NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. KASSAPA

 Trong Kinh Phật thứ bảy:  sau khi đă ngồi  trong ṿng bảy ngày trong một tư thế kiết già duy nhất, sau khi đă chứng đắc thiền định (sattāha ekapallakena nisinno hoti aññataraṃ samādhi samāpajjitvā): về vấn đề này, một số người cho rằng, trước tiên, đó là định tương ưng với thánh quả A-la-hán là điều muốn ám chỉ ở đây, trong trường hợp này là“một số định”. Về điểm này vị Trưởng lăo thường chứng đắc mục tiêu lưu lại trong hạnh phúc sung sướng vô tận do hiện tại đem lại; và ngài đă có thể tận hưởng bảy ngày trong chứng đắc thánh quả đó. Thí dụ như, Đức Phật đă ban cho ngài một vị thế duy nhất và giống hệt vị thế của ngài (Đức Phật) liên quan đến pháp cao nhân, chấp nhận phân thành chín tuần tự trú thiền chứng và sáu phép thần thông v.v… bằng cách đó: Hỡi các vị Tỳ khưu, ta có thể thoát khỏi ước muốn tham dục bao lâu[1] có thể, thoát khỏi những pháp bất thiện bao lâu có thể (sau khi đă nhập sơ thiền) lưu lại (trong đó) bao lâu có thể. Hỡi các vị Tỳ khưu, Kassapa cũng vậy, ngài có thể thoát khỏi các ước muốn tham dục bao lâu tùy ư ngài muốn, có thể thoát khỏi những pháp bất thiện và lưu lại (trong đó) bao lâu tùy ư ngài muốn” (S ii 210tt) v.v… [196] tuy vậy, về việc này, ta không nên cho rằng, nếu điều đó là như vậy, thế th́ vị Trưởng Lăo cũng có thể thực hiện phép song thông, thực tế là chỉ có thiền jhanas v.v…mới ám chỉ là các đồ đệ có thể chia sẻ chung được với nhau mà thôi.

Tuy nhiên, các vị trưởng lăo lại cho rằng, “Sau khi đă chứng đắc một số thiền định” có nghĩa là sau khi đă chứng đắc (đó là[2] ) thiền diệt. Nhưng làm thế nào chứng đắc thiền diệt được đề cập đến ở đây như là “định” (sāmadhi)? Hiểu theo nghĩa tập trung (samādhāna) [3]. Nhưng ư nghĩa của tập trung (samādhāna) này là ǵ? Thực tế là điều này cần phải được xây dựng dần dần (ādhātabbatā) một cách thích hợp. V́ [4] ta phải xây dựng dần dần (ādhātabbā [5]) điều ta gọi là [6] những ǵ không thể xảy ra nơi liên tục tính tâm một cách thích hợp, và những sự việc đồng sanh, đối với thời điểm như vậy do vị A-la-hán hay [7] do vị bất lai ước muốn cư trú trong đó theo cách như vậy chỉ bằng cách các hiện trạng tiếp theo sau đó ngài có thể chứng đắc hiện trạng chiếm ưu thế nhất thông qua hai sức mạnh, tức là sức mạnh thiền chỉ và sức mạnh thiền minh sát. Bằng cách chứng đắc các sức mạnh không có khả năng làm rung chuyển do những pháp đối nghịch lại các sức mạnh đó; thông qua mười sáu cách tu luyện trí bằng mười sáu[8] loại trí này tức là tuỳ quán vô thường, đau khổ, vô ngă, ly dục, ly tham, tịch diệt, xả ly và bốn trí thánh đạo và bốn trí thánh quả; bằng cách tu luyện chín định thông qua chín định này, tức là tám định bắt đầu với định chính là sơ thiền và các cận hành định, trong đó được gộp lại sau khi đă tập trung lại thành toàn khối nhất tâm; và bằng cách an tịnh ngay tại vị trí này và tại vị trí[9] thuộc tam hành đó, tức  là thân hành, khẩu hành và tâm hành,[10] thực chất việc[11] phải được tập trung chú ư (thiền định samādhātabbatā), theo cách này hiện nay ta hiểu theo nghĩa thiền định (samādhānaṭṭho) v́ lư do đó mà trú xứ (abiding) được đề cập đến như là một cách “định” hơn là[12] cách ta hiểu theo nghĩa không có phân tâm. Theo cách này, ta cũng nên hiểu ư nghĩa thiền chứng như đă được đề cập đến. Chính v́ có tham khảo chứng đắc thiền diệt, như trong tập Paisambhidāmagga. Vấn đề đặt ra ở đây là, “Bằng cách nào, nhờ được thành tựu với hai sức mạnh thông qua an tịnh tâm[13] hành, thông qua tu luyện mười sáu loại trí, thông qua tu luyện chín định, tuệ [14] đó là việc thành thạo lại chính là trí thiền diệt? Cũng có triển khai chi tiết như sau, “Với hai sức mạnh đó (dvīhi balehi): (hai sức mạnh) đó là: sức mạnh thiền chỉ và sức mạnh thiền quán (vipassanā) (v.v…) (Ps i 97) Phần diễn giải chứng đắc thiền diệt này đă nhận được cùng một cách chú giải hoàn hảo trong tập Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo 702tt) Nhưng tại sao vị Trưởng lăo này lại nhập thiền diệt hơn là đạt đến thiền quả[15]? Chỉ v́ thương xót đến chúng sanh mà thôi. Do đó vị Đại Trưởng Lăo này đă tận dụng đủ mọi loại thiền chứng; nhưng v́ lư do muốn giúp đỡ chúng sanh [197] phần lớn th́ ngài đă nhập thiền diệt. Do mặc dù có xem thường kẻ nào xuất khởi sau khi đă nhập thiền diệt là bởi v́ điều này đặc biệt lại do kết quả, và lợi ích to lớn đă nhận được.[16] Khởi xuất (vuṭṭhāsi): nổi lên với khởi sanh (ví dụ như [17]) tâm [18] liên kết với thánh quả A-la-hán, v́ người ta nói rằng vị nào đă đạt đến tịch diệt sẽ trở thành người xuất khởi từ đó bằng khởi sanh do thánh quả A-la-hán đem lại, nếu như[19] một vị A-la-hán, hay nhờ khởi sanh thánh quả bất lai, trong trường hợp một vị bất lai.

Và trong dịp đó, Đế thích, chúa các Chư thiên đă muốn thực hiện bố thí cho Trưởng lăo Mahākassapa (tena kho pana samayena Sakko devānam indo āyasmato [20]Mahākassapassa piṇḍapāta dātukāmo hoti) bằng cách nào ước muốn bố thí do ngài muốn lại xuất hiện được? Những vị đó[21] được đề cập đến “với số lượng lên đến 500 tiên nữ” là những cung nữ có chân bồ câu của Đế thích, vua các Chư thiên, Đế thích đă sai đi trước nói rằng, “Vị xứng được tôn kính Mahākassapa đang vào thành Vương Xá để khất thực; hăy ra đi và bố thí cho Trưởng lăo” sau khi đă đi đến gặp ngài, họ đă dừng lại với ước muốn bố thí vật thực thiên cung, (nhưng) vị Trưởng lăo đă từ chối, và rồi họ đă quay trở lại cơi thiên cung (devaloka). Nghĩ tới việc từ chối trước đó, giờ đây họ lại ước muốn bố thí cho vị Trưởng lăo một lần nữa, sau khi đă khởi xuất khỏi thiền diệt đó, nghĩ rằng lần này[22] ngài có thể chấp nhận, với ư định của chính ḿnh họ đă quay trở lại mà không báo cho Đế thích biết, nhưng vừa khi đưa của bố thí vật thực[23] thiên cung, vị Trưởng Lăo vẫn từ chối một lần nữa giống như lần trước. Sau đó họ đă quay trở lại [24] cơi thần tiên. Đế thích đă chất vấn họ xem đă đi đâu thế, họ cho Đế thích biết thực tế sự kiện đă diễn ra, và rồi Đế thích nói “Các ngươi có bố thí cho vị Trưởng Lăo chưa?” Họ nói là Trưởng lăo không muốn nhận, lại hỏi, “thế ngài nói ǵ”, họ trả lời “Ngài bảo ngài muốn thể hiện ḷng từ tâm đối với những vị thiếu thốn nhất thưa ngài.” Thế các ngươi đến gặp ngài với cách thức ǵ vậy?” “Với cùng một cách như thế này, thưa ngài”. Nghĩ rằng, “Làm sao các ngươi[25] có thể thực hiện với cách thức giống như thế này trong khi bố thí cho ngài Trưởng lăo? “ Đế thích tự ḿnh lại ước muốn thực hiện bố thí, và sau khi đă biến thành một người già cả hom hem, răng rụng, tóc bạc, lưng c̣ng, run rẩy[26] và sau khi đă biến Sujā, con gái của A-tu-la cũng có h́nh tượng tương tự [27] như vậy, họ đang đóng vai một kẻ ăn xin run rẩy[28] ngoài đường phố, và rồi tỏ vẻ thảm thương như vậy, và Sujā[29] đă làm đầy con thoi[30] v́ lư do đó có lời nói rằng “Vào dịp đó, Đế thích thủ lănh các chư thiên…. (trong lúc có người hầu A-tu-la là Sujā đi theo) đă lấp đầy con thoi” về điểm này.

Ngài đă kết chỉ (tanta vināti) ngài đă trở thành[31] một người đang kéo kết chỉ. Làm đầy con thoi (tasara pūreti): giống như ruôn đầy[32] chỉ vào con suốt. Tiến lại gần trú xứ của Đế thích, thủ lănh các chư thiên (yena Sakkassa devānam indassa nivesana ’ upasakami): vị Trưởng Lăo đă thay đồ, mặc y cà sa, lấy bát khất thực, và ngài đă du hành thẳng thành phố mà tới với ư định thực hiện ḷng từ tâm cho dân chúng đang rất thiếu thốn. [198] Ngài đă vào thành phố trước những tiên nữ làm nghề thợ dệt do chư thiên biến thành bên ngoài khu vực thành phố, và rồi đang khi họ t́m kiếm ngài, ngài đă nh́n thấy ông già đó, lôi thôi [33]lếch thếch, và trong đó lại xuất hiện một cặp[34] vợ chồng già, với điệu bộ như đă mô tả trước đó. Đang lúc họ thực hiện công việc dệt vải; vừa nh́n thấy họ, ngài suy nghĩ: “Những con người này phải làm việc dệt vải, ngay cả khi họ đă già đến như vậy sao. Trong thành phố này chắc hẳn chẳng c̣n ai, đối với ta khốn khổ thiếu thốn[35] hơn họ nữa. Ta sẽ thực hiện từ tâm với họ, bằng cách nhận cả những cọng cỏ (họ) sẽ bố thí cho ta.” Ngài đă đi về phía ngôi nhà của họ. Khi vừa nh́n thấy ngài đang đi tới, Sakka nói với Sujā: “Ngài đáng kính của ta đang tới, ngài đầy oai nghiêm lẫm liệt, hăy ngồi yên không nói ǵ cả, như thể nhà ngươi không nh́n thấy ngài. Thế rồi, sau khi đă đánh lừa ngài trong giây lát, chúng ta sẽ bố thí cho ngài.” Vị Trưởng lăo đến và đứng ngay tại cửa ngôi nhà đó; cả họ nữa cũng đi về phía ngài, vẫn đang thực hiện công việc của ḿnh, như thể không nh́n thấy ngài Trưởng lăo, thế rồi sakka nói, “H́nh như[36] có vị Trưởng lăo đang đứng ở cửa nhà chúng ta th́ phải, con hăy ra xem sao” “ Chính ngài phải ra xem thưa thiên chủ”. Sakka bước ra khỏi nhà, bái chào Trưởng lăo bằng năm tư thế phủ phục, lẩm bẩm nổi lên, tự đỡ thân ḿnh[37] bằng cách để hai tay lên đầu gối, lùi lại một chút nói rằng, “Ôi! ắt hẳn ngài phải là một vị Trưởng Lăo, ngài là ai hỡi ngài đáng kính? Mắt tôi đă mờ rồi”; rồi đặt tay lên trán, và ngước nh́n lên[38] và nói: “ Ôi đau khổ là bao, ngài đáng kính, sau cùng th́ ngài trưởng lăo Mahākassappa cũng đă đến tới tận cửa nhà tôi; có ǵ trong nhà không?” Sujā[39] hành động như thể có một chút đồ vặt vănh và rồi trả lời: “Thưa thiên chủ, có đấy” Sakka liền cầm lấy bát khất thực của ngài Trưởng Lăo nói rằng, “Thưa ngài, xin đừng suy nghĩ đây là đồ tồi tàn hay tuyệt hảo, làm ơn xin hăy tỏ ḷng từ tâm với chúng tôi.”[40] Khi đưa ra bát khất thực vị Trưởng lăo suy nghĩ “Ta phải tỏ ḷng từ tâm đối với những kẻ khốn cùng này mới được.” Ngài bước vào trong nhà, vốc lên từ chiếc b́nh gốm có tên là “?Ghati-odana”[41] làm đầy bát khất thực. Thế rồi đặt vào tận tay Trưởng lăo. V́ lư do đó có lời nói rằng “và Đế thích, thiên chủ các chư thiên đă nhận ra…và rồi bố thí điều này (cho trưởng lăo Mahākassapa)” về điểm này.

Từ chiếc b́nh gốm (ghaiyā): từ chiếc b́nh đất nấu cơm [42]Ghaṭi - odanaṃ cũng là một cách giải thích[43]; họ lại cho là ư nghĩa ở đây là một vài loại thực phẩm đặc biệt của các chư thiên có tên là “Ghaṭi - odanaṃ”.  Bốc lên (uddharitvā): bốc lên từ mấy chiếc đĩa đựng đồ ăn. [199] Cùng một thứ thực phẩm đó có rất nhiều nước dùng, vào lúc đó khi bát khất thực được trao vào tay Trưởng Lăo, sau khi đă dâng đầy vật thực trong đó. Đồ ăn xem ra rất b́nh dị chỉ thích hợp cho những người phải đau khổ vất vả v́ làm việc nặng; nhưng ngay khi được đặt vào tay[44] Trưởng Lăo, thực phẩm đó đă trở lại[45] bản chất thiên cung đích thực của nó. Có quá nhiều nước dùng trong đó (anekasūpo): có rất nhiều loại nước dùng không những chỉ có nước sốt đậu Mugga và đậu māsa v.v…nhưng c̣n do đủ loại[46] những thứ có thể ăn được. Có quá nhiều đồ gia vị (anekabyañjano) có đủ loại mùi vị và hương thơm. Có quá nhiều nước dùng, hương vị và đồ gia vị (anekasūparasabyañjano [47]): toả ra[48] những hương vị ngọt ngào cơ bản v.v…[49] cũng như bao gồm những hương vị này, do có quá nhiều nước dùng và gia vị đă được nêm nếm, ư nghĩa là có quá nhiều các hương vị độc đáo, nước dùng và gia vị.

Ngay vào thời điểm của bố thí đó được trao vào tay Trưởng lăo, người ta nói rằng đồ khất thực đó đă toả ra khắp thành phố Rājagaha với chính hương vị mùi thơm thiên cung.  Sau đó vị Trưởng Lăo suy nghĩ: “Con người này quả thật chỉ là một người tầm thường, (ấy vậy) đồ khất thực của ông ta lại tuyệt vời đến thế, giống như thực phẩm dành cho Đế thích; vậy người này là ai[50] ?” Thế rồi, nhận ra người này là Đế thích, ngài nói, “Nhà ngươi đă thực hiện một hành vi quan trọng, Kosiya, bằng cách lấy chứng đắc dành cho những người khốn cùng.[51] Một số người cùng cực, sau khi đă bố thí cho ta ngày hôm nay, đă có thể chiếm được vị trí của một vị tướng hay một thương nhân giàu có”. “C̣n ai cùng cực hơn ta, thưa ngài?”  “Làm sao nhà ngươi có thể trở thành cùng cực, lại đang được hưởng (như nhà ngươi) một tài sản to lớn là thống trị toàn bộ các chư thiên?” “Quả thật điều này là như vậy thưa ngài; nhưng việc hành động tâm từ đó ta đă thực hiện khi không có bất kỳ Đức Phật nào xuất hiện. Hơn thế nữa, sau khi thực hiện công việc công đức, khi một Đức Phật xuất hiện đă trở thành hiện thực, chắc địa vị gần với ta đă có ba vị devaputta[52] chiếm lănh được, tức là Cūaratha devaputta, Mahāratha devaputta Anekavaṇṇa devaputta[53] (cả ba đều) có sức toả sáng[54] lớn hơn. Khi các vị devaputta này bước xuống khu phố trong nội ô với các người hầu đi theo, với mục đích cử hành một lễ hội, ta sẽ biến mất và chạy vào trong nhà. V́ những luồng sáng tỏa ra từ thân họ đă tràn ngập thân thể ta; luồng sáng phát ra từ thân ta, không thể tràn ngập thân họ nổi, c̣n ai cùng khổ hơn ta thưa ngài?” “Ngay cả điều đó xảy ra như vậy, nhà ngươi cũng không được thực hiện bố thí để xí gạt ta như vậy.” [200].“Liệu ta có thể thực hiện hay không thực hiện được bất kỳ hành vi thiện nào, khi ta bố thí cho ngài lại nhằm xí gạt ngài như thế chăng?” “Có đấy, thưa chư huynh.” Đang khi nói, “Nếu quả thật là như vậy, thế th́ việc thực hiện những hành vi thiện, quả thực là phận sự của ta hay sao, thưa ngài”. Sakka kính lễ vị Trưởng lăo và cùng với Sujā, đi ṿng quanh Trưởng lăo về phía phải, bay lên không, và rồi đă khiến cho Phật Tự Thuyết này khởi sanh tới ba lần: “Ôi, một món quà qúi giá biết chừng nào! Một món quà cao quí nhất,[55]Kassapa đă thiết lập!” v́ lư do đó có lời nói rằng, “Thế rồi điều này đă xảy ra với Trưởng lăo Mahākassapa” v.v… về điểm này:

Kosiya (Kosiya): ngài nói với Sakka, thủ lănh các chư thiên, thông qua tên tộc. Nhu cầu công đức (puññena attho): việc công đức, atthi (có) là các từ c̣n lại. Sau khi đă bay lên không trung (vehāsa abbhuggantvā: sau khi đă bay lên (abhi-uggantvā, một dạng ngữ pháp khác) từ mặt đất lên không trung. Lên trên trời, lên không trung (ākāse antalikkhe): họ cho đó chính là trên trời. (ākāsam eva) (đây là điều được nói tới một từ đồng nghĩa, tức là antalikkhe (trên không trung); hay nói cách khác, trên trời, (ākāse) được coi như là trời (antalikkhangài không đề cập đến việc phân biệt điều này là khoảng không (ākāse) c̣n lại sau khi đă gỡ bỏ đi kasiṇa  v.v…[56]Ôi quả là một của bố thí vĩ đại! (aho dāna):  về việc này , aho (Ôi!) chỉ là một tiểu từ hiểu theo nghĩa một điều kỳ diệu[57] đối với Đế thích tâm tràn ngập những điều kỳ diệu với bản chất (sự kiện chưa từng thấy) kể từ khi cuộc bố thí thiên cung đó đă được thực hiện giống như[58] cuộc bố thí, được thực hiện sau khi ngài đă hành động một cách suông sẻ, với điều ân cần thích đáng, và bằng chính bàn tay của ḿnh, dành cho vị xứng đáng nhận bố thí là ngài Mahākassapa, là người đă xuất khởi thiền diệt và cũng giống như loại bố thí là điều đáng mong đợi (được thực hiện) đúng lúc. Không gây hại cho chính ḿnh hay cho người khác, và được thực hiện sau khi ngài đă thiết lập chánh kiến[59] đă sẵn sàng. Của bố thí đó do ngài mở đầu quả thật vô cùng hoàn hảo dưới mọi góc độ, v́ lư do của bố thí đó đem lại ba thành tựu, tức là thành tựu đồng ruộng, tuyệt vời về công đức dâng cúng, và thành tựu tâm (sùng kính)[60] vào lúc đó ngài đă thốt lên, “Ôi của bố thí cao trọng biết bao” thắp lên niềm vui và phỉ lạc đă thấm nhập vào chính tâm con người. Thế rồi đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này, tức là “của bố thí tuyệt hảo nhất đă được thiết lập nơi Kassapa!” Làm thể hiện một thực tế đó là, của bố thí đó, một khi đă được phân phát theo cách đă khẳng định ở trên, điều tột đỉnh của bố thí và thực tế là điều đă đạt đến được. Hơn thế nữa, đang khi Đế thích đă khiến cho Phật Tự thuyết này khởi sanh th́ Đức Phật vẫn c̣n lưu lại trong thiền viện, nghe thấy tiếng động bằng thiên nhĩ của ḿnh, ngài nói với các vị Tỳ khưu, “nh́n ḱa, các vị Tỳ khưu, Sakka, thủ lănh các chư thiên đă bay lên trời, sau khi đă khiến cho Phật Tự Thuyết khởi sanh”, và khi các Tỳ khưu hỏi ngài “Nhưng ngài sakka đă làm ǵ, thưa  Đức Phật ? Ngài nói “Sakka đă bố thí bằng cách đánh lừa con trai Kassapa, và được sung sướng trong tâm[61] v́ lư do đó Udāna này đă khởi sanh”, v́ lư do đó có lời nói rằng,“và Đức Phật đă nghe bằng thiên nhĩ” v.v…về điểm này:

[201] Bằng[62] thiên nhĩ (dibbāya sotadhātuyā): đó là “thiên” nhĩ v́ lư do có sự tương đồng với những ǵ thuộc về trời. Đối với các chư thiên có thần kinh nhĩ giới đó chính là “thiên[63]” nhĩ, nhĩ  này xuất hiện do những việc làm nơi thiện hạnh, không thể bị mật, nước miếng, hay máu v.v…[64]ngăn cản, và có thể hiểu được bằng cách tiếp nhận[65] một đối tượng ngay từ rất xa[66] do nhĩ môn này thoát khỏi mọi cản trở.[67] Và đây cũng là “thiên” (nhĩ) v́ lư do rất giống với những vị nào đang ở thiên đường, trên đó nhĩ giới bao gồm trí có được do kết quả việc tu dưỡng sức mạnh của Đức Phật với ḷng kính trọng đối với tinh tấn[68] thuộc loại đó. Hơn thế nữa, đây cũng là “thiên” (nhĩ), v́ lư do có một thực tế là điều đó chứng đắc bằng các thiên trú[69] và cũng v́ lư do chính đặc tính của nó lại lệ thuộc vào thiên trú. Đây là “nhĩ giới” (sotadhātu) hiểu theo nghĩa lắng nghe (savana)[70] cũng hiểu theo nghĩa duy tŕ được (dhāraa) chính bản chất của ḿnh[71]. Đây c̣n là “nhĩ giới”nơi những ǵ giống như “nhĩ giới” thông qua việc thực hiện nhiệm vụ một nhĩ giới. Với chính thiên nhĩ giới đó. Rất thanh tịnh (visuddhāya): vô cùng thanh tịnh, không có bất kỳ cản trở nào. Vượt quá (nhĩ giới) con người (lệ thuộc vào) cận hành định của con người, vượt quá sắc nhĩ  giới nhân loại [72] trong việc nghe được âm thanh.[73]

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā) : thẩm định lại vấn đề này cả nơi các chư thiên và nhân loại, tràn ngập tham lam, quan tâm[74] ở tận nơi xa nhất, cự tuyệt với các chúng sanh được thiết lập do tu dưỡng một cách thích đáng[75] nơi vị nào có thiện hạnh. Lại khởi sanh Phật Tự Thuyết này, nhằm làm sáng tỏ vấn đề này, về điểm này:

Trong trường hợp hiện nay, ngài là một vị Tỳ khưu đi khất thực (piṇḍapātikassa) do thiền chứng của ḿnh, sau khi đă thu lượm được cùng những thiền chứng cho chính ḿnh, thuộc hạnh đầu đà đó[76] được coi như là đi khất thực vậy. Giờ đây chắc chắn đoạn kệ này được nói ra coi như Trưởng lăo Mahākassapa là người đại diện [77] và Trưởng lăo này lại là thủ lănh toàn bộ những ai đang tu luyện đầu đà. Là người chứng thực toàn bộ mười ba chi đầu đà; chính v́ thế tại sao ngài lại được khen ngợi[78], v́ lư do chỉ có một chi đầu đà duy nhất? Đây chính là tên xuất hiện thông qua sắc khởi sanh.[79] Hay nói cách khác, đây chính là giáo lư, nhưng toàn bộ các chi đầu đà của ngài nên được hiểu như đă được đề cập đến dưới tiêu đề giáo lư mà thôi; hoặc giả việc đi “khất thực” được cho là có mục đích thể hiện việc tu luyện một cách tuyệt hảo nhất. Trong đó nhờ bản chất không thiểu dục và [80] bằng cách lưu ư đến gia đ́nh, ngài đă ǵn giữ liên tục, theo những ǵ được đề cập đến trong đoạn kệ [81] “giống như con ong hút mật hoa” (Dhp 49), toàn bộ lời nguyện[82] đi khất thực của ngài, và piṇḍapātikassa (việc khất thực) lại ở chỉ định cách là do việc nghiên cứu từ pihayanti (thèm muốn); được coi[83] như là ở đối cách. Tự hỗ trợ (attabharassa): chỉ hỗ trợ một ḿnh mà thôi bằng bốn điều cần thiết những đồ vặt vănh, dễ kiếm được và dưới dạng vô tội vạ được đề cập đến, tức là “Hỡi các vị Tỳ khưu, bốn điều này chỉ là những ǵ vặt vănh, dễ kiếm được và vô tội vạ” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 26= It 102. [202] người không phải nuôi người khác (anaññaposino)[84]. Một người không phải nuôi người khác, do thiếu quan tâm để nuôi nấng người khác như thể đệ tử v.v…[85] bằng cách thu gom những trợ cấp vật chất cho họ. Nhờ cặp từ này[86] ngài làm rơ đặc tính cuộc sống đạm bạc, tính chất dễ nuôi[87] việc có ít nhu cầu của ngài tới mức thiểu dục và tri túc của ngài[88] là kết quả việc du hành đó đây để t́m kiếm kiếm y cà sa, và với thực phẩm bố thí để nuôi thân[89]. Hay nói cách khác tự nâng đỡ bản thân (attabharassa): do ước muốn chỉ dùng một cách diễn tả duy nhất, ngài tự chịu đựng (attabharo) v́ chỉ ḿnh ngài chịu đựng vấn đề này mà thôi. Được coi là những tồn tại và không c̣n điều ǵ vượt quá cả[90], chỉ có một vấn đề ngài là người không phải “nuôi nấng người nào khác” (anaññaposī) là do ngài chỉ có một ḿnh chẳng c̣n ai khác ngoài bản thân ḿnh cần phải nuôi dưỡng cả, đó là vị Tỳ khưu tự nuôi bản thân ḿnh, là người không nuôi nấng bất kỳ ai khác. Nhờ cặp từ này, ngài cũng[91] muốn làm rơ một thực tế đó là: v́ không phải lo đến đồ ăn thức uống cho ngày mai[92], bởi ngài là người đă đoạn tận được mọi phiền năo ngài…là người có niệm, các vị chư thiên phải thèm  muốn (devā  pihayanti-pe-satīmato): đó là[93] một người an tịnh bằng cách làm lắng dịu xuống, do có an tịnh, khỏi sầu khổ và cơn sống các phiền năo là kết quả chứng đắc thánh quả tột đỉnh; có niệm bằng cách tu luyện niệm[94] đó là kết quả đạt đến sự viên măn thiền định vậy; chỉ một ḿnh điều đó[95] đem lại cho ngài trở thành người đă đạt đến[96] đặc tính kiên định ở bất kỳ nơi nào ưa thích, và cả những nơi nào không ưa thích nữa v.v… một người đă đoạn tận các phiền năo trong tâm, các thần linh như thể là Đế thích v.v…thèm khát, mong đợi tạo quan tâm để luôn khởi sanh[97] ḷng kính trọng nơi nào những thiện hạnh nhất của ngài đă thể hiện.

Đến đây kết thúc diễn giải Kinh Phật thứ bảy.


 

-ooOoo-


[1]. Xin đọc thêm chú giải Thanh Tịnh Đạo 139tt để có được cuộc thảo luận đầy đủ về cuộc sống sa môn đó, nhấn mạnh rằng eva (cũng) nên được hiểu theo mệnh đề thứ hai, ngay cả câu này không xuất hiện trong bản chính. 

[2]. Be giải thích là nirodhasamāpatti  c̣n bản văn Ce Se ghi là nirodhaṃ. 

[3]. Chú giải Thanh Tịnh Đạo 84 trong đó định nghĩa này được đưa ra thêm nhiều chi tiết hơn.  

[4]. Điều tiếp theo nên được giải thích tương ưng với Thanh Tịnh Đạo 702tt

[5]. Ce Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là ādhātabbattā.

[6]. Chú giải Be giải thích là ādhātabbatā / yā hi esā c̣n bản văn ghi là ādhātabbatāyā ti ? Esā, chú giải Ce Se giải thích là ādhātabbatāya hi esā.

[7].  Chú giải Ce Be Se giải thích là vā c̣n bản văn ghi là ca.

[8]. Mười sáu trí cho Bậc A-la-hán, nhưng đối với vị bất lai (Thanh Tịnh Đạo 704) th́ mười bốn loại trí, rất có thể trí về thánh đạo A-la-hán và thánh quả A la hán không thể trổ trể hơn.

[9]. Tattha tattha, rất có thể nội bên trong tám loại định, chú giải tiếp theo.

[10]. Được định nghĩa, tương ứng trong Trung Bộ Kinh (M) i 301 như hơi thở vào và hơi thở ra, tầm và tứ, tưởng và thọ; theo tập Thanh Tịnh Đạo 703, tầm và tứ được an tịnh do người nào đă chứng đắc thiền jhana bậc hai, hơi thở vào và thở ra do người nào đă chứng đắc thiền jhana bậc bốn, và tưởng và thọ do người nào đă chứng đắc thiền jhana bậc tám. Xin đọc chú giải Ud-a nói về yên lặng Bậc thánh.

[11]. Đó chính là, tâm bất khởi sanh và những pháp đồng sanh.

[12]. Chú giải Be Se giải thích là na; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua.

[13].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tiṇṇaṃ c̣n bản văn Ps Vism ghi là tayo ca.

[14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vasībhāvatāya saññānirodhasamāpattiyā c̣n bản văn Ps Thanh Tịnh Đạo ghi là vasībhāvatā paññā nirodhasamāpattiyā.  Chúng ta nên dịch như sau, “bằng cách nào, nhờ được thành tựu với hai sức mạnh…nhờ tu dưỡng chín định lại xuất hiện trí chứng đắc thiền diệt thọ tưởng bằng cách thiện xảo (làm chủ)?” việc đề cập riêng rẽ đến tuệ (paññā) trong Ps i 100 (tañ ñātaṭṭhena ñāa pajānanaṭṭhena paññā) tuy nhiên h́nh như có thể tranh luận trái ngược lại với cách giải thích này.

[15]. Kasmā ’ āya thero phalasamāpatti asamāpajjitvā nirodha samāpajji? Rất có thể có lợi hơn để giải thích câu văn này như sau“ Nhưng tại sao Trưởng lăo có thể thiền diệt khi lại không thiền quả trước đă?” nhưng điều này h́nh như đi lạc ra ngoài văn cảnh ở nơi nào nhập thiền quả và thiền diệt lại xuất hiện nhiều cách lựa chọn khác nhau. Như vậy Dhammapāla h́nh như đang ủng hộ cách  giải thích của các vị trưởng lăo, hơn là cách thức trước đó đă gán cho “một số người”

[16]. Một điểm được ám chỉ đến, nhưng lại không được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo 709.

[17]. Chú giải Paravahera Vajirañāa Mahāthera. Thiền Phật Giáo lư thuyết và thực hành (Buddhist Meditation in Theory and Practice), Kuala Lumpur 1975, tr. 466.

[18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là arahattaphalacittuppattiyā  c̣n bản văn ghi là arahattaphalacittappavattiyā, chú giải Thanh Tịnh Đạo 708.

[19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ce ở dưới đây, c̣n bản văn ce ghi là vā;  chú giải Thanh Tịnh Đạo 708.

[20]. Ce Be Ud cũng giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là ayasmato.

[21]. Về điều tiếp theo, chú giải Dhp-a i 423tt.

[22]. Tiếp theo sau cách chấm câu của Be, đă mở ra cho trích đoạn với từ kadāci hơn là idāni. Ce không thể in bất kỳ dấu ngoặc kép nào (“”) tại điểm này. Se chẳng bao giờ sử dụng các dấu này.

[23]. Bhojana; Be bhojanāni, có nghĩa là thực phẩm.

[24]. Chú giải Be Se Dhp-a giải thích là gantvā c̣n bản văn Ce ghi là gatā.

[25]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tumhādisiyo c̣n bản văn Dhp-a ghi là  tumhādisāyo. 

[26]. Tantavāyo.

[27]. Chú giải Ce Be giải thích là tathārūpi (Se tathārūpī) c̣n bản văn Dhp-a ghi là tathārūpa

[28]. Pesakārao

[29]. Chú giải Be Dhp-a giải thích là Sujā c̣n bản văn ghi là Suja. Ce Se giải thích là Sujātā.

[30]. Tasara pūreti; Dhp-a tasara vaḍḍheti (vl vaṭṭesi) chú giải chú thích tiếp ngay sau đó.

[31].  Chú giải Ce Be Se giải thích là viya hoti  c̣n bản văn ghi là viyā.

[32]. Tasaravaṭṭiṃ vaḍḍhentī viya; chú giải  Sn-a 265tt trong đó chúng ta thấy các từ tasaraṃ vaṭṭente và tasara vaṭṭetvā (? Tạo cho suốt chỉ của con thoi quay tṛn) nhưng h́nh như ở đây có nghĩa là nàng quay suốt chỉ với chỉ mới. Bằng cách đó suốt chỉ được đầy chỉ mới.

[33]. Oluggaviluggajarasāla chú giải Trung Bộ Kinh (M) i 80; cũng như Thanh Tịnh Đạo 107. Chú giải Ce giải thích là Oluggavilugga jiṇṇasāla, Be Oluggaviluggajiṇṇasāla, Se Oluttaviluttajiṇṇasāla, nhưng cách giải thích jarao h́nh như được hưởng ứng do Trung Bộ Kinh (M) i 80.

[34]. Thường thường th́ đôi hôn nhân lớn tuổi nhất trong một gia đ́nh ở rừng, nhưng h́nh như ít khi được áp dụng tại đây –  chú giải Vv-a 286.

[35]. Chú giải Ce Be Dhp-a giải thích là duggatatarā c̣n bản văn Se ghi là duggatataro.

[36]. Chú giải Ce Be giải thích là khāyati; c̣n bản văn Se lại bỏ qua.

[37]. Olambitvā; Be giải thích là olumbitvā.

[38]. Chú giải Be giải thích là ulloketvā c̣n bản văn Dhp-a ghi là oloketvā, Ce Se olokento.

[39]. Chú giải Ce Se giải thích là Sujātā.

[40]. Chú giải Vv-a 64 cũng tương tự như vậy.

[41]. Nghĩa đen là “Nồi nấu cơm”, nhưng xin đọc chú giải dưới đây. 

[42]. Bhattaghaṭito; hay chỗ thực phẩm, chỗ đựng bữa ăn, v.v…

[43]. H́nh như thay v́ ghaiyā odana.

[44]. Chú giải Ce Be giải thích là hatthe hapitamatte (Se hatthe hapītamatto)  c̣n bản văn ghi là  ṭhapitamatto.

[45]. Aṭṭhāsi; nghĩa đen là đứng, hay là ở lại, v.v…

[46]. Chú giải Ce Be Se giải thích là khajjavikatīhi c̣n bản văn ghi là khajjavikatiyā;  h́nh như có nghĩa là nước sốt cần phải nhai.

[47].  Chú giải Ce Se bỏ qua rasa, Be sūpa; chú giải Ud

[48]. Abhibyañjako;  Chú giải Ud-a 28 ở trên 

[49]. Madhurādimūlarasāna; Dhs 629  liệt kê sau nguồn hương vị khách quan và mười hai nhận thức chủ quan về các hương vị này. Mūlarasa xuất hiện như là hương vị đầu tiên trong số sáu hương vị đó, nhưng Asl 320 giải thích hương vị này là “vị được tạo ra do bất kỳ rể cây nào” (Expos 418). SED sv mūlarasa, mặt khác lại cho là mūlarasa là hương vị nguyên thủy (cơ bản). Trong khi đó cũng khẳng định rằng, sv rasa, có “sáu loại, tức là vị madhura, là vị ngọt; amla, là vị chua; lavaa, là vị mặn; kauka, vị cay; tikta, là vị đắng, và kashāya, là vị the; đôi khi cũng phân biệt được tới 63 loại khác nhau, tức là ngoài sáu vị nguyên thủy, 15 vị hỗn hợp với hai vị, 20 vị có ba vị, 15 vị có 4 vị, và 1 vị có 6 hương vị”. Cũng rất thú vị khi ta khám phá ra cùng các vị căn bản đó lại xuất hiện trong Miln 56. 63; và chúng ta rất có thể thừa nhận rằng chính danh sách đó đă do Dhammapāla đem lại cho chúng ta, và cả các hỗn hợp hương v&#