|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
10. HỌ KHỞI SANH Trong Kinh Phật thứ mười: Chừng nào mà (yāvakīvaṃ): đến một thời điểm như vậy. Sau đó…khi mà (yato): khi mà, [1] tiếp theo sau đó…khi mà; hay nói cách khác “vào thời điểm như vậy…khi mà” đây chính là ư nghĩa[2] muốn đề cập đến ở đây. Chính v́ thế, hỡi trưởng lăo Ānanda (evam etaṃ Ānanda): Hỡi trưởng lăo Ānanda, chính ngài đă khẳng định một điều là – khi có vị Như Lai xuất hiện, th́ lợi lộc và ḷng kính trọng[3] dành cho vị Như Lai và các đồ đệ của ngài luôn gia tăng, trong khi đó những người nào có quan điểm khác lạ sẽ hiếm khi được tỏa sáng, sẽ trở thành những bóng mờ[4], sẽ trở thành những người không được hưởng[5] bất kỳ lợi lộc và ḷng kính trọng nào nữa, đây là điều đă xảy ra như vậy, bản chất của sự việc sẽ không thể khác được; v́ một khi Bảo luân xa xuất hiện đối với một cakkavatti, ngoại trừ nơi nào liên quan đến bảo luân xa, cơi thế gian này sẽ không thể tạo được bất kỳ ḷng sùng kính, ḷng kính trọng và địa vị ở bất kỳ nơi đâu[6] nữa, và toàn cơi thế gian này chỉ dành ḷng tôn kính, kính trọng, nghĩ tốt và hết ḷng kính lễ cho một ḿnh Bảo luân xa mà thôi; chính v́ thế ngài muốn làm rơ rằng khi một uy lực to lớn đến thế[7] khả dĩ nổi lên, ngay cả khi xuất phát từ việc làm tuôn trào duy chỉ có việc công đức trong ṿng luân hồi, [357] uy lực đó c̣n lớn lao biết bao khi xuất hiện từ chấp tri nơi một số đông những ân đức thiện vô tận và vô lượng đặc biệt một khi uy lực đó lại chính là cột trụ chống đỡ dành cho kết quả công đức tuôn trào một khi không c̣n ṿng luân hồi tái sanh nữa, tức là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo; v́ chính Đức Phật[8] sau khi đă khởi động Chuyển Pháp luân[9] (Vin i 10tt) sau khi ngài chứng đắc Chánh Đẳng Giác, vào đúng thời điểm có tới sáu mươi mốt vị A-la-hán giáng lâm xuống cơi dục giới này (Vin i 11-20), ngài đă truyền đi sáu mươi vị A-la-hán[10] đó với mục đích du hành các quốc gia (Vin ii 20tt); rồi sau khi ngài đă đi tới thành Uruvelā (Vin i 24) ngài đă thiết lập một tăng đoàn gồm một ngàn vị ẩn sĩ tóc rối, đứng đầu là trưởng lăo Uruvela kassapa[11] toàn bộ các vị này đă chứng đắc A-la-hán[12](Vin i 24-35), Ngài đă đi tới thành Rājagaha vây quanh là các vị sa môn đó, tại đó Ngài đă ngồi thiền trong một công viên ngay tại một cánh rừng dừa (Vin i 35), và rồi ngay tại đó Ngài đă khiến họ vượt qua và diễn giải giáo lư của Ngài cho mười hai đạo binh các cư dân Aṅga[13] và Magadha có Bimbisāra đứng đầu (Vin i 35-37). Từ đó trở đi Ngài lưu lại trong thành Rājagaha và vô số[14] lợi lộc và ḷng kính trọng dành cho Đức Phật và tăng đoàn các đồ đệ của Ngài luôn gia tăng, cũng một cách như vậy toàn bộ lợi lộc và ḷng kính trọng nơi những người có quan điểm khác đều dần tan biến hết. Thế rồi, trong lúc ngồi thiền trong ṿng một ngày ngay chính nơi hành thiền ban ngày dành riêng cho ngài, trong tâm tràn ngập sung sướng và phỉ lạc, đang khi quán lại việc thành tựu của Đức Phật và Thánh Tăng, trưởng lăo Ānanda tự hỏi “điều này diễn ra làm sao nơi những người chủ trương quan điểm khác?” và rồi ngài cũng quán xét tới việc tu luyện của họ, thế rồi cùng một loại tu luyện của họ hoàn toàn bất thiện dưới mọi góc độ, đă xuất hiện trước mặt trưởng lăo. Ngài tỏ ḷng từ tâm đối với những mất mát về lợi lộc cũng như ḷng kính trọng nơi những người có quan điểm khác, nghĩ rằng “Quả thật trong khi Đức Phật, là người chứng đắc tứ như ư túc to lớn đến như vậy[15], và là người đă đạt đến ba la mật[16] bờ cao thượng và là nguồn hỗ trợ quyết định để đạt được công đức và trong phần tu luyện Phật Pháp phù hợp với Phật Pháp[17] - không cần nói đến Thánh Tăng - vẫn c̣n tiếp tục tồn tại, th́ làm sao những người khác quan điểm kia, luôn thực hiện những hành vi bất thiện đến như vậy, không thực viện bất kỳ việc công đức nào, họ thuộc hạng người hèn hạ nhất trong số các chúng sanh hiện hữu[18] lại có thể trở thành những người được hưởng lợi lộc (đồ dùng thiết yếu) và được kính trọng sao? Và rồi vị trưởng lăo đă thuật lại cho Đức Phật biết suy nghĩ của ḿnh bằng cách nói rằng, “tạm biệt ngài, bạch Đức Thế Tôn” v.v… và Đức Phật, không thực sự nói rằng, “này Ānanda, nhà ngươi đă có suy nghĩ sai lầm rồi đó” ngài ngưỡng cổ lên giống như một chiếc trống vàng[19], tiếng nói to, trông rực rỡ như một bông sen[20] trăm cánh nở bung ra, c̣n khả ái hơn nữa[21] và rồi, sau khi Đức Phật đă làm rơ ngài đồng ư[22] nói rằng, “chính như vậy đó, hỡi trưởng lăo Ānanda, hăy xác thực[23] lời tuyên bố của nhà ngươi bằng cách nói rằng, “Quả thật điều đó quá dài ḍng” v.v… v́ lư do đó có lời nói rằng[24] “giờ đây Trưởng lăo Ānanda…cũng như tăng đoàn các vị Tỳ khưu”. Thế rồi sau đó Đức Phật đă thuyết giảng Kinh bản sanh Bāveru[25] (J iii 126) liên quan đến những ǵ cần thiết phải khởi sanh[26] nói rằng, “cũng như trong quá khứ, khi ta chưa xuất hiện, có một số người hạ cấp đă đạt được ḷng kính trọng[27] nơi chúng sanh, ngay sau khi ta xuất hiện, th́ mọi lợi lộc và ḷng kính trọng của họ có được nơi chúng sanh đă bị tiêu diệt hết. Thẩm định lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): thẩm định dưới mọi h́nh thức vấn đề này, tức là sự việc đă xảy ra là những người liên đến tà kiến đă chiếm được lợi lộc và ḷng kính trọng trong một thời gian dài với điều kiện là [358] các vị Toàn Giác chưa xuất hiện trên cơi dục giới này, ngược lại, ngay sau khi các Ngài xuất hiện, th́ mọi lợi lộc và ḷng kính trọng đó đă bị triệt tiêu, những người đó không thể toả sáng được nữa, và trở thành những người phải rút vào bóng tối, trong khi đó liên quan đến những hành vi bất thiện họ đă làm, họ đă không thể nào thoát khỏi đau khổ, Đức Phật đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết nhằm làm sáng tỏ vấn đề đó. Về điểm này: Con đom đóm chỉ chiếu sáng có mức độ (obhāsati tāva so kimi): con sâu đóm đóm[28] chỉ toả sáng, nhấp nháy ánh sáng[29], chiếu sáng có mức độ mà thôi. Với mức độ đó ánh sáng của họ không thể phát tán được (yāva na unnamati [30]pabhaṅkaro): so với mức độ mặt trời, có tên là “nguồn phát tán ánh sáng” bằng cách tạo ánh sáng, chỉ trong giây lát đă tràn ngập cả ba[31] đại lục, th́ người đó không thể tự phát tán[32] (unbend), không thể trèo cao được; một khi mặt trời chưa mọc, th́ ánh sáng đom đóm có dịp phát tán và chúng có thể toả sáng khắp nơi trong bóng tối với những điểm sáng chỉ bằng đầu kim[33] mà thôi. Khi ánh sáng (mặt trời) chói chang xuất hiện, th́ luồng sáng đó (đom đóm) bị triệt tiêu hết, cũng như không c̣n ư nghĩa ǵ nữa (sa verocanamhi [34]uggate hatappabho hoti na ’ āpi bhāsati): khi mặt trời (ādicce), có tên gọi là “vật phát tán ánh sáng chói chan” (verocana) do thực chất là tự bản chất (mặt trời) là vật phát tán ánh sáng chói chan[35](virocana) với cả ngàn tia sáng phát ra, đă trở nên vững chắc, làm tan biến bóng đêm khắp tứ phương, điều đó[36] khiến cho ánh sáng đom đóm hoàn toàn bị tiêu diệt, quả thật trở thành vật phát tań ánh sáng, th́ bóng đêm chẳng c̣n có thể minh chứng được ǵ nữa, ánh sáng đom đóm yếu ớt kia chẳng c̣n đủ sức tỏa sáng được trong bóng tối nữa. Cũng vậy đối với ánh sáng của những người hay suy đoán (evaṃ obhāsitam eva takkikānaṃ [37]): chính v́ đom đóm chỉ phát tán ánh sáng trước khi mặt trời xuất hiện, cũng vậy đối với những người có quan điểm khác – là những người mang tên “những người đầy suy diễn” (takkikā) do những tà kiến riêng của họ, họ chỉ suy luận sau khi đă đắn đo suy nghĩ (takketvā) (dựa trên tà kiến của họ), sau khi đă phỏng đoán (vitakketvā), về những tà kiến đó – chỉ được chấp nhận, một khi đă được làm rơ bằng cách phát tán ánh sáng chói chan thấy nơi những ư kiến[38]của họ, (chỉ) trong giới hạn khi Đấng Toàn Giác chưa xuất hiện trên cơi dục giới này, các nhà suy luận như vậy cũng như các phiền năo của họ vẫn chưa được thanh tịnh (na takkikā sujjhanti na ’ āpi sāvakā): nhưng một khi Đấng Toàn Giác đă xuất hiện trên cơi thế gian này, th́ những người nào vẫn liên đến những tà kiến mà chưa được thanh tịnh sẽ không thể toả sáng được nữa; những phiền năo cũng vậy thôi; ngược lại, th́ ánh hào quang của họ đă bị lấn át[39] hết; hay nói cách khác[40], chỉ khi nào Đấng Toàn Giác chưa xuất hiện trên cơi thế gian này, sẽ xuất hiện những lời bàn tán đầy tưởng tượng (obhāsitaṃ [41]), đă lóe sáng bằng chính những ư tưởng của họ, họ cũng nói huyên thuyên như người khờ[42] thế nên ta gọi họ là “những nhà suy đoán” và sau khi Đức Phật xuất hiện th́ họ sẽ biến mất, tại sao vậy? v́[43] các “nhà suy đoán” đó đă không được thanh tịnh trước, cả các phiền năo của họ cũng vậy, v́ [44] những người nào chỉ nắm giữ Pháp và luật một cách sơ sài, thiếu thanh tịnh[45] đích thực, là những người không được thoát khỏi cuộc chạy liên tục nơi ṿng luân hồi, do giáo lư[46] đó sẽ không tạo ra cho họ một lối thoát nào cả; chính v́ lư do đó ngài cho biết rằng: những người nào có quan điểm hẹp ḥi không được giải thoát khỏi đau khổ (dudiṭṭhī na dukkhā pamuccare), đối với những người hay suy đoán, cũng là những người có quan điểm sai lầm do họ bám víu vào một niềm tin[47] thiếu nền tảng, quan điểm của họ lại gắn chặt với những điều sai trái, họ là hạng người có quan điểm không rơ ràng; v́ đă không diệt trừ được quan điểm sai trái đó, thế nên họ chẳng bao giờ có thể thoát khỏi đau khổ nơi chính ṿng luân hồi vậy. Việc diễn giải Kinh Phật thứ mười kết thúc tại đây. Và việc diễn giải chương Người mù bẩm sanh cũng kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yadā, c̣n bản văn lại bỏ qua. [2]. Cách giải thích này hơi nặng nề do thực chất là trong bản dịch, câu mở đầu “bạch Đức Thế Tôn, sau đó khi vị Như Lai xuất hiện,” lại yêu cầu chèn thêm từ “khi” không thấy có trong bản chín; dựa trên cơ sở ba cách giải thích, đoạn văn này trở thành như sau: (1) bạch Đức Thế Tôn, khi vị Như Lai xuất hiện; (2) bạch Đức Thế Tôn, tiếp theo sau khi vị Như Lai xuất hiện; và (3) bạch Đức Thế Tôn, vào thời điểm khi vị Như Lai xuất hiện. [3]. Ce Be Se giải thích là lābhasakkāro c̣n bản văn ghi là paralābhasakkāro. [4]. Chú giải Ce Se và Ud-a 113 giải thích là nippabhā c̣n bản văn ghi là vigatappabhā, chú giải Be ghi vihatappabhā. [5]. Xin đọc chú giải Ud-a 113 để biết thêm chi tiết tương đồng. [6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aññāttha c̣n bản văn ghi là aññatha. [7]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tāva c̣n bản văn ghi là nāma. [8]. Điều diễn ra tiếp theo là một bài tường tŕnh giản lược về những biến cố được ghi lại trong những trang mở đầu tác phẩm Mahāvagga. Tôi đă chèn thêm tham khảo vào trong ngoặc kép; xin cũng đọc chú giải B Disc iv để biết thêm những chú thích thêm nữa. [9]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pavattavaradhammacakko anukkamena c̣n bản văn ghi là pavattavaradhammacakkānukkamena. [10]. Nhóm năm người. Yasa và bốn người bạn, đi theo lại gồm năm mươi người bạn nữa; chính Đức Phật là vị A-la-hán thứ sáu mươi mốt. [11]. Được giao địa vị tối thượng, theo Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 24 cho những thinh văn đệ tử có các hội chúng đông đảo. [12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là arahatte c̣n bản văn ghi là arahante. [13]. Chỉ có ngài Magadha xuất hiện trong bài tường tŕnh Vinaya. [14]. Chú giải Be chèn thêm từ uḷāra; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua. [15]. Chú giải Be Se giải thích là evaṃmahānubhāve c̣n bản văn ghi là evaṃ mahānubhāvo, Ce evaṃ mahānubhāvo ca. [16]. Xin đọc chú giải Ud-a 152 ở trên. [17]. Xin đọc chú giải Ud-a 97, 326 ở trên [18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là varākā c̣n bản văn ghi là ocarakā, người do thám; chú giải bằng cách nào, trong chú giải Ud-a 330tt ở trên, các vị du sĩ đối địch lại hành động với tư cách là những người do thám cho nhà vua. [19]. Chú giải Be Se giải thích là suvaṇṇāliṅgasadisaṃ c̣n bản văn Ce lại ghi là suvaṇṇamudiṅgasadisaṃ; chiếc cổ giống như chiếc trống trong đó lại c̣n giống một vỏ ṣ, có ba thứ. – xin đọc chú giải J iv 130 về cách giải thích kambugīva, có cổ giống như một vỏ ṣ, từ này cũng gặp thấy trong DA 449 = MA iii 380 trong cách giải thích về tướng thứ hai mươi trong số ba mươi hai tướng của một Đại Nhân, đă tuyên bố giọng nói của ngài nghe giống tiếng sấm vang dội khi ngài nói chuyện, xin cũng đọc chú giải Asl 5: “ Vị đạo sư thực sự đă không nói ǵ về điều này thế nên Kaccāna đă nói không hay về người ngẩng cao cổ lên như thể ngài đang nâng cổ khỏi chiếc trống vàng (suvaṇṇāliṅga) và đổ đầy miệng ḿnh, rực rở như một cánh hoa sen trăm cánh nở bung với hơi thở thoát ra giọng nói Phạm thiên..” [20]. Satapatta; PED sv chỉ liệt kê ư nghĩa của con c̣ Ấn Độ (hay là con chim gơ kiến?)”, nhưng xin đọc chú giải SED sv satapattra. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là abhippasannataraṃ c̣n bản văn ghi là adhippasannākāraṃ. [22]. Xin đọc chú giải Ud-a 6 ở trên trong đó điều này được đưa ra như là một ư nghĩa của từ evaṃ. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là paccanumodi c̣n bản văn ghi là pasaṃsi; không thấy liệt kê trong tự điển Childers hay PED, trong khi đó SED và BHSD lại không liệt kê bản đối chiếu. [24]. Người ta thường sử dụng khuôn khổ này để đưa ra một trích dẫn lấy từ tập Phật Tự Thuyết (Ud.) nhằm hỗ trợ cho những ǵ vừa đề cập đến và rồi đưa ra lời dẫn giải chi tiết; nhưng ở đây h́nh như lại bao hàm toàn bộ Kinh Phật, ngoại trừ không đưa ra lời khẳng định mở đầu về nguồn tài liệu đó, hay ít nhất cũng không đá động ǵ cho tới cuối lời tuyên bố của trưởng lăo Ānanda; trong khi đó ta cũng nên lưu ư một điều là vẫn chưa nhận được bất kỳ lời dẫn giải tiếp theo về (khuôn khổ) này; điều này cho thấy truyền thống thường cố thêm vào những chi tiết kinh điển nơi những tuyên bố không do Đức Phật nói ra, và rất có thể một trong số những tuyên bố ngài không tán thành, được đưa ra trong nhận định mở đầu nói rằng, “thực sự ngài không nói “hỡi Trưởng lăo Ānanda, quả thực đây là điều nhà ngươi đă phản ảnh sai lầm.” Xin đọc chú giải Asl 5 để biết thêm chi tiết tương tự, và trong đó, cho dù kỹ xảo sử dụng không kém phần mờ ám, song những lư do đưa ra vẫn c̣n khó hiểu. [25]. Ngay một vài thời điểm trong quá khứ, khi mà vị Bodhisatta đă xuất hiện dưới dạng con công, có một số thương gia đă trẩy đến vương quốc Bāveru, nơi đó người ta chưa biết nhiều về những loại chim, họ mang theo một con quạ đen; những cư dân trong vương quốc Bāveru đă ép các thương gia này bán cho họ con quạ đen đó, và tỏ ḷng quí mến con vật vô cùng, vào lần viếng thăm (vương quốc) tiếp theo, các thương gia lại mang đến một con công, cư dân trong vương quốc cũng mua nốt đồng thời chuyển ḷng quí mến dồn cho con vật này. Kinh Bản Sanh kết thúc với lời Đức Phật chỉ ra rằng đă có vị Nigaṇṭha Nātaputta khởi sanh thành con quạ; bản trích yếu tiếp theo sau đó về câu chuyện do ngài Dhammapāla thực hiện đă không khớp với câu chuyện nguyên bản, như chúng ta có được hiện nay. [26]. Ce Be giải thích là tassaṃ c̣n bản văn Se ghi là tassa. [27]. Bahumānaṃ; chú giải Be ghi là sammānaṃ, tức là ḷng kính trọng, ḷng quí mến. [28]. Chú giải Be Se giải thích là khajjūpanakakimi (chú giải Ce ghi là khajjupaṇakakimī) c̣n bản văn lại ghi là khajjupāṇakakimi; xin đọc chú giải Ud-a 112 ở trên. [29]. Chú giải Be Se giải thích là jotati c̣n bản văn Ce ghi là joteti. [30]. Chú giải Ce giải thích là udeti, Be unnamate, Se uṇṇamati. [31]. Chú giải Be giải thích là tīsu c̣n bản văn ghi là catusu, chú giải Ce Se giải thích là catūsu; xin đọc chú giải Ud-a 98 ở trên. [32]. Unnamati; chú giải Ce giải thích là uggamati. [33]. Kaṇṭakaphalasadisā; bản dịch tiếng Thái coi đây như là một loại “quả có gai”, cũng như tự điển SED, sv kaṇṭakaphala, giải nghĩa là loại cây có tên khoa học là Artocarpus Integrifolia hay Ruellia Longifolia, nói thêm rằng “từ này áp dụng cho bất kỳ loại cây nào có quả bao quanh một lớp vỏ có lông và có gai” nhưng do tôi biết chẳng có loại quả nào lại toả sáng trong bóng tối cả, tôi nghi là ở đây kaṇṭaka có nghĩa là một loại công cụ nào đó có đầu nhọn, và phala chính là đầu nhọn của công cụ đó – điều này có thể là một so sánh khiêm tốn đối với những đốm sáng như vậy. [34]. Chú giải Be cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn Ce Se lại ghi là verocamhi; xin đọc chú giải Ud. [35]. Chú giải Ce Be Se giải thích là virocanasabhāvatāya, c̣n bản văn ghi là virocanapabhāvantatāya, liên quan đến một thực tế là nó phát ra một ánh sáng chói chang. [36]. Chú giải Be cũng giải thích giống như vậy; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua. [37]. Ce Be Se giải thích là Se; c̣n bản văn ghi titthiyānaṃ; xin đọc chú giải Ud. [38]. Tôi đoán chừng bản văn ghi là sa-maya-tejena chắc là nhầm lẫn với từ samayatejena chăng. [39]. Xin đọc chú giải Dhp 304 (trích trong Nett 11) để biết thêm chi tương tự như vậy. [40]. Be Se giải thích là atha vā c̣n bản văn Ce ghi là atha. [41]. Theo cách giải thích khác này, từ obhāsitaṃ rất có thể là từ tương đương với từ tiếng phạn avabhāṣitaṃ; ư nghĩa từ obhāsitaṃ này không thấy liệt kê trong tự điển PED, nhưng xin đọc Childers, CPD sv. [42]. Chú giải Be giải thích là jotanaṃ bālalāpanaṃ/na tato paraṃ c̣n bản văn Ce ghi là jotanaṃ na khalu tato paraṃ, chú giải Se giải thích là jotanaṃ na tato paraṃ. [43]. Chú giải Ce Be Se giải thích là takkikānaṃ c̣n bản văn ghi là titthiyānaṃ. [44]. Chú giải Be Se giải thích là Kasmā? Yasmā c̣n bản văn ghi là yasmā tasmā, chú giải Ce giải thích là tasmā. [45]. Sammāpaṭipattirahitā; hay có nghĩa là nơi những người nào đă bỏ qua không rèn luyện chân chánh [46]. Sāsana [47].Ayāthāvaladdhikatāya; từ trừu tượng của ayāthāvaladdhika. Ngài Woodward đă in sai từ này thành ayathāva-laddhi-katāya.
|
|