ǵ đem lại hạnh phúc cho chúng sanh mà thôi. V́ lư do đó: “Người nào tỏ ra yêu mến, được kính trọng, người nào tu luyện, là vị thuyết  pháp, người nào tập trung chú ư đến lời nói của người khác, và người nào thuyết ra  được một bài thuyết pháp sâu sắc không kích động người khác lao vào những điều bất thiện.” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 32)

Như có lời nói rằng:

Đây là điều đầu tiên dẫn đến trưởng thành toàn diện (aya pahamo dhammo paripākāya savattati ) : đây chính là vô tàm, có bạn tốt  được coi  là điều đầu tiên liên quan đến những ǵ ta đă đề cập đến ngay từ khởi điểm năm phương pháp cơ bản nhất[77] để duy tŕ cuộc sống phạm hạnh và v́ đây là điều tuyệt vời nhất đem lại lợi ích[78] to lớn cho tất cả những pháp thiện, tạo giải thoát tâm, tràn ngập trưởng thành bằng cách tạo ra nguyên nhân thanh tịnh[79] tín quyền v.v...là những ǵ chưa được thanh tịnh trước đó. Liên quan đến vấn đề này, việc phục vụ vĩ đại và tính ưu việt không ǵ sánh nổi khi có người bạn tốt, ta nên hiểu theo cách đă tŕnh bày trong các đoạn Kinh Tạng sau đây “Hỡi  Ānanda, v́ đây là điều tạo cuộc sống phạm hạnh, có nghĩa là, có người bạn tốt v.v…( Đức Phật đă thốt lên) với người canh giữ kho báu Phật Pháp khi khẳng định, “có người bạn tốt đă tạo thành một nửa cuộc sống phạm hạnh, có nghĩa là khi ta có bạn tốt.[80]” Sau đó Ngài đă ngừng lại đến hai lần để nhấn mạnh về vấn đề này với câu, “Hỡi  Ānanda, xin đừng nói như vậy ” (S v 2)

Và rồi lại nữa, thêm vào đó (puna caparaṃ [81]) : Thế rồi lại nữa, vẫn c̣n một điều thuộc loại này thêm vào đó (puna ca aparaṃ  thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Một người[82] người có giới (sīlavā[83]):   [223] Liên quan đến vấn đề này “giới” (sīla) ở đây mang ư nghĩa ǵ?[84] Giới (sīla) (đạo đức) hiểu theo nghĩa “củng cố” (sīlana).  Nhưng xét theo tên gọi,“củng cố[85]” mang ư nghĩa ǵ vậy? Hoặc củng cố mang ư nghĩa tập trung[86] (samādhāna), có nghĩa là không xua tan qua việc củng cố hoàn toàn về điều đó;[87] về các thân nghiệp v.v… hay nói cách khác là nâng đỡ (upadhāraa), ư nghĩa ở đây là pháp trở thành chấp tri (đồ chứa) (adhārabhāvo) do trở thành “nền tảng”cùng một thứ loại[88] nơi các pháp như: nhập thiền Jhanas v.v…[89]chính v́ thế, đó là “giới” (sīla) hay v́ “nền tảng”tạo ra những pháp này được củng cố (sīleti), hoặc v́ chính “nền tảng” đă củng cố những pháp này (sīlati)[90]   Trước tiên đây là ư nghĩa của giới (sīla) (morality)  hiểu theo phương ngữ pháp[91]. Tuy nhiên một số người khác lại b́nh luận về ư nghĩa dựa theo phương pháp[92] nguyên từ học nói rằng “Ư nghĩa từ giới (sīlaṭṭho) (morality) chính là điều thuộc (cái đầu) (siraṭṭho), là điều mát lạnh (sītalaṭṭho), thuộc cái gọi là thu thúc (saṃvaraṭṭho)[93]V́ giới đó, hoặc ở mức độ đă hoàn tất hoàn toàn, hay ở mức độ thái quá. Chính ngài là người đă có“giới.” (sīlavā) có nghĩa là “người đầy đủ giới” (sīlasampanno)[94]. Và để làm rơ bằng cách nào chúng ta có được “giới” (nền đạo đức) là người có giới, Ngài nói, “Một khi người nào đó thu thúc bằng giới bổn” v.v… về điểm này: Giới bổn[95](Pātimokkha) chính là “giới” (nền đạo đức) liên kết với những điều học tu luyện. V́ chính giới bổn (Pātimokkha) mà bất kỳ người nào thọ tŕ (pati), ǵn giữ “giới bổn” đó th́ chính giới bổn đó sẽ giải thoát người đó, giải thoát người đó khỏi mọi đau khổ[96] như thể những đau khổ đó thuộc về các pháp bất thiện v.v…thu thúc (saṃvaro) chính là việc thu thúc (samvaraṇaṃ), là t́nh trạng không phạm lỗi qua thân hay khẩu[97] đó chính là “thu thúc giới bổn” v́ bản thân giới bổn đă là thu thúc vậy. Thu thúc giới bổn đă thu thúc người đó, v́ người đó là người do giới bổn thu thúc bằng cách đó. Một người có thân cũng như khẩu đă được pḥng hộ[98] đây là cách giải thích hoàn toàn việc người đó được thiết lập trong “giới”. Người đó cư trú (viharati) cũng là cách giải thích hoàn hảo nhất về t́nh trạng một người có một “trú xứ”[99] thích hợp với giới đó. Là người có một ân đức và hành xứ thích hợp (ācāragocarasampanno) (pasturage) cũng là một cách giải thích hoàn hảo nhất mang bản chất phục vụ;[100] việc thu thúc giới bổn ở trên, và liên quan ở dưới với các pháp phân biệt.[101] Là người cảm thấy sợ hăi tội lỗi ngay cả (phạm lỗi) nhỏ nhất (aumattesu vajjesu bhayadassāvī) cũng là một cách giải thích hoàn hảo về việc không có khả năng sa ngă[102] khỏi giới liên kết với giới bổn. Việc thực hiện (samādāya) cũng là một cách giải thích hoàn hảo bằng cách tự nhận lấy cho ḿnh  không bỏ qua bất kỳ điều ǵ,[103] những điều học tu luyện. Người đó tự tu luyện bản thân (sikkhati) là một cách giải thích hoàn hảo về vấn đề tu luyện của người đó vậy. Những điều học tu luyện (sikkhāpadesu) là cách giải thích hoàn hảo về những sự việc người đó phải tự tu luyện bản thân. Một phương pháp khác nữa, người nào đó có thói quen sa ngă (patana) nhiều lần nơi các pháp bất thiện, liên quan đến tính chất mạnh mẽ là bản ch