NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. L̉NG KÍNH TRỌNG

[112] Trong Kinh Phật Thứ Tư: và nhân cơ hội đó, Đức Thế Tôn được kính trọng (tena kho pana samayena Bhagavā sakkato hoti): Đức Thế Tôn được kính trọng bằng một niềm tôn kính v.v… được tạo thành thánh quả do địa vị cao trọng trong những nhân tố công đức Ngài đă chu toàn trong suốt bốn A tăng kỳ (kappa) và hơn một trăm ngàn đại kiếp, ḷng tôn kính như vậy tăng trưởng cao hơn như được sanh ra trong niềm tin tưởng rằng trong tương lai chẳng c̣n cơ hội nào để thể hiện ḷng tôn kính này nữa. V́ [1] giống như một cơn lụt lớn sau khi cơn dông lớn đă nổi lên, toàn bộ những điều hoàn hảo, như được tích tụ lại đă chín mùi chỉ trong một giây lát xuất hiện, đem lại cho toàn bộ tứ phương thiên hạ một cơn lụt thành tựu vĩ đại và ḷng kính trọng đối với Đức Thế Tôn nhờ đó[2] các vị sát đế lỵ và bà la môn v.v… có thể xuất hiện cùng với thức ăn thức uống, y phục, xe cộ[3], ṿng hoa, nước hoa dầu xức v.v… trong tay và đi đến Đức Thế Tôn nói rằng, “ Đức Phật đang ở đâu? Đức Thế Tôn đang ở đâu? Vị Chư thiên của chư thiên đang ở đâu? Bậc Ngưu vương trong số con người đang ở đâu? Bậc Sư tử của con người đang ở đâu?” Do không có cơ hội nào sau khi đă đem đến một xe chất đầy của thiết yếu do hàng trăm xe nối đuôi nhau, trong một vùng rộng hàng trăm gāvuta[4]giống như theo đuổi Ngài và các vị Bà la môn Andhakavinda[5] v.v…Toàn bộ những điều này ta nên hiểu như đă được truyền lại trong hợp phần (Khandhaka) (Vin i 220) và trong kinh này kinh nọ, và cũng như đối với Đức Thế Tôn và đối với Tăng Đoàn các vị Tỳ khưu [6]. Về vấn đề này có lời nói rằng: “Ở mức độ như thế, Cunda, mà các Tăng đoàn và các vị Tỳ khưu xuất hiện trên thế gian này, hỡi cunda, ta không nhận thấy có bất kỳ Tăng đoàn riêng lẻ nào, ngay cả tăng đoàn đó đă đạt đến một địa vị tối thượng trong đó lợi tức được quan tâm, cũng như một nơi chính yếu có liên quan đến tiếng tăm cũng như cunda một Tăng đoàn các vị Tỳ khưu.” (D iii 126) cùng một thứ lợi tức và danh tiếng đă nổi lên đối với Đức Thế Tôn và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu thật không thể đo lường được, giống như nước trong trận đại hồng thủy xuất phát từ hai ḍng sông lớn đă nhập lại làm một; v́ lư do đó mà, “vào dịp đó Đức Thế Tôn được tôn kính…các Tứ vật dụng (như thuốc hỗ trợ trong cơn ốm đau của Ngài); trong khi đó Tăng Đoàn cũng được tôn trọng giống như vậy…với các Tứ vật dụng hỗ trợ trong cơn bệnh hoạn cũng được nhắc đến.

Mặt khác, những người thuộc các nhóm ngoại giáo khác, không được kính trọng như vậy, liên quan đến một thực tế là trước đó họ đă không thực hiện các việc công đức và liên quan đến một thực tế nữa là trước đó họ đă tập luyện một cách sai lạc; trong khi đó khi Đức Phật[7] xuất hiện đặc biệt họ đă trở nên giống như những cây huệ lửa[8] mất vẻ lộng lẫy của ḿnh khi mặt trời xuất hiện. [113] Những người nào thiếu vẻ lộng lẫy, những người nào do thiếu vẻ sáng ngời, lợi lộc, ḷng kính trọng đă bị tiêu diệt hết, họ không c̣n khả năng duy tŕ lợi lộc và ḷng kính trọng giống như những ǵ dành cho Đức Phật và Tăng Đoàn các vị Tỳ khưu đă bị lấy mất; do ganh tỵ[9]họ đă đi đây đó xúc phạm và lăng nhục các vị Tỳ khưu khắp nơi này nơi khác, tỏ lộ những biểu hiện phẫn nộ[10] nghĩ rằng, “Chúng sẽ khiến họ phải tháo chạy chỉ đơn giản[11] bằng cách mắng nhiếc[12] họ bằng những lời thô bỉ như thế đó” v́ lư do đó, “đang khi các vị du sĩ thuộc về các giáo phái khác không được kính trọng…những Tứ vật dụng không được cung cấp (thuốc hỗ trợ trong lúc bệnh tật) và khi các vị du sĩ thuộc các nhóm ngoại giáo khác không thể chịu đựng được ḷng kính trọng dân chúng dành cho Đức Phật và Tăng Đoàn các vị Tỳ khưu, khi vừa nh́n thấy họ trong ngôi làng hay trong khu rừng, họ đă nói lời xúc phạm đến các ngài bằng những lời nói khiếm nhă và thô bỉ. Người ta nói rằng, “Họ đă sỉ nhục các vị đó làm phật ư các ngài và quấy rầy họ nữa. Về điểm này:

Khiếm nhă (asabbhāhi): Không thích hợp với các hội chúng lịch thiệp, thốt lên những lời lẽ như vậy trong hội chúng giữa những người có giới hạnh thật không thích hợp chút nào. Có nghĩa là những lời đó mang tính đâm thọc. Thô bỉ (pharusāhi): lỗ măng, gây tổn thương[13] một cách trầm trọng. Xúc phạm (akkosanti): chế nhạo với mười cách xúc phạm như ḍng dơi gia đ́nh v.v…[14]sỉ nhục (paribhāsanti): đe dọa tạo ra sợ hăi nổi lên bằng cách tranh căi. Làm phật ư (rosenti): giống như những lời sỉ nhục đối với người khác, v́ thế họ đă sỉ nhục bằng cách tạo ra những lời kết án vô căn cứ, quấy rối (vihesenti): tạo ra mối oán thù, tạo ra bất hoà[15] bằng nhiều cách khác nhau.

Nhưng bằng cách nào họ[16] có thể xúi giục những lời xúc phạm Đức Thế Tôn và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu, là những người đang đem lại ḷng mộ đạo cho tất cả họ?[17] với tấm ḷng đă bị lợi lộc làm tha hoá và họ đă bỏ qua ḷng kính trọng đối với Ngài, tiếp theo sau việc Đức Phật khởi sanh, như thể họ đă bị sẩy chân[18] sau khi đă đào hố sâu[19] chôn lấp chính ḿnh và như thể vết xẹo[20]đă hằn lên mặt một ḥn ngọc berul không hề sây sướt, họ tung ra những lời sỉ vả này nhằm tạo sự chú ư của vị nữ du sĩ tên là Sundarikā[21] và qua nàng biết bao lời khiếm nhă đối với  Đức Phật và các vị Tỳ khưu[22] đă xảy ra, họ đă xúi giục những lời xúc phạm v.v…nhưng chính câu chuyện[23] liên quan đến Sundarikā[24]sẽ được truyền đạt lại[25] sau này trong kinh Phật Sundarikāsutta trong một bản văn[26] Kinh pāli; chính v́ thế ta chỉ b́nh luận về kinh đó[27] ngay tại nơi ta đề cập đến kinh này mà thôi.

Các vị Tỳ khưu đă đến gặp Đức Phật và trước mặt Ngài họ đă tŕnh bày biến cố đó cho Ngài biết, do đó có lời nói rằng, “Thế rồi  rất đông các vị Tỳ khưu đă đi đến gặp Đức Thế Tôn ……và (bạch lại cho Ngài biết những ǵ) đă quấy rầy ’. Điều này chỉ đơn giản là ư nghĩa đă được khẳng định.

[114] Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định lại mọi phương thức về hành động[28] sai trái nơi những kẻ thuộc các nhóm giáo phái khác do ganh tị mà họ đă thực hiện điều đó. Tập Phật Tư Thuyết này (ima udāna): khiến cho tập Phật Tự Thuyết này khởi sanh nhằm làm sáng tỏ vẻ oai nghiêm hiện trạng[29] bất biến liên quan đến đặc tính không thích hợp về những ǵ họ đă thực hiện và giúp những ai thành tâm phục vụ tha nhân. Về điểm này:

Khi gặp phải hạnh phúc và đau khổ trong làng hay trong rừng sâu (gāme araññe sukhadukkhapuṭṭho): người nào đang cảm nghiệm hạnh phúc và đau khổ khi bắt gặp hạnh phúc và đau khổ ở bất kỳ nơi đâu, cho dù ở trong làng hay trong rừng rậm, hay nói cách khác khi bắt gặp những trường hợp như vậy. Bạn chẳng nên làm hại chính ḿnh cũng như người khác (’attato no parato dahetha): bạn chẳng nên đem hạnh phúc và đau khổ đó cho chính ḿnh cũng như cho người khác nghĩ rằng, “Hạnh phúc đó chỉ dành cho ta, chỉ có ta phải chịu nỗi khổ đau đó, hạnh phúc đó thuộc về ta, nỗi đau khổ đó là của ta. Chính kẻ khác đă tạo cho hạnh phúc và đau khổ này nổi lên trong ta.”[30] Tại sao vậy? v́ trong ngũ uẩn (pentad khandha) ở đây chẳng có điều ǵ thích hợp cho rằng đó chính là “ta” hay “của ta” hay là “kẻ khác” hoặc “của kẻ khác” cả, và chỉ có các hành, sau khi đă nổi lên hợp với những điều kiện đă định, đă diễn ra ở thời điểm này thời điểm nọ mà thôi, và về vấn đề này việc bao gồm cả “hạnh phúc và đau khổ” trong phạm vi giáo lư của Đức Phật, cho dù ta nên hiểu ư nghĩa thông qua toàn bộ các pháp[31] theo hiệp thế mà thôi. Chính v́ thế Đức Thế Tôn[32] đă giải thích trống rỗng theo bốn góc độ, tức là “ta chẳng hiện hữu ở bất kỳ nơi nào, cũng như nơi những ǵ tha nhân nắm giữ [33](những ǵ của người khác) tha nhân cũng chẳng hiện hữu ở nơi nào cả, hay sở hữu bất kỳ nơi nào ta đang nắm giữ[34][35]. Tiếp theo sau đó Ngài chỉ ra cho thấy lư do tại sao bản ngă hay tha ngă không tồn tại -  các xúc đều tuỳ thuộc vào sanh y (phusanti phassā upadhi paicca): đây là những ǵ ta biết về xúc, tức những ǵ ta cảm nhận là hạnh phúc và đau khổ, tiếp xúc được chính phạm vi cảm xúc tương ứng lại tuỳ thuộc vào sanh y (substrate), được coi như là ngũ uẩn, khi có sanh y như vậy xuất hiện, vào đúng thời điểm như vậy[36] lúc những sự việc như vậy xảy ra; v́ khi cảm xúc đó không phải là đau khổ cũng chẳng phải là hạnh phúc [37] được gộp lại vào sung sướng đó, liên quan đến một thực tế là chính bản chất của thực tế đó mang tính an tịnh, cách giải thích về ư nghĩa này được thực hiện bằng hai loại xúc.[38] Hơn nữa để chỉ ra cách các cảm xúc này không thể tiếp xúc được với sanh y (substrate) có lời nói rằng, “Do đâu xúc có thể tiếp xúc[39] với những ǵ thiếu sanh y (substrate) đó[40],v́ giả sử rằng các uẩn sanh y (khandha-substrate)[41] hoàn toàn không hiện hữu, đâu có lư do ǵ khiến cho các xúc có thể tiếp xúc được? Lư do đó[42] chẳng tồn tại bao giờ. Ngài đă kết thúc đoạn kệ này bằng níp bàn giới là không có tàn dư của sanh y (substrate)[43] nào được ngụ ư ở đó “V́ thế cho nên nếu bạn không muốn hạnh phúc và đau khổ khởi lên qua con đường lăng mạ v.v…. [115]  bạn nên tiến hành tiếp xúc chỉ với pháp trong đó yếu tố sanh y (substrate) hoàn toàn không có[44]. Chính v́ thế[45] thông qua Phật Tự Thuyết này ta đề cập đến vấn đề có hay không có ṿng luân hồi tồn tại[46].

Đến đây ta kết thúc phần diễn giải Kinh Phật thứ tư.


-ooOoo-

 

[1]. Điều diễn ra tiếp theo, xin đọc chú giải MA i 87tt.

[2]. Ce Be Se giải thích là tato c̣n bản văn MA ghi là tato tato.

[3]. Ce Be Se giải thích là ovatthayānao bản văn ghi là oyānavatthao .

[4]. Ce Be Se giải thích là gāvutappamāe c̣n bản văn MA ghi là  gāvutappamāna; từ gāvuta chỉ rơ khoảng cách một đàn ḅ có thể vượt qua được chỉ trong một ngày, và bằng một phần tư một do tuần (yojana) hay khoảng cách một đàn ngựa có thể vượt qua được trong cùng một thời gian như vậy.

[5]. Một ngôi làng gần thành phố Rājagaha.

[6]. Ce Be Se giải thích là bhikkhusaghassā ti, c̣n bản văn MA ghi là bhikkhusaghassā pi, có lẽ từ đoạn văn này, cũng rất phổ biến đối với MA, h́nh như lại kết thúc ở đây, v́ MA tiếp tục trích Kinh Phật hiện hành (Ud 12). Nhưng thực chất, đoạn văn phổ biến kết thúc với từ appameyyo ahosi (mênh mông vô hạn) tuy nhiên sau đó lại có từ  no ti để đánh dấu cùng một sự việc.  

[7]. Ce Be giải thích là Buddhuppādena pana (c̣n Se là Buddhuppādena) c̣n bản văn lại ghi là Buddhuppāde.

[8]. Ce Be Se giải thích là khajjopanakā c̣n bản văn ghi là khajjūpanakā; xin đọc  chú giải Ud-a 356tt dưới đây.

[9]. Issāpakatā; với Buddhaghosa tôi chấp nhận điều này, issā + apakatā cho dù CPD sv lại nghĩ đây là cách phân chia sai với issā + pakatā, rơ ràng là do bản chất. Từ trước rơ ràng có nghĩa cả hai ở đây và trong Ud-a 256 dưới đây, ngay cả những điều đó không rơ ràng là do bản chất cũng có thể được lôi cuốn đi do ganh tỵ dưới những hoàn cảnh như vậy. Xin đọc chú giải Ud-a 227 (icchāpakatassa).

[10]. Ce giải thích là usūyā visūkāni, Be giải thích là usūyā visuggāra. Se ussuyā visūkāni, c̣n bản văn lại ghi là usūyā vissutānaṃ. Bản văn ghi lại một số khác vll trong khi đó Ce cũng ghi lại một vl của pamukhe. Cho dù có điều ǵ đó h́nh như không đúng ở đây, v́ vl trước đó là ussuyāvissutāna (rơ ràng có thể thích hợp ở đây) lại được viết thêm từ vipannasobhā như ở trên. Tôi đề nghị giải thích là usūyāvisūkāni, ở một chừng mực nào đó th́ tự điển CPD lại hỗ trợ cách này, sv uggirati, được in toàn bộ bằng một từ kép, tức là usūyā-vissutāna. Visūka là một từ không có ư nghĩa rơ ràng. Luôn diễn ra trong D i 5, 6; Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 212. ii 209; S v 470; và được giải thích trong DA 77 = AA ii 327= SA iii 304,  Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 36 và Sv-pt i 158.  Bà Rhys Davids chấp nhận điều này như được “chứng tỏ cho thấy” (Dial i 5) và “visiting cho thấy (Dial i 7) Woodward cũng cho là một cách “tŕnh diễn” (GS i 192. KS v 394) và “cho thấy” (GS ii 222) và Ñāamoli lại cho là “một người uốn dẻo, vặn vẹo méo mó” (MR&I 34). Những manh mối tốt nhất về ư nghĩa lại là một danh sách dài các ví dụ trong D i 6 cũng được trích lại trong Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 36 trong đó có hai cách giải thích khác nhau về một từ ghép chứa đựng trong cùng một ư nghĩa đă được đưa ra.

[11]. Be giải thích là ’va; bản văn lại bỏ qua, trong khi đó ở đây Ce Se giải thích là ca.  

[12]. Ghaṭṭetvā; Ce Se giải thích là ghaetvā.

[13]. Ce Be Se giải thích là mammacchedikāhi c̣n bản văn ghi là maccherikāhi; nghĩa đen là đập bể hay cắt bỏ dấu về chính giữa xương sườn và gần tim, cũng xin đọc  Expos 132 n 3. 

[14]. Chú giải MR&I 161 n 93, được liệt kê thành hai loại khác nhau gồm mười thứ. Nhóm thứ hai có thể áp dụng ở đây được, tức là việc xúc phạm liên quan đến nguồn gốc gia đ́nh, thanh danh, ḍng dơi, tuổi tác, công việc, nghề nghiệp, bệnh tật, giới tính, các phiền năo và xúc phạm giới luật.

[15]. Aphāsu; Ce Se ghi aphāsuka.

[16]. Ce Be Se giải thích là ’ ete c̣n bản văn ghi là pana te.

[17]. Xin đọc chú giải Ud-a 87 ở trên.

[18]. Pakkhalantā; hay có nghĩa là giặt giũ, v.v…

[19]. Có lẽ việc tham khảo liên quan đến một thực tế là họ đă chôn (và kết quả là lại đào lên trở lại) xác của Sundarikā. Người nữ du sĩ họ đă giết; hay c̣n có nghĩa tương đương với việc tự đào mả cho chính ḿnh?

[20]. Ce Be Se giải thích là uppādentā  c̣n bản văn ghi là uppādento.

[21]. Xin đọc chú giải Ud-a  256tt dưới đây.

[22]. Ce Be Se giải thích là bhikkhūnañ c̣n bản văn ghi là bhikkhusaṅghañ ca.

[23]. Ce Be Se giải thích là ovatthu c̣n bản văn ghi là ovatthuṃ.

[24]. Be Sundarī; ở đây và dưới đây.

[25]. Āgamissati; Ce Se ghi là āvibhavissati, sẽ thành rơ ràng.

[26]. Có nghĩa là, Phật Tự Thuyết.

[27]. Ce Be Se giải thích là taṃ; bản văn th́ bỏ qua.

[28]. Ce Be Se giải thích là vippaṭipattiṃ c̣n bản văn lại ghi là vipattipattiṃ.

[29]. Ce Se giải thích là tādībhāvānubhāvadīpaka (Be tādio) c̣n bản văn ghi là tādinā ’ānubhāvidīpaka.

[30]. Hầu như tất cả các ấn bản đều chèn thêm từ ca vào điểm này; xin đọc chú giải Ud (Ee) 12 n 2.  trong đó cách thứ nhất tiếp theo sau là Ca trong tập chú giải do Steinthal sử dụng, cũng như ngay sau đó th́ những người khác cũng làm như vậy.

[31]. Lokadhammassa; xin đọc Khp-a 153.

[32]. Ce Be Se giải thích là vibhāvesi  c̣n bản văn ghi là vibhavesi.

[33]. Ce Be Se giải thích là kiñcanatasmiṃ c̣n bản văn ghi là kiñcanan tasmiṃ; chú giải làm sao.Trong GS ii 184 n 1 Woodward đă chấm câu sai thành “kiñcana;tasmiṃ

[34]. Be Se Vism 654 đă giải thích là ’ atthī ti c̣n bản văn ghi là kiñcanaṃ ’ atthī ti. Ce kiñcanatā ti.

[35]. ’ āha kvacani kassaci kiñcanatasmiṃ na ca mama kvacani katthaci ’ atthi. c̣n nhiều điều tương tự như vậy cũng được t́m thấy trong Trung Bộ Kinh (M) ii 263tt; Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 206, ii 177; và Thanh Tịnh Đạo 653tt; trong khi đó có rất nhiều điều h́nh như khác nhau trong các cách giải thích tại những nơi như vậy đă biến mất nếu như ta chú ư kỹ đến những ǵ đă bị loại bỏ khỏi những chú thích cuối trang như thể vll do các vị biên tập thuộc các ấn bản PTS. Đoạn văn được b́nh luận trong MA iv 64tt; AA ii 321. iii 162tt; và Thanh Tịnh Đạo 564; trong khi đó bản dịch của ngài Ñāamoli  (Ppm 762tt) rất tiếc là đă không lưu giữ trong bốn cấu trúc nguyên thủy, cũng đă chứa đựng một trích đoạn rất phổ biến nơi Pm và Majjhima-īkā. MA, AA iii 163 và Thanh Tịnh Đạo tóm lược lại như sau: (1) con người này không coi bản ngă (cái tôi của chính ḿnh) tồn tại ở bất kỳ nơi nào (2) không cho là ḿnh (ta) được suy diễn ra từ phía chấp thủ của người khác, (3) không coi bản ngă của người khác tồn tại; và (4) không công nhận bản ngă của tha nhân được suy diễn ra từ những chấp thủ của chính ḿnh. như các tập chú giải đă chỉ ra cho thấy. Mama bề ngoài nằm ở cước chú thứ ba trong số bốn lemmas, được giải thích với điều cuối cùng. Về kiñcanaṃ là “chấp thủ”. Xin đọc chú giải trong Ud-a 387 dưới đây.

[36]. Tattha; hay về điểm này, ngoài ra điều có liên quan v.v…

[37]. Bản văn chèn thêm ti; Ce Be Se bỏ qua.

[38]. Ce Be Se giải thích là ’ ’āya c̣n bản văn ghi là duvidhaṃ. Phassatī ti ’ ’ āya pi.

[39]. Phuseyyuṃ; Se ghi là phuseyyu, mặc dù ở đây ấn bản Ud tiếng Miến được sử dụng có giải thích là phuseyyu

[40]. Ce Be giải thích là nirupadhiṃ c̣n bản văn Se ghi là nirūpadhi. Trong khi đó ở đây ấn bản Ud tiếng Miến ta sử dụng lại giải thích là nirūpadhi

[41]. Khandhūpadhiyā, h́nh như đặt ở giống cái. Cho dù có sự khẳng định trong tự điển CPD, sv upadhi, cho rằng đây rơ ràng lại là “giống đực”.

[42]. Ce Be Se giải thích là na ta kāraa atthi  c̣n bản văn lại ghi là ta kāraa ’ atthi.

[43]. Chúng sanh khác có liên quan đến điều c̣n lại như vậy, chú giải It 38tt. xin cũng xem bài viết của tôi có tựa đề là “Điểm tranh luận về Níp Bàn – viên tịch Níp Bàn” trong cuốn Religion (tôn giáo) 9, 1979, tr. 215-230)

[44]. Ce Be Se giải thích là nirupadhibhāve c̣n bản văn lại ghi là nirūpadhibhāve.

[45]. Ta có thể dịch câu văn này thay v́ là “chính do có sự hiện hữu và vắng bóng của ṿng luân hồi đó đă được nói đến trong Phật Tự Thuyết này.”

[46]. Vaṭṭavivaṭṭaṃ; xin đọc chú giải Nett 113 (vaṭṭa sasāro nivaṭṭam nibbāna) và Vv-a 68.