NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

6. MANG THAI

Trong Kinh Phật thứ sáu: Đối với vị du sĩ nào đó (aññatarassa paribbājakassa): đối với một vị du sĩ nào đó là người có nhiều tài sản[1]. Một người vẫn c̣n rất trẻ (daharā): người vẫn c̣n ở tuổi non trẻ. Một nữ Bà la môn trẻ tuổi (avikā) là cách gọi quen thuộc dành cho người con gái của một vị Bà la môn. Cô nương (pajāpatī): là người vợ (bhariyā). Mang thai (gabbhinī ): có thai. Sắp sửa lâm bồn (upavijaññā): là một người sắp đến thời điểm sanh nở,  tức là chỉ ngày hôm nay hay ngày mai[2] là cùng, hoti (chính là) điều có liên quan[3]. Người ta kể lại rằng cậu ta, một người thuộc ḍng dơi Bà la môn, cùng với vợ ḿnh đang lưu lại tại vanaprastha-ā’rama[4]; v́ lư do đó (một số người khác) đă đối xử với anh, cùng với vợ[5] anh ta, theo cách gọi thông thường của những vị du sĩ [6]; trong khi đó vợ anh có thể gọi chồng ḿnh là “Bà la môn” do yếu tố là anh thuộc ḍng dơi Bà la môn bẩm sanh. Dầu (telaṃ): dầu vừng; liên quan đến vấn đề này, nàng ra lệnh cho chàng đi kiếm, lấy danh nghĩa là dầu[7] như bơ và muối v.v…là toàn bộ những thứ cần thiết để chống lại cơn đau đớn trong lúc lâm bồn[8][9]. V́ những thứ đó giúp ích rất nhiều trong lúc tôi sanh nở (ya me vijātāya bhavissati): v́ dầu v.v…[10] sẽ giúp ích cho thai nhi khi nó thoát ra ngoài an toàn khi tôi sanh con; paribbājikāya (đối với người nữ du sĩ) cũng là cách giải thích. Từ đâu (kuto): từ chỗ nào, ư nghĩa ở đây là không có chỗ nào dành cho chàng, có thể là gia đ́nh[11] của những người thân (họ hàng) hay gia đ́nh người bạn của chồng, là những nơi câu ta có thể kiếm được dầu v.v…[12][118] Liệu tôi có kiếm được chút ít dầu (tela āharāmi) được đề cập đến giả dụ rằng (một hành vi như vậy) rất thường xuyên xảy ra[13], ư nghĩa sẽ là tela āharissāmi (liệu tôi sẽ lấy được chút dầu chứ). Đối với vị sa môn và thầy bà la môn th́ bơ và dầu (samaassa vā brāhmaassa vā sappissa vā telassa ): từ có nghĩa là một liên từ. Như trong câu “từ lửa, (và) từ nước và () từ chỗ phá vỡ khối liên minh[14](Vin i 229 = D ii 88 = Ud 88[15]) và v.v… Về bơ và dầu (sappissa vā telassa vā) lại thuộc sở hữu cách hiểu theo nghĩa chủ cách[16] ư nghĩa ở đây được đưa ra, là bơ và dầu rất cần thiết để làm thức uống (pātu [17]=pivituṃ một dạng ngữ pháp khác) Tuy nhiên những người khác cho là sappissa vā telassa vā [18](về loại bơ và dầu đó) thuộc sở hữu cách liên quan đến những thành phần cấu thành[19], v́ đó chính là một phần cấu thành tập hợp bơ và sữa được đề cập đến trong trường hợp này bằng từ yāvadattha (như là điều cần thiết). Không được chấp nhận (no nīharitu): không được phân phát cho (sa môn và bà la môn) đem ra ngoài đựng trong đĩa hay bằng tay. Nôn mửa ra (uggiritvā [20]): ói ra, yannūna dadeyya [21] (điều ǵ sẽ xảy ra nếu tôi được…và rồi bỏ đi) cũng là điều liên quan. Người ta nói rằng điều này đă xảy đến với ông ta mà rằng: “Tôi sẽ đi đến nhà kho hoàng gia, uống dầu đầy cho đến cổ họng[22] trở về nhà[23] ngay lập tức và ói mửa vào một đĩa đă được uống cạn,[24]đặt lên ḷ và đun sôi dầu đó lên, tập hợp đó trở thành một hỗn hợp gồm có mật và đờm dăi và lửa sẽ thiêu rụi hết, rồi đem dầu đó đưa cho nữ du sĩ dùng đang lúc lâm bồn.” Tống khứ ra (uddhan kāta): tống ra ngoài bằng cách nôn mửa ra. Hay tống ra ngoài (napana adho [25]). Hơn thế nữa, không thể tống ra ngoài từ phía dưới bằng cách uống thuốc xổ ra.[26]V́ sau khi đă uống loại dầu đó cậu ta tin rằng phần c̣n lại được uống hết sẽ thoát ra ngoài từ miệng theo ư hắn, khi dầu không thể tống ra được nữa, theo cách nôn ra hay xổ [27] lại di chuyển lên phía trên và làm cho cậu ta đau đớn vô cùng do không thể tống khứ ra khỏi dạ dày[28]. Đau đớn (dukkhāhi): gây ra đau đớn vô cùng[29].Sắc bén (tibbāhi): đâm xắc[30].Làm gai người (kharāhi): thô ráp. Đau nhói (kaukāhi) đau dữ dội và trở thành phiền toái đến tột độ. Lăn về phía trước (āvaṭṭati): lăn về phía trước, kéo lê[31] người về phía trước như thể không nằm xuống[32] ở một nơi cố định. Lăn lộn tứ tung (parivaṭṭati [33]) nằm xuống ở một điểm, rồi lăn lộn dữ dằn vung[34] tay vung chân, tứ phía, hay nói cách khác, hắn lăn lộn về phía trước,

lăn tứ tung đó đây[35] lăn lộn[36] tứ phía[37].

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): biết rơ vấn đề này dưới mọi góc độ,  tức là đau khổ diễn ra có nguyên nhân do ăn uống thiếu thận trọng về phía những ai nắm giữ những điều chiếm đoạt (holdings).

 Trong khi đó điều này không xuất hiện nơi người nào không có của chiếm đoạt (holdings) đă khiến cho Phật Tự Thuyết này nổi lên.

Thực sự hạnh phúc (sukhino vata): các vị sappurisas[38] thực sự đă rất hạnh phúc. Nhưng họ là những ai vậy? Ai là người không nắm giữ các điều chiếm đoạt (holdings) (ye akiñcanā): Ai là người không có chiếm đoạt (holdings) do thiếu chiếm đoạt (holdings) nào dưới dạng tham dục v.v… và bất kỳ chiếm đoạt (holdings) nào dưới dạng tài sản; v́ hơn thế nữa của chiếm đoạt (holdings) không tồn tại nơi họ, người đó cho biết: đối với những người đi theo Phệ-đà là những người không nắm giữ những điều chiếm đoạt (holdings) (vedaguno hi janā akiñcanā): v́ những người nào đi theo Phệ-đà[39], những ǵ được gán cho phệ đà khiến cho trí tương ưng với thánh đạo mà họ đang đi theo (gatā), họ đă đạt đến được[40], hay nói cách khác nơi những ǵ thông qua Phệ Đà (vedena) họ đă đi theo (gatā). Họ đă chứng đắc níp bàn là những bậc thánh nhân, những người này đă đoạn tận mọi phiền năo, họ là những người không nắm giữ những điều chiếm đoạt (holdings), thực tế đó là các điều chiếm đoạt (holdings) đó lại ở dạng tham dục v.v…đă được đoạn trừ đến tận gốc rễ mà không dư sót dưới dạng thánh đạo tột đỉnh; v́ khi các điều chiếm đoạt (holdings) dưới dạng tham dục không c̣n tồn tại nữa, từ đâu ta có thể tạo ra những chiếm đoạt dưới dạng tài sản được? Như vậy[41] sau khi đă khen ngợi [42] các vị A-la-hán với câu kệ ở phần trên đó, thế rồi Ngài nói tiếp, “ḱa những người “nắm giữ những điều chiếm đoạt (holdings)” đang mắng nhiếc những kẻ phàm phu[43] mù loà bằng phần kệ sau. Điều này cũng có cùng ư nghĩa như đă được khẳng định trong Kinh Phật trước. Chính v́ thế luân hồi hay xuất luân hồi cũng được đề cập đến qua câu kệ này vậy[44]

Phần diễn giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.

-ooOoo-

[1]. Ce Be Se giải thích là kuṭumbikassa bản văn ghi là kuṭimbikassa.

[2]. Ce Be Se giải thích là ti  c̣n bản văn ghi là hi.

[3]. Ce Be giải thích là sambandho (Se thêm vào trong ngoặc kép); c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[4]. Ce Be Se giải thích là vādapatthassame ṭhito c̣n bản văn ghi là thāmappattarūpam edhito;  tôi đoán chừng nhờ vādapatthassame là sai (? do nhầm lẫn với vādapatha) v́ vanapatthassame chính là (vanapattha+assame); xin xem chú giải tiếp theo.

[5]. Ce Be Se giải thích là sapajāpatika c̣n bản văn lại ghi là samajātikā; rất có khả năng cách giải thích nguyên thủy có liên quan đến lư do tại sao chàng lại nói với nàng, về ḍng dơi ngang nhau. Chỉ bằng từ “bho”. Trong khi đó nàng lại nói với chàng bằng từ “brahmin”.

[6]. Xin đọc chú giải  Phật Tự Thuyết Kệ 378.

[7]. Ce Be Se giải thích là telasīsena trong khi đó bản văn ghi là telamissena.

[8]. Dukkha (đau khổ)

[9]. Ce Be Se giải thích là sappiloādi c̣n bản văn ghi là sappitelādi.

[10]. Be Se giải thích là telādi c̣n bản văn ghi là telaṃ, Ce ghi telādi.

[11]. Ñātikulā; xin đọc chú giải Vv-a 171 trong đó điều này được giải thích là một ngôi nhà của người cha chúng ta. 

[12]. Ce Be Se giải thích là telādi c̣n bản văn ghi là telādi.

[13]. Tập Dhammapāla thử cố gắng giải thích sự xuất hiện của th́ hiện tại trong khi đó th́ tương lai là điều lẽ ra phải được sử dụng.

[14]. Ce Be Se giải thích là mithubhedā  c̣n bản văn lại ghi là mithubheda.

[15]. Không phải là D i 25. 88 như Woodward đă khẳng định.

[16]. Paccatte; không phải là đối cách như đă được khẳng định trong tự điển PED sv paccatta 

[17]. Ce Be Se giải thích là pātu c̣n bản văn ghi là pātun ti; bản văn đă chèn sai một dấu chấm sau từ yāvadattha.

[18]. Ce Be Se giải thích là telassa vā ti, c̣n bản văn lại ghi là telassa vā.  

[19]. Be giải thích avayavasambandhe bản văn ghi avayavāvayavasambandhe. Ce Se avayavāvayavīsambandhe; xin đọc chú giải  Phật Tự Thuyết Kệ 37 ở trên.

[20]. Ce Se giải thích là ucchaditvā, Be ucchadditvāna, c̣n bản văn là uggiritvā, Ud ghi uggiritvāna. Xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ về những vấn đề này và các vll khác.

[21]. Se giải thích là nibbameyyaṃ ở đây. ghi lại dadeyyaṃ là một vll, cho dù ta không t́m thấy nibbameyyaṃ trong Ud  Se.

[22]. Ce Be Se giải thích là kaṇṭhamattaṃ c̣n bản văn ghi là ākakhamatta (tôi ước muốn nhiều bao nhiêu có thể)

[23]. Ce Be Se giải thích là āgantvā  bản văn lại ghi là gantvā.

[24]. Ce Be Se giải thích là yathāpita c̣n bản văn ghi là yathāhita.

[25]. Bản văn chèn thêm vā; Ce Be Se Ud lại bỏ qua.

[26]. Ce Be giải thích là viriñcanao. cho xổ, c̣n bản văn Se ghi là viriccanao

[27]. Virecana; xin đọc chú giải chú thích trước đó.

[28]. Arittatāya; CPD chắc chắn đă sai khi khẳng định rằng đây là từ giống cái ở định sở cách, trong trường hợp đó chúng ta cũng có thể giải thích là niggatāya hơn là niggate. Tôi coi từ này là sử dụng cách / xuất xứ cách / một từ trừu tượng aritta. Aritta có cùng gốc với viriñcana / viriccana (được xổ) và virecana (đang xổ) như ở trên và một số kiểu chơi chữ không thể được loại bỏ.

[29]. Ce Be Se giải thích là dukkhamāhi c̣n bản văn ghi là dukkhāvahāhi; tôi cho rằng từ  dukkhamāhi thuộc giống cái sử dụng cách số nhiều của từ *dukkhamant do đó Childers, PED và SED đều không có mục từ nào.

[30]. Be Se giải thích là bahalāhi tikhiāhi c̣n bản văn ghi là balavatikkhiāhi, Ce lại giải thích là balavatikhiāhi; xin đọc chú giải Ud-a 166 dưới đây cũng tương tự như vậy.

[31]. Ce giải thích là ākaḍḍhanto āvattati nāma. Be giải thích là ākaḍḍhanto āvaṭṭati, Se giải thích là ākaḍḍhanto āvaṭṭati nāma, c̣n bản văn lại ghi là ākaḍḍhanto vattati namati (kéo lê xác của ḿnh, người đó lăn, cuộn ḿnh lại) từ này có thể đưa ra (hầu như chắc chắn có ư định) các từ tương đương đồng nghĩa với āvaṭṭati<ākaḍḍhanto vaṭṭati.

[32]. Ce Be Se giải thích là anipajjitvā  c̣n bản văn ghi là anipajjāpetvā.

[33]. Ce Be Se và Ud cũng giải thích như vậy. c̣n bản văn th́ ghi parivattati

[34]. Be giải thích là vaṭṭati c̣n bản văn ghi là vattati, Ce Se ghi parivaṭṭati; như vậy từ này cũng cho ta một từ tương đương là parivaṭṭati<parito vaṭṭati.

[35]. Ce Be Se và Ud giải thích parivaṭṭati c̣n bản văn ghi là parivattati. 

[36]. Be Se giải thích là vaṭṭanto c̣n bản văn ghi là pavattanto, Ce ghi pavaṭṭanto.

[37]. Chính  v́ thế cách giải thích khác này lại đưa ra một từ tương đương đồng nghĩa với āvaṭṭati <abhimukha vaṭṭanto và một cách tương ứng parivaṭṭati < samantato vaṭṭanto 

[38]. Được định nghĩa trong MA i 21 như là Chư Phật Toàn Giác, Chư Phật Độc Giác, Paccekabuddhas và các sāvakas ( có nghĩa là Vị Nhập Lưu, vị Nhất Lai, vị Bất Lai hay các vị A-la-hán.) các vị Như Lai; bất kỳ vị nào khác đều là phàm phu. Được đề cập đến ở dưới đây. 

[39]. Xin đọc  chú giải Ud-a 426 cũng tương tự như vậy.

[40]. Adhigatā; Be bỏ qua.

[41]. Ce Be Se giải thích là evaṃ c̣n bản văn ghi là evam eva. Ta có thể giải thích điều này thay v́ “chính v́ thế sau khi đă khen ngợi….”

[42]. Ce Be Se giải thích là arahante  c̣n bản văn ghi là arahatte.

[43].  Bất cứ người nào chưa nhận ra Tứ Diệu Đế; tuy nhiên những người phàm phu cũng có thể là người có giới tốt hay xấu (Trung Bộ Kinh (M) iii 255), cũng như trong MA i 21 đă phân biệt rơ những người hiền phàm phu (kalyāa puthujjana) và những đặc tính mù quáng (andha) của người đó.

[44]. Xin đọc chú giải  Phật Tự Thuyết Kệ 115 trước đó.