NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. KOLITA

Trong Kinh Phật thứ năm: với  niệm thân (kāyagatāya satiyā): bằng cách niệm lấy thân làm đối tượng thông qua niệm thân ; đây là sử dụng cách dùng làm phương thế. Nội phần (ajjhattaṃ): trong trường hợp này ta cho đó là “cách nội phần” (ajjhattaṃ) chính là điều diễn ra trong thâm tâm ngài (niyakajjhattaṃ [1].) chính v́ thế ư nghĩa ở đây là, liên quan đến[2] chính ngài (attanti), liên quan đến chính liên tục tính (attasantāne) nơi ngài, hay nói cách khác, trong trường hợp này, điều ta ám chỉ ở đây bằng từ “thân” là một tập hợp “thân xác” gồm ba mươi hai thể cấu thành, gồm có tóc trên đầu v.v…đă tạo thành đề mục thiền của ngài; chính v́ thế ư nghĩa từ “nội phần” [190] nên được hiểu theo nghĩa là nội phần xét theo nghĩa bên trong “đồng cỏ chăn thả súc vật” (gocarajjhattakaṃ [3]) hiện hữu toàn diện: supatiṭṭhitāya [4]= suṭṭhu upaṭṭhitāya (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài, dưới dạng một h́nh thức ngữ pháp khác). Liên quan đến[5] thân hoặc được tạo thành bằng những ǵ nội phần nơi chính ḿnh, hay bao gồm điều ǵ nội phần bằng cánh đồng cỏ chăn thả súc vật (pasturage); nhưng niệm này là ǵ mà lại được đề cập đến như là hiện hữu[6] hoàn toàn nội phần vậy? Đó chính là bất kỳ niệm nào hiện hữu, liên quan đến niệm thân[7]thông qua cận hành định, hay an chỉ định[8] đối với ai đang duy tŕ tác ư (attention) đối với những ǵ là ghê tởm, nội trong cơ thể đó với ba mươi hai thể như tóc trên đầu v.v…[9]đă được Đức Phật đề cập đến như sau, “Trong thân này có tóc trên đầu, lông trên ḿnh” (Trung Bộ Kinh (M) iii 90; Khp 2) v.v… được gọi là “niệm về đề mục thân,” và với điều này[10], cũng như vậy đối với niệm hiện hữu, như đă được bảo đảm, liên quan đến thân, và nhờ cận hành định và an chỉ định, đối với người nào lưu ư đến bằng niệm hay tác ư  bằng hơi thở hít vào, thở ra, hay bốn oai nghi về thân, hay nh́n thấy thân trương śnh lên hay biến sắc. v.v… đây là điều ta gọi là “thiền niệm thân xác[11].”Nhưng trong trường hợp hiện hữu, th́ đó lại là niệm thân nội phần, đó là điều ám chỉ đến “thiền niệm đến thân “chính là niệm liên kết với thiền minh sát đang hiện hữu, bằng cách lưu ư đến những tướng đặc biệt về vô thường v.v… về tứ đại như địa đại…bằng cách quán triệt điều này bằng bốn cách (làm như vậy như cách quán triệt những thành phần cấu thành ngắn gọn v.v…[12]; hơn thế nữa, chỉ sau khi tu luyện thiền minh sát theo đúng cách, vị Trưởng lăo đă ngồi thiền,[13]sau khi đă chứng đắc thánh quả, đă đạt đến được. Trong trường hợp hiện tại cũng vậy, thực chất là điểm này đă được nhận thức do kệ được giải thích, ăn nhịp với phương pháp đă được khẳng định[14] như sau “và đây chẳng phải là buổi họp sao” v.v…[15]

Vấn đề này (etam atthaṃ): thẩm định vấn đề này được coi như chứng đắc của vị Trưởng Lăo đă đạt đến thánh quả, sau khi đă nhập thiền minh sát bằng tứ niệm xứ, đó chính là niệm thân mở đầu bằng quán triệt tứ đại. Kinh Phật Tự Thuyết này (imaṃ udāna): xuất khởi Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ chứng đắc níp bàn bằng cách thực hành Tứ Niệm Xứ.[16] Về vấn đề này:

Cùng với niệm thân hiện hữu (sati kāyagatā upaṭṭhitā) với niệm có những trạng thái đă được nói đến ở trên (và) những đối kháng các niệm này đă được diệt trừ, thực chất là định, tinh tấn và tuệ, cùng với đức tin, với tư cách là những điềm báo trước có được, thông qua hoàn tất được toàn bộ những nhiệm vụ tương ứng. Sau khi đă thâm nhập vào một hiện trạng liên quan[17] trong đó, và nhờ đó mà niệm đă h́nh thành ngay sau đó[18]rất sắc nét và rơ ràng, an trú ghi nhận đến chính bản chất[19] rơ ràng của thân sau khi đă tiến tới trong đó[20] bằng cách áp dụng niệm thân, như đă đề cập đến ở trên và bằng cách gặp gỡ trong một mối đoàn kết duy nhất[21], bằng cách này ngài chỉ ra cho thấy niệm đó xuất hiện bằng cách ghi nhận đến thân, tứ đại được gọi là sắc y sinh[22] lại phụ thuộc vào đó, và[23] những ǵ xảy ra sau đó, sau khi đă thấu triệt những nguyên nhân, bằng cách chú ư đến những đặc tính vô thường v.v…[191] lại chính là niệm được ghi nhận một cách liên tục nơi trí tuệ, hay nói cách khác, ngài chỉ rơ cho thấy dưới tiêu đề niệm chỉ nguyên đặc tính trí tuệ liên tục liên kết trong đó thuộc về tam biến tri[24]. Thu thúc được sáu xúc xứ (chasu ’ āyatanesu savuto): liên quan đến việc sau khi đă tu luyện những ǵ[25] niệm thân, trong đó có sáu môn tạo thành lư do xúc, như mắt, v.v…[26], vị nào được thành tựu niệm hiện tại[27] liên quan đến[28] thân như đă nói ở trên, trong khi ngăn trừ tất cả những ǵ diễn ra nơi thân[29] đối với tham ái v.v..rất có thể đă xảy ra bằng cách nào đó mà không được tu luyện, sau khi đă quán xét, được đề cập đến với trạng thái là “thu thúc trong đó”, bằng cách này ngài chỉ cho thấy cách thu thúc bằng trí quán. Vị Tỳ khưu đó, bằng cách liên tục định tĩnh (satata bhikkhu samāhito): vị đó, với niệm hiện hữu như vậy, và về mọi phương diện thu thúc, có định tĩnh liên tục diễn ra, không gián đoạn; trước tiên bằng định trong khi nhập thiền minh sát[30]. V́ trí giờ đây đă trở thành sắc bén và can đảm, tự mang theo (một cách tuỳ nghi) tự nhiên[31], sau khi ngài đă tu luyện thiền quán một cách tinh tấn bằng phổ thông trí [32], mọi pháp chỉ là vô thường v.v… mà không cần phải để tâm với các đối tượng, từ đó trở đi trí chuyển tánh[33] khởi lên tiếp theo ngay sau trí thuận thứ. Có thể biết được chính Hữu Dư Níp Bàn (Jaññā nibbānam attano): điều đó mang lại hạnh phúc tột đỉnh, là hữu dư níp bàn là vô vi giới, được nói đến như là điều ǵ đó của “chính ḿnh” (attano) v́ đây không phải là đồng cỏ chăn thả (pasturage), ngay cả trong mơ, đối với những người nào c̣n là người phàm tục[34], v́ đối với vị thánh, đây chính là lănh vực trí cao thượng[35] tương ưng với thánh đạo thánh quả (trí đó) đă đạt được ư nghĩa là (tự chính ḿnh) liên quan đến đặc tính đặc biệt với vị thánh này, vị thánh kia mà thôi, và do tính tương đồng với chính ḿnh, với níp bàn, người đó có thể biết (jaññā = jāneyya, một dạng ngữ pháp khác) ngài có thể thâm nhập được bằng những trí tương ưng với thánh đạo thánh quả,  ư nghĩa có thể được đạt đến. Bằng cách này ngài chỉ cho thấy quyết tâm của ngài[36] liên quan đến níp bàn nơi các vị thánh,[37] v́ các vị thánh nhân cư trú, ngay cả vào thời điểm khởi động tăng thượng tâm[38], nơi một pháp thiên về, có hướng tới, hướng về níp bàn một cách rơ ràng, và liên quan đến các từ trong đoạn kệ, ta nên hiểu như sau, tức là vị Tỳ khưu đó, đối với người đó niệm thân đă hiện hữu, sáu xúc xứ, bằng chỉ một điều mà thôi, người đó có thể  định tĩnh liên tục, người đó có thể biết, bằng cách ấn định chính níp bàn của ḿnh[39], cũng như vậy Pháp Vương đă chỉ rơ thánh đạo xuất khởi cho vị Tỳ khưu này từ phần mở đầu các niệm xứ, lại chính là niệm thân cho đạt quả vị A-la-hán.

Một phương pháp khác nữa: với niệm thân hiện hữu (sati kāyagatā upaṭṭhitā) – bằng cách này ngài làm rơ tứ niệm xứ chính là niệm thân. Thu thúc sáu xúc xứ (chasu ’ āyatanesu savuto): chúng là lục xứ cho xúc, v́ xúc chính là xứ, lư do dành cho các xứ này; v́ đối với các xúc xứ này, [192] thu thúc, do không c̣n ái dục diễn ra[40]v.v… liên quan đến sáu pháp do nhăn xúc sanh ra v.v… có thọ lấy xúc là nguyên nhân, và việc xuất hiện lại tùy vào xúc, theo cách này ngài chỉ cho thấy tứ niệm xứ, niệm thọ. Vị Tỳ khưu đó, định tĩnh liên tục (satataṃ bhikkhu samāhito): vị Tỳ khưu đó, định tĩnh liên tục không phân tâm, liên tục thường xuyên không gián đoạn, và việc không phân tâm này là do ngài đạt đến tột đỉnh tứ niệm xứ. Do ngài biến tri, ngài hiểu rơ[41] quán xét, hầu như không dư sót, ngũ uẩn khởi sanh (upādānakkhandhas) được phân thành nhiều phân đoạn nơi những ǵ là quá khứ v.v…[42] theo cách này ngài chỉ rơ điều c̣n lại nơi tứ niệm xứ. Có thể biết rơ chính níp bàn của ḿnh (jaññā nibbānam attano): v́ ngài hành theo sau khi đă tu dưỡng tứ niệm xứ đạt đến độ tột đỉnh, nơi ngài các phiền năo đă bị diệt trừ, có thể biết rơ (jāneyya, một dạng ngữ pháp khác) chính phiền năo níp bàn, hoàn toàn phù hợp, bằng cách phản khán trí.

Hay nói cách khác, với niệm thân hiện hữu (sati kāyagatā upaṭṭhitā): bằng cách biến tri về thân của ngài và của tha nhân, là phù hợp với chính bản chất tự nhiên, vị Trưởng lăo đă đạt đến niệm viên măn được làm sáng tỏ. Thu thúc sáu xúc xứ (chasu ’ āyatanesu savuto): bằng cách làm rơ chính việc thu thúc liên tục trường kỳ của ḿnh đối với lục môn như nhăn môn v.v…, việc Trưởng lăo chứng đắc bằng cách sử dụng sáu cách an trú liên tục v.v…[43] tuệ giác đạt đến viên măn[44]. Th́ nhân tố thể hiện tác ư (attention)  cũng được làm sáng tỏ. Vị Tỳ khưu đó đă định tĩnh liên tục (satata bhikkhu samāhito): bằng cách làm rơ đặc tính dồi dào nơi thiền chứng của ḿnh, là chín tuần tự trú thiền chứng[45] cũng được làm rơ. Hơn thế nữa, thực chất, vị Tỳ khưu đó có thể biết rơ chính níp bàn của ḿnh (jaññā nibbānam attano): có thể biết, suy nghĩ về[46] duy chỉ một níp bàn của ngai không c̣n vương vấn bất kỳ tàn dư sanh y nào (substrate). Thực chất là, v́ ngài đă thực hiện toàn bộ những ǵ phải làm, đối với ngài chẳng c̣n điều ǵ phải thực hiện nữa[47], ư ở đây chính là chẳng c̣n bất kỳ điều ǵ, bất kể[48] những ǵ ngài phải nghĩ tới.

Đến đây kết thúc việc giảng giải Kinh Phật thứ năm.


 

-ooOoo-


[1]. Chú giải Ud-a 11. 349. 374.

[2]. Hay đơn giản là nội bên trong; chú giải  Thanh Tịnh Đạo 156, 349.

[3]. Chú giải Ud-a 374 dưới đây.

[4]. Chú giải Be giải thích là sūpaṭṭhitāya.

[5]. Hay có nghĩa là nội bên trong.

[6]. Chú giải Ce Se giải thích là supatiṭṭhitā, bản văn giải thích supaṭṭhitā, chú giải Be giải thích là sūpaṭṭhitā. 

[7]. Ce Be Se giải thích là kāye; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[8]. Xin đọc Thanh Tịnh Đạo 126 về loại  thiền định.  

[9]. Ajjhattakesādiko; không thấy ghi trong tự điển PED, CPD.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yathā c̣n bản văn ghi là yā. 

[11]. Chú giải Ce Be giải thích là kāyagatā satī ti vuccati c̣n bản văn ghi là sā kāyagatāsatī ti vuccati eva, chú giải Se giải thích là kāyagatā satī ti eva.

[12]. Bốn vấn đề này được mô tả chi tiết trong Thanh Tịnh Đạo 352tt trong đó sự hiện diên của địa đại v.v… được chú giải trong từng khía cạnh trong số ba mươi hai thể, bắt đầu với tóc trên đầu, bằng bốn cách khác nhau.

[13]. Nisīdi; theo nghĩa đen là tự đặt ḿnh vào vị trí ngồi, cho dù h́nh như ngài đă thực hiện điều này sau khi đă chứng đắc thiền quả, trừ khi việc tu luyện của ngài cần đến một số oai nghi như đứng hay đi (du hành).

[14]. Ud-a 189  ở trên.

[15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ādinā c̣n bản văn ghi là ādi ca.

[16]. Chi tiết được ghi trong Thanh Tịnh Đạo 239tt

[17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sahāyabhāvaṃ c̣n bản văn ghi là paṭipakkhapahānabhāva.

[18].  Chú giải Be ghi là ca c̣n bản văn Ce lại ghi là ’va. 

[19].  Chú giải Ud-a 166.

[20]. Nguyên từ tương đương: upaṭṭhitā (hiện tại) <upagantvā  (sau khi đi tới) +  hitā (an trú).

[21]. Chú giải Ce Be giải thích là yathāvuttakāyasavaraavasena ekatthasamosaraavasena, Se giải thích là yathāvuttakāyasavaraavasena ekattasamosaraavasena, c̣n bản văn giải thích là yathāvuttakāyasaraavasena ekattasamosaraavasena. Chú giải DA 754tt, MA i 240, và Vibh-a 215tt khẳng định rằngTứ Niệm Xứ là một trong những cách áp dụng nhập niệm (saraṇavasena) và bằng cách nhóm họp lại cùng với nhau (ekatthasamosasaraṇavasena). Trong đó tất cả đều gặp nhau tại một nơi duy nhất đó là Níp bàn, như những kẻ du dành trên bốn con đường khác nhau lại gặp nhau tại một thành phố, nhưng là bốn cách do đối tượng mà ra, tức là thân, thọ, tâm và pháp.

[22]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 444 trong đó có 24 loại được liệt kê đầy đủ.

[23]. Chú giải Be giải thích là ca; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua. 

[24].  Chú giải Thanh Tịnh Đạo 606. 693.

[25].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tassā c̣n bản văn ghi là tassa; rất có thể điều này có quan hệ trở lại với kāyānupassanā.

[26]. Cakkhādīsu;  chú giải Se giải thích là cakkhavādīsu.

[27]. Upaṭṭhitāya satiyā; Chú giải Ce Se giải thích là upaṭṭhitassatitāya.

[28]. Hay nội bên trong.

[29]. Ce Se giải thích là nāappavatti paisedhento. Be ñāappavatti paṭivedhento, c̣n bản văn ghi là  hānappavatti paisedhento.

[30].  Chú giải Thanh Tịnh Đạo 289tt.

[31]. Chú giải tập Visuddhiñāakathā do tác giả Mahasi Sayadaw. Tr. 66: sallakkhae pana attanā ’va attāna vahane viya jāte.

[32]. Sammasanto;  Chú giải Ñāamoli , Ppn 47 n 36

[33]. Chú giải Ce Be Se giải thích là gotrabhūñāodayato c̣n bản văn ghi là gotrabhūñāadassanato. 

[34]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aññesaṃ puthujjanāna supinante pi, c̣n bản văn ghi là aññesu puthujanāna supinantenā pi.

[35]. Ce Be giải thích là sātisayavisayabhāvato (Se sātisaya visayabhāvato)  c̣n bản văn ghi là sātisayabhāvato. 

[36]. Chú giải Be giải thích là adhimuttataṃ c̣n bản văn ghi là vimuttaṃ taṃ,   chú giải Ce Se giải thích là vimuttataṃ.

[37]. Bản văn chèn thêm va;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. 

[38]. Adhicittappavatti; CPD “việc tiến hành nhập thiền”. Giống như định dựa trên thiền Minh Sát chú giải Nd-a i 147; cũng xin đọc Thanh Tịnh Đạo 4, 247.

[39]. Attano paccakkhakaraṇena; Be giải thích attapaccakkhakaraṇena.

[40]. Chú giải Ce Be Se giải thích là appavattiyā  c̣n bản văn ghi là appavattiya.

[41]. Bản văn chèn thêm vā; Ce Be Se lại bỏ qua.

[42].  Chú giải S iii 47.

[43]. Chú giải Se giải thích là chasatatavihārādivasena ( Be satatavihārivasena, Ce ghi chasattavihārādivasena) c̣n bản văn ghi là santavihārādivasena. Chú giải D iii 250; Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 198. 

[44].  Chú giải Ud-a 166 ở trên.

[45]. Chú giải Be Se giải thích là navānupubbavihārasamāpattiyo c̣n bản văn Ce ghi là vā anupubbavihārasamāpattiyo;  chú giải Ud-a 135 ở trên.

[46].  Chú giải Ce Be Se giải thích là cinteyya;  bản văn lại bỏ qua.

[47]. Chú giải Ce Be Se giải thích là karaīyābhāvato c̣n bản văn ghi là karaīyabhāvato;  chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 218 dưới đây để biết thêm chi tiết.

[48].  Ce Be Se giải thích là aññam pi  c̣n bản văn ghi là aññaṃ.