NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8. Kaccāna

Trong Kinh Phật thứ tám: Nội phần (ajjhattaṃ): về việc này, từ ajjhattaṃ được truyền lại[1] có liên quan đến điều ǵ thuộc nội phần bên trong tuyệt đối[2], như thể “sáu nội xứ” (D iii 243) v.v…; có liên quan đến những ǵ thuộc nội phần chính chúng ta, như trong câu “các pháp nội phần” (Dhs 2) (và) “hay ngài tỏ ra tùy quán vào như thể một người đang chánh niệm thân nội phần về chính[3] cơ thể của ḿnh “(D ii 292 = Trung Bộ Kinh (M) i 56) v.v…liên quan đến những ǵ thuộc thành phần nội phần thông qua những phạm vi đối tượng, như trong câu, “Không tác ư vào bất kỳ tướng[4] nào ngài chỉ tác ư[5] gia nhập vào hư không nội phần mà thôi” (Trung Bộ Kinh (M) iii 111) v.v…ư nghĩa là liên quan đến vùng uy quyền, đối với chứng đắc thánh quả[6] được biết tới như là nội lực[7] của Đức Phật và liên quan đến những ǵ thuộc phạm vi nội phần bằng các chăn thả (pasturage)[8], và trong câu, “hỡi Trưởng lăo Ānanda, v́ lư do đó[9] vị Tỳ khưu đó nên quyết định dàn xếp tâm theo định tướng vừa nêu trên[10]” (Trung Bộ Kinh (M) iii 112) v.v… chính v́ liên quan đến cùng một ư nghĩa nội phần bằng cách thông qua chăn thả mà ta phải lưu ư đến cả trong trường hợp hiện thời nữa, “liên quan đến đối tượng h́nh thành đề mục thiền của ngài đă trở thành nội phần bằng cách áp dụng chăn thả chính v́ thế là điều muốn đề cập đến bằng ư nghĩa “nội phần ở đây”. [375] Trước mặt ngài (parimukhaṃ): hướng về ngài. Hoàn toàn hiện hữu (sūpaṭṭhitāya): với chánh niệm được hướng tới thân [11] hoàn toàn hiện hữu (suṭṭhu upaṭṭhitāya, thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài): và về điểm này đây chính là thiền Jhanas được đề cập đến dưới tiêu đề chánh niệm; đây là những ǵ người ta đă đề cập đến[12] sau khi đă đạt đến thiền jhana cao quí đó có được thông qua tứ niệm xứ bao gồm với tùy quán thân nội phần.

V́ một ngày nọ vị trưởng lăo này khi Đức Phật vẫn c̣n lưu lại tại Sāvatthi, đang ngồi  ngay tại trú xứ dành cho việc nghỉ ngơi vào ban ngày, sau khi đă hoàn thành đầy đủ nhiệm vụ của ḿnh[13] th́  Đức Phật đă chỉ định cho ngài sau khi đă đi vào thiền viện, khi vừa trở về sau buổi khất thực tiếp theo cho bữa trưa hôm đó, sau khi đă du hành khắp thành Sāvatthi để khất thực; ngài đă trải qua dưới ánh sáng ban ngày với nhiều tùy quán đa dạng, và rồi vào một thời điểm đặc biệt ở buổi tối, ngài bước xuống sảnh đường thiền viện; nhưng khi nhận thấy rằng chưa phải là lúc để đến gặp Đức Phật, v́ Ngài vẫn c̣n đang ngồi thiền trong hương pḥng, ngài trưởng lăo liền ngồi thiền dưới một gốc cây không cách xa hương pḥng là bao, trước tiên ngài đă thiết lập biệt phân thời gian, rồi nhập những thiền chứng như ta đă đề cập đến trước đó; thế rồi đang khi ngài vẫn c̣n ngồi thiền nơi hương pḥng, vị đạo sư đă nhận ra ngài[14] đang ngồi thiền như vậy, v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào dịp đó vị trưởng lăo Mahākaccāyana[15]…đă hoàn toàn hiện diện (trước mặt ngài)”.

Thẩm định lại vấn đề (etam attha viditvā): thẩm định dưới mọi góc độ, thiền chứng hiện hành về phía vị trưởng lăo Mahākaccāyana sau khi đă nhập thiền Jhana ngài đă đạt đến chứng đắc bằng tu luyện lấy tứ niệm xứ làm nền tảng, điều này đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này:

Đối với người nào luôn luôn thực hành chánh niệm thân th́ liên tục hiện hữu (yassa siyā sabbadā sati satata kāyagatā upaṭṭhitā): đối với người nào đă khởi sanh thiền minh sát, đối với người này rất có thể, sau khi đă phân chia một ngày thành sáu thời, lúc nào cũng hiện hưũ bằng cách am hiểu đặc tính vô thường v.v…về năm ngũ thủ uẩn (Upādānakkhandhas), thông qua chánh niệm thân được hướng tới. – có hai đặc tính chính yếu theo cách phân chia thành danh và sắc – (tức là chánh niệm lấy thân làm đối tượng[16], liên tục, không gián đoạn, hiện diện bằng cách tu luyện tinh tấn và kiên định cùng một cách tu luyện đó.[17]

Người ta kể lại rằng trước tiên vị trưởng lăo đă khởi sanh thiền Jhana bằng một đề mục thiền gồm có chánh niệm thân và sau đó khi đă lấy thiền Jhanas làm nền tảng ngài tiến hành thiền quán thông qua tứ niệm xứ bao gồm chánh niệm thân, và chứng đắc A-la-hán; vào giai đoạn tiếp theo sau là giai đoạn (chứng đắc thánh đạo) nữa. Trong đa phần thời gian ngài đă nhập cùng một loại thiền Jhanas, khởi xuất thiền Jhana ngài tu luyện tiếp tục thiền minh sát theo cùng một cách như vậy, rồi ngài đạt thánh quả, thánh đạo.

Đạo sư của chúng ta, sau khi nói rằng, “đối với người nào luôn luôn chánh niệm thân th́ liên tục hiện hữu”, ngài làm rơ phương pháp khiến cho người đó đạt đến A-la-hán rồi ngài phán rằng, “nếu không hiện hữu, th́ ta cũng không thể hiện ’ và ‘sẽ không hiện hữu, th́ cũng không có cả ta nữa”[18] chính v́ thế để giải thích phương cách trong đó người chánh niệm tự hiện hữu như thế nào. [376] Ta nên hiểu ư nghĩa ở đây theo hai cách, tức là thông qua giai đoạn trước lúc ngài hiểu được đặc tính vô thường v.v… là như thế nào về ngũ thủ uẩn và thông qua thời gian ngài thấu triệt được những sự việc này, liên quan đến vấn đề này, trước tiên qua giai đoạn trước đó, những ǵ không tồn tại, th́ cũng chẳng tồn tại với ta làm ǵ (no ’ assa no ca  me siyā): sẽ chẳng có ǵ, nếu trước đó đă không xuất hiện, mà hành vi nhơ bẩn của ta trước đó không thấy nơi ta, th́ cũng chẳng xuất hiện với ta, trong thời điểm hiện nay;  nhưng do những rác phiền năo của ta lại xuất phát từ những hành vi[19] ta đă làm trong quá khứ , chính v́ thế giờ đây nó cũng diễn ra nơi ta hiện hữu quay về đó. Sẽ chẳng xảy đến với ta, cũng như không diễn ra với ta trong tương lai (na bhavissati na ca me bhavissati): do thiền chứng của những ǵ đối nghịch lại trong đó,[20] th́ cũng không diễn ra với ta, cũng như sẽ không khởi sanh nơi ta bất kỳ hành vi nhơ bẩn nào trong hiện hữu này, cũng như sẽ chẳng xuất hiện nơi ta trong tương lai, cũng chẳng tái sanh nơi ṿng luân hồi trong tương lai, theo cách này đă xuất hiện quan điểm cho rằng danh và sắc diễn ra có điều kiện.[21] tức là “ngũ thủ uẩn này, được coi như là hiện hữu hiện tại của ta, lại có nhân duyên xuất hiện phiền năo xuất phát từ những hành vi trong ba thời đă nói đến ở trên, lại không coi isvara[22] v.v… làm nguyên nhân, và chính v́ điều này đă xảy ra đối với ta, th́ cũng sẽ diễn ra cho toàn bộ chúng sanh vậy.” Nhưng ( bao giờ đoạn văn này được  giải thích) do bởi phương tiện thời gian đọc hiểu của ngài (sự vô thường v.v… của ngũ thủ uẩn upādānakkhandhas), đă không có [23], sẽ không hiện hữu đối với tôi (no ’assa no ca me siyā ): bởi v́ năm uẩn này là vô thường trong ư niệm của hiện hữu, không có hiện hữu sau khi đă hiện hữu, khổ năo trong ư niệm của khổ ải triền miên, vô ngă trong ư niệm không có kiểm soát hành động[24], nó diễn tiến,  nếu năm uẩn này được biết như là bản ngă th́ thậm chí không có sự độc lập của năm uẩn, đă không có, sẽ không  hiện hữu[25], sẽ không hiện hữu, bất cứ ai (như vậy độc lập). Sự hiện hữu này như thế, sẽ không có hiện hữu đối với tôi, sẽ không có bất cứ vật ǵ hiện hữu mà có thể mọi người  cho rằng cái này thuộc về tôi. Sẽ không có hiện hữu (na bhavissati): để có một bản ngă th́ sẽ phải có những ǵ thuộc về bản ngă[26] ; tuy nhiên danh và sắc này th́ vô ngă và cái ǵ thuộc về bản ngă[27] cả hiện tại và quá khứ, sẽ không có hiện hữu, mà[28] sẽ cũng không hiện hữu đối với tôi, sẽ không có hiện hữu, sẽ không có xảy ra, để bất cứ ai[29] cũng thấy rằng có thể được nói như là bản ngă độc lập của các uẩn trong tương lai là thế , tương tự, sẽ không có hiện hữu đối với tôi bất cứ điều ǵ b ao gồm những vật chướng ngại (điều đó có thể nói) sẽ không có hiện hữu trong tương lai mà cũng không có điều ǵ được gọi là bản ngă.  Tương tự, ngài chỉ cho thấy sự vắng mặt bất cứ điều ǵ bị dính mắc trong cái “tôi”[30] trong số sự vắng mặt của bất cứ điều ǵ đều bị kẹt vào “bản ngă” trong ba thời (- những giai đoạn), nhờ đó sự  rỗng không đuợc ám chỉ bằng bốn gốc [31] . Khi một người đang trú ở đó thường xuyên (anupubbavihāri tattha so) : người trú thường xuyên bằng cách trú liên tục (các giai đoạn) trong vipassana ví như, tuệ giác tương ưng với vipassana, như tuệ sanh và diệt v.v… là để tiến tŕnh sanh[32] trong khi ngài đă quán chiếu như vậy- bằng sự kính trọng pháp hành- sự rỗng không của bản ngă và những ǵ thuộc về bản ngă  bằng sự quư trọng một trong ba thời[33] [377]  có thể, đúng thời, mới có thể vượt qua được hiểm trở (lālen ‘ eva tare visattikaṃ): người có nhân duyên với vipassana sẽ đạt được mục đích, thiền sinh này có thể, đúng thời có khả năng đạt được mục đích cao thượng, đúng thời tham dự vào đạo lộ[34] bằng con đường vipassana đó, thiền sinh có thể đạt đuợc sự tinh tiến, đúng thời có thể phát sanh thánh đạo, vượt qua mọi hiểm trở, được cho là ái dục là nhân luân hồi[35] trong tam giới, ẩn ư là người sau khi vượt qua, người đó có thể đứng như thế [36] (ái dục) trên bờ biển khác. Do đó, đức Phật đă giảng kinh Udana[37] làm sáng toả phát sanh quả vị A La hán[38] cho trưởng lăo mahākaccāyana . Việc diễn giải Kinh Phật thứ tám kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Xin cũng đọc chú giải Asl 46 để biết thêm chi tiết tương tự như vậy. 

[2]. Ajjhattajjhattatte; hiểu theo nghĩa đen là “nội phần bên trong”, (CPD sv “hoàn toàn nội phần”)

[3]. Làm ngược lại như vậy liên quan đến thân một người nào đó.

[4]. Sabbanimittāna; ta thấy được giải thích trong MA iv 160 là rūpādīna sabbanimittāna

[5]. Viharati; có người đề nghị vl như vậy nên được chấp nhận như trong Trung Bộ Kinh (M) iii 111.

[6]. MA iv 160 giải thích là trống rỗng (suññataṃ) được coi như là chứng đắc thánh đạo (suññataphalasamāpatti)

[7]. Buddhāna issariyaṭṭhāna; xin đọc chú giải It-a ii 21, 74 và chú thích trong chú giải Ud-a 370 ở trên.

[8]. Bản văn Ce chèn thêm yeva daṭṭhabbo; chú giải Be Se lại bỏ qua.

[9]. Tena;  h́nh như MLS iii 156 lại bỏ qua.

[10]. Purimasmiṃ; điều này xác nhận ràng đây là cách giải thích đúng , về điểm này xin đọc chú giải MLS iii 156 n 1.

[11]. Chú giải Be Se và Ud giải thích là kāyagatāya satiyā c̣n bản văn ghi là kāyagatasatiyā. Ce kāyagata satiyā.

[12]. Một khi Ud sẽ trở nên “gặp chân “xếp bằng” hướng thân thẳng đứng. Sau khi đă đạt đến thiền Jhana tột đỉnh bằng cách niệm xứ bao gồm tùy quán thân nội phần”

[13]. Ce Be Se giải thích là vattaṃ c̣n bản văn ghi là vaṭṭaṃ.

[14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là taṃ; c̣n bản văn bỏ qua.

[15]. Chú giải Be và Ud giải thích xuyên suốt Mahākaccāna; xin đọc  chú giải  Ud-a 307 để biết thêm những chi tiết giống nhau.

[16]. Chú giải Be Se giải thích là duvidhe pi kāye gatā kāyārammaā (Ce  duvidhā pi kāyagatā kāyārammaa) c̣n bản văn ghi là duvidhā pi kāyenagatākāyārammaā.

[17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sātaccābhiyogavasena c̣n bản văn ghi là saccābhiyogavasena; sātacca (ḷng bền đỗ) từ này xuất phát từ satataṃ, một cách liên tục.

[18]. Các hàng chữ này tái xuất hiện trong Trung Bộ Kinh (M) ii 264 = S iii 55 = Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 71 về điều này cũng đọc một giải thích ngắn trong MA iv 65, SA ii 275 và AA iv 38.

[19]. Xin đọc Ud-a 176, 214 ở trên.

[20]. Be Se giải thích là paipakkhādhigamena kilesakamma na bhavissati; bản văn ghi pa’ eva nakilesakamma bhavissati, Ce ’ eva na kilesakamma bhavissati. 

[21].  Chú giải Ce Be Se giải thích là sappaccayao; c̣n bản văn ghi là sabbaccayao; xin đọc chú giải  Ud-a 206.

[22]. Xin đọc Ud-a 344 ở trên.

[23]. Cách giải thích thứ nh́ này yêu cầu “không có” trong đoạn kệ ta đang giải thích, trong bản dịch, “không có tuy nhiên bản gốc tiếng Pāli vẫn y nguyên.

[24]. Xin đọc chú giải  Ud-a 215 để biết thêm chi tiết giống nhau.

[25]. Ce Be Se giải thích là no ca siyā; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[26]. Chú giải Be giải thích là attani attaniye bhavitabbaṃ,  chú giải Se giải thích là sati hi attaniyena bhavitabbaṃ; c̣n bản văn Ce ghi là attani yeva bhavitabbaṃ,  toàn bộ cách giải thích này đều sai, tôi nghĩ là cách giải thích nguyên thủy phải là asati attani hi attaniyena bhavitabbaṃ, chính là điều tôi đă dịch.

[27]. Be giải thích attattaniyaṃ; c̣n bản văn Ce Se ghi là attaniyaṃ.

[28]. Chú giải Ud giải thích là ca; toàn bộ các bản văn đều bỏ qua.

[29]. Koci; Be na koci, rất có thể là sai.

[30]. Toàn bộ bản văn đều ghi thêm ca, điều này h́nh như là thừa trước từ abhāvato.

[31]. Xin đọc chú giải  Ud-a 114 ở trên.

[32]. Xin đọc chú giải  Ud-a  35 ở trên.

[33]. Be Se giải thích là attattaniyaṃ suññataṃ tattha saṅkhāragate c̣n bản văn Ce ghi là attattaniyasuññataṭṭhasaṅkhāragate; nhưng tôi nghĩ chúng ta phải giải thích attattaniyasuññataṃ tattha sakhāragate, trong đó sakhāragate h́nh như chỉ là lời chú thích về tattha (Bhikkhu Bodhi).

[34]. Chú giải Be Se giải thích là maggena ghaitakālena (Ce maggena ghāṭitakālena) c̣n bản văn ghi là maggenugghāitakālena. Đoạn văn này rơ ràng ám chỉ đến những biến cố được ghi lại trong Thanh Tịnh Đạo 661tt trong đó người ta khẳng định rằng: “thiền minh sát sẽ dẫn đến khởi xuất v́ thiền này đi theo hướng đó, có nghĩa là liên kết (ghaīyati) với thánh đạo”

[35].  Chú giải Ce Be Se giải thích là satananato c̣n bản văn ghi là santānanato.

[36].  Chú giải Ce Be Se giải thích là tassā c̣n bản văn ghi là tassa.

[37]. Aññāpadesena; không thấy liệt kê trong PED.

[38]. Chú giải Ce Be giải thích là arahattuppattidīpana udāna  c̣n bản văn ghi là arahattuppatti-udāna, Se ghi arahattappatti-udāna.