|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
4. GỐC CÂY ĐA Trong Kinh Phật thứ tư:[1] dưới gốc cây Ajapāla Banyan (Ajapālanigrodhe): người ta kể lại rằng những người chăn dê (ajapālā) thường hay lui tới2 và ngồi dưới bóng mát 3 cây đa, chính v́ lư do đó đă xuất hiện cùng một tên là “Cây Đa Ajapāla.” Tuy nhiên một số người lại cho rằng4, “Chính v́ có một số thầy Bà la môn cao niên, họ không c̣n khả năng tụng Kinh Phệ Đà được nữa, tất cả họ đă tụ tập tại đó sau khi đă thiết lập trú xứ có hàng rào bao quanh. Chính v́ thế tên gọi “Cây Đa Ajapāla” đă xuất hiện, trong trường hợp này ư nghĩa từ này như sau: “Những người không niệm (lẩm bẩm) thần chú” (ajapā) họ làm như vậy v́ họ không niệm (lẩm bẩm) trong miệng (na japanti), ư nghĩa ở đây là những người nào tỏ ra cẩu thả trong việc niệm (nhắc lại)5 những lời thần chú (mantras), ta gọi là ajapāla (cách sắp xếp dành cho những người không niệm mantras) việc diễn ra như vậy v́ đây là nơi những người không niệm mantras (ajapā) ổn định chỗ ở (ālenti), đeo đuổi tại một số trú xứ [2]; những người khác, ngược lại (cho rằng) v́ có những con dê (aje) đă chạy vào nơi họ cư trú lúc giữa trưa, nên đă tránh né (pāleti), bảo vệ chỗ đó, v́ có bóng râm cây Đa đó nên họ đặt cho tên gọi là “ajapāla” chính v́ thế sau này đă trở thành một qui ước 2. Trong tất cả các trường hợp3, đây là tên của một cây trong khu vực gần với cây4 này, đây là định sở cách hiểu theo nghĩa ở vùng phụ cận, tức là, Ajapālanigrodhe. Cảm nghiệm niềm an lạc giải thoát (vimuttisukhapaṭisaṃvedī): trường hợp này cũng vậy, sau khi đă ngồi thiền để quán xét Giáo Pháp và[3] cảm nghiệm niềm an lạc giải thoát. Cây này tọa lạc về phía đông2 so với hướng cây Bồ Đề; đang khi đó bảy ngày không phải là bảy ngày liên tiếp sau bảy ngày Ngài đă trải qua trong tư thế ngồi thiền kiết già. V́ Đức Thế Tôn c̣n trải qua ba giai đoạn bảy ngày khác nữa, tiếp theo sau bảy ngày Ngài đă trải qua trong tư thế ngồi thiền kiết già vẫn dưới gốc cây Bồ Đề, hiện nay vẫn c̣n câu chuyện về biến cố lịch sử này.3 Người ta kể lại rằng4 đang khi Đức Thế Tôn ngồi thiền bảy ngày liền trong tư thế kiết già, sau khi đă đạt đến Bậc A la hán Chánh Đẳng Giác. Nơi một số Chư Thiên đă khởi lên mối nghi ngờ cho rằng: “Đức Thế Tôn không thể khởi xuất; liệu có c̣n bất kỳ pháp nào5 khác [52] có khả năng dẫn đến Phật Tính hay chăng?” Giờ đây sau khi đă biết được mối nghi ngờ như vậy xuất hiện nơi các vị Chư thiên về vấn đề Ngài không thể xuất khởi chứng đắc đó, vào ngày thứ tám, Đức Thế Tôn đă bay bổng lên không trung nhằm mục đích đánh tan mối nghi ngờ nơi các vị Chư thiên đó, Ngài cũng thực hiện phép song thông, do đó khiến cho mối nghi ngờ của họ tan biến, sau đó Ngài lưu lại về phía hướng đông, hơi chếch về phía đông là nơi Ngài đă ngồi thiền trong tư thế kiết già, và rồi ngài lại trải qua bảy ngày nh́n không hề nháy mắt (vị trí nơi ngài ngồi thiền kiết già, chính là nơi ngài đă đạt thánh quả[4] A la hán trải qua cho tới bốn A tăng kỳ (kappas) và một trăm ngàn đại kiếp nữa 2 và cây Bồ đề, và ngày nay ta biết vị trí đó là ngôi chùa có tên là Animisa.3 Thế rồi ngài lại trải qua bảy ngày hàng thiền lên xuống tại một vị trí gọi là lối đi châu báu, trải dài từ phía tây sang phía đông ngay giữa vị trí Ngài đă ngồi thiền kiết già và vị trí Ngài đă dừng laị, v́ lư do đó sau này nơi đó4 có tên gọi là Bảo tháp kinh hành 5. Và kết quả điều này là6 các vị thần linh hóa phép, tại trú xứ phía tây thành một Ngôi Nhà Châu Báu[5], sau khi Ngài đă ngồi thiền kiết già trong đó, Ngài lại trải qua bảy ngày quán xét Tạng Vi Diệu Pháp, đặc biệt là tác phẩm Anantanayasamantapaṭṭhāna 2 sau này vị trí đó được biết đến với tên gọi là Ngôi Chùa Nhà Châu Báu.3 Chính v́ thế đang khi Ngài vẫn c̣n phải trải qua bốn giai đoạn bảy ngày, khi Ngài lưu lại ngay dưới gốc cây Bồ đề và vào giai đoạn thứ năm, cũng kéo dài bảy ngày như thế, Ngài đă tiến lại gần gốc cây Đa từ phía cây Bồ Đề và ngồi thiền trong tư thế kiết già ngay dưới gốc cây Đa đó. Xuất khỏi thiền đó (tamhā samādhimhā vuṭṭhāsi): thoát ra khỏi 4 khi khoảng thời gian cảm nghiệm đă hết; từ vị trí hành thiền bao gồm chứng đắc thiền quả; và hơn thế, khi Đức Thế Tôn đă ngồi thiền như vậy tại đó, sau khi đă khởi xuất, một số thầy Bà la môn liền tiến đến gặp Ngài [6] và đưa ra một câu hỏi xem v́ lư do ǵ Ngài đă đề cập đến, “Thế rồi có một người nào đó” v.v… Về vấn đề này: Một người nào đó (aññataro): một số thầy Bà la môn không thể định rơ được, không xác định bằng tên và gotra (ḍng họ) được. Thuộc ḍng “Huṃhuṅka” (huṃhuṅkajātiko2): người ta kể lại rằng, Ngài là người nhận ra một số dấu hiệu đầy hứa hẹn3 do tính tự cao tự đại và cả tin 4 xuất phát từ ḷng ngă mạn và sân hận, người đó đă đi lang thang khắp nơi bất kỳ ḍng dơi hạ liệt 5 nào nh́n thấy người đó cũng phải khiếp sợ, v́ Ngài phát ra một tiếng kêu “Hum, Hum (gầm gừ)”; chính v́ thế người ta gọi Ngài là ḍng tộc “Huṃhuṅka”. Huhukkajātiko [7] cũng là cách giải thích. Thầy Bà la môn (brāhmaṇo): thuộc ḍng tộc Bà la môn bẩm sanh. Đấng Thế Tôn (yena Bhagavā): tại2 nơi đó (yassaṃ disāyaṃ) Đức Thế Tôn đă ngồi thiền; v́ đây là sử dụng cách hiểu theo nghĩa định sở cách. [53] Hay nói cách khác vị ấy đă tiến lại nơi đó3 (tena disābhāgena), tại nơi mà (yena disābhāgena) Đức Thế Tôn đi đến. Hay nói một cách khác yena là sử dụng cách hiểu theo nghĩa nguồn gốc, nghĩa là (vị ấy) đi đến v́ lư do đó (tena karaṇena) v́ lư do mà cả con người lẫn các vị thần linh đă được gặp Đức Thế Tôn; và v́ lư do ǵ họ đă gặp được Ngài (Đức Thế Tôn) vậy? Họ đă gặp Đức Thế Tôn v́ những lư do sau: để cho tất cả chúng sanh và các vị thần linh đặt câu hỏi với Ngài và nghe Giáo Pháp v.v…v́ họ đă bị bệnh tật dằn vặt trong tâm, và đè nặng lên họ vô số các phiền năo, nhằm để cứu chữa khỏi những bệnh tật đó v́ Ngài là một thầy lang có đầy uy lực, dân chúng phải đến gặp Ngài v́ thân xác của họ bị bệnh tật do đau khổ dằn vặt, với thân bệnh hoạn, nhằm mục đích được chữa lành. Chính v́ lư do đó cả các thầy Bà la môn cũng đi đến gặp Đức Thế Tôn nhằm xóa bỏ mối nghi ngờ của ḿnh. Sau khi đă đi đến gặp Ngài (upasaṅkamitvā) là cách giải thích về tột đỉnh hành vi đi đến gần; hay nói cách khác, đây chính là ư nghĩa các vị ấy đă đi đến nơi rất gần Đức Thế Tôn, nơi gần hơn cả nơi trước đây họ đă đi đến. Trao đổi chào hỏi lẫn nhau (sammodi): trao đổi với nhau (saṃ) những lời chào hỏi gồm những lời nói thích hợp (modi): Ngài đă trở thành một nhân vật rất nhiều người đă chào hỏi thường xuyên, cả Ngài cũng trao đổi những lời chào hỏi với họ nữa[8] qua lời chào đón liên quan như sau, “Hỡi chư huynh, ta tin tưởng là các ngươi không thất vọng; ta tin tưởng các ngươi đang t́m kiếm nơi nương tựa” v.v…Có lời để chào hỏi lẫn nhau (sammodanīyaṃ): xứng đáng nhận những lời chào hỏi, thích hợp để tạo ra những lời chào hỏi như vậy, cuộc nói chuyện (kathā): câu chuyện đàm tiếu thân mật2. Đáng ghi nhớ (sārāṇīyaṃ) : đáng nhớ. Đó là điều công đức cần duy tŕ, hay đó là điều cần phải suy nghĩ đến sau một khoảng thời gian nhất định. Sau khi đă dẫn đến kết thúc (vītisāretvā): sau khi đă đi đến kết luận. Về một bên.(ekam antaṃ 3) một cách biểu thị trung tánh (phó từ); tại một vị trí, ư nghĩa là ở một vị thế sau khi Ngài đă loại bỏ sáu oai nghi ngồi thiền không đúng cách, như thể ngồi quá gần (diện đối diện) với người khác v.v…4. Sau khi đă nói điều này (etad avoca): nói ra lời khẳng định bắt đầu như sau, “Hỡi chư huynh, giờ đây” đây là điều được thốt lên, về điểm này:[9] Bao xa (kittāvatā): Đến mức độ nào. Giờ đây (nu) một tiểu từ hiểu theo nghĩa nghi ngờ, kho (không được dịch) một từ dành để lót đường bằng lời nói2. Chư huynh (bho)3 là cách nói được truyền lại tiếp theo sau 4 ngày sanh của các vị Bà la môn, có lời nói ví dụ như, “Ta được biết Ngài, là người dùng từ “chư huynh” để nói với người khác” giả như Ngài sở hữu được rất nhiều tài sản (đất đai)5 (Dhp 396=Sn 620). Gotama (Gotama) (Phật Cồ Đàm): vị ấy thưa chuyện với Đức Thế Tôn bằng tên ḍng tộc (gotra) của ngài. Nhưng bằng cách nào vị Bà la môn này, gặp Ngài lần đầu tiên lại có thể biết được tên ḍng tộc (gotra) của Đức Thế Tôn [54] vị (Bà la môn) này không phải lần đầu tiên gặp Ngài (v́ vị Bồ Tát này) đă gặp trước đó cũng như đă nói chuyện với vị Bà la môn không chỉ khi Ngài c̣n là một vị hành giả[10] đi chung với nhóm năm người khi họ chăm sóc cho Ngài trong suốt thời gian Ngài quyết định phấn đấu thực hiện khổ hạnh trong ṿng sáu năm liền. Nhưng sau này sau khi họ từ bỏ những hành vi nghi thức đó, Ngài đă đi kinh hành (hành giả) một ḿnh, không có đồng sự nào đi theo, trong khi đi khất thực tại vùng thị trấn thương mại Senāni 2 trong thị trấn Uruvelā. Chính v́ lư do đó, sau khi đă nhớ lại tên ḍng tộc (gotra) của Đức Thế Tôn như đă được nhóm ngũ nhân sử dụng trước đó, vị ấy đă nói với Đức Thế Tôn bằng chính tên ḍng tộc (gotra) của Ngài3, nói rằng. “Hỡi chư huynh4 Cồ Đàm (Gotama)”. Hay5 nói cách khác, giả sử đây là trí phổ quát, giống như mặt trời mặt trăng. Ngay cả khi ngài đă vượt qua trên bờ sông Anoma khi ngài thực hiện cuộc xuất gia vĩ đại, th́ Đức Thế Tôn đă được biết đến như là “vị sa môn Cồ Đàm (Gotama)” không cần phải t́m kiếm bất kỳ một lư do nào liên quan đến hiểu biết của ngài về ḍng tộc gotra của Ngài. Biến một người trở thành thầy Bà la môn. (brahmaṇakaraṇā) v́ họ đă công nhận một người trở thành vị Bà la môn (brahmaṇaṃ karont [11]) họ đang đào tạo một người trở thành vị Bà la môn (brahmaṇakaraṇā). Tạo hoàn cảnh cho người nào đó trở thành vị Bà la môn. Và liên quan đến vấn đề này, thông qua từ này “bao xa”, Ngài hỏi về khoảng cách nơi các hiện trạng đó một người có thể trở thành Bà la môn; và đang khi thông qua điều đó “hơn thế nữa, điều ǵ khác” Ngài đề cập đến công thức họ thường sử dụng2. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định vấn đề này đă trở thành trọng điểm 3 vấn đề Ngài đă đặt ra. Ngài đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết (Udāna) này vào thời điểm đó (tāyaṃ velāyaṃ imaṃ udānaṃ udānesi) nhưng lại không thuyết giảng Giáo Pháp về Bà la môn đó. Tại sao vậy? Liên quan đến hiện trạng (thầy Bà la môn) này không dễ dàng lĩnh hội giáo lư Phật Pháp, thí dụ như, không thể quán triệt được chân đế về Bà la môn, liên quan đến việc lắng nghe đoạn kệ này và đối với vị này, v́ vậy cùng với việc thể hiện những ân đức nơi Chư Phật.[12] Upaka, tức là Ājīvaka2. Đối với điều Đức Thế Tôn đă tuyên bố trong giai đoạn trước đó về việc Ngài đă Chuyển Pháp Luân, cũng như ân huệ ngài qui y3 Tapussa4 và Bhallika5 cũng như qui y các vị khác [13] đă lắng nghe Giáo Pháp đó, chỉ đơn thuần xử lư với những ấn tượng, mà không sử lư những asekkha, lại chỉ xử lư quán triệt mà thôi.2 V́ đó là cách mọi pháp diễn ra vậy về vấn đề này: Bất kỳ ai (đă trở thành) một vị Bà la môn (yo brāhmaṇo): bất kỳ ai có liên quan đến hiện trạng trong đó pháp bất thiện đă được diệt trừ hết, là vị Bà la môn những người nào không chế ngự được các pháp bất thiện, như người nào tạo ra tiếng “Hum, hum” và diệt trừ được hết các cấu uế v.v…liên quan đến việc người đó nhận ra (một số) dấu hiệu (được xem như có) nhiều triển vọng, chỉ công bố bậc Bà la môn và hoàn toàn do bẩm sanh. Vị Bà la môn đó, không thuộc hạng người lẩm bẩm (niệm) “Hum, hum” không tạo ra tiếng kêu “Hum, hum” có một thực tế là Ngài đă diệt trừ được hết những pháp bất thiện, không c̣n bất kỳ cấu uế nào; do chẳng c̣n vương vấn đến bất kỳ cấu uế tham dục nào nữa v.v…, [55] Tự kiềm chế qua việc Ngài đă chế ngự được tâm của ḿnh bằng cách thực hiện những việc tu luyện, hoặc giả chế ngự được tâm ḿnh bằng nhiều cách thu thúc[14] những ǵ là giới, nghiên cứu Phệ Đà đến cùng liên quan đến một thực tế là Ngài đang tiến tới, thông qua Phệ đà2 được coi như các trí tương ưng với tứ thánh đạo, đến cùng đích, đến tột đỉnh các hành và đến Níp Bàn vậy. Hay nói cách khác liên quan đến cùng mục đích3 là ba4 Phệ Đà, một người đang sống đời phạm hạnh (Brahmacariya) liên quan đến thực tế đó và cuộc sống phạm hạnh chính là thánh đạo vị ấy đang theo đuổi. Rất có thể 5 vị ấy đă tuyên xưng niềm tin6 Phạm Thiên, rất có thể vị ấy đă tuyên xưng niềm tin đó một cách chân thật và chính xác[15], tức là “Ta là vị Bà la môn” vị ấy là người không hề vượt qua này, tức là, vượt qua về tham dục, vượt qua về sân hận, về si mê, về ngă mạn, và về tà kiến, liên quan đến bất kỳ điều ǵ, ngay cả chỉ liên quan đến một đối tượng duy nhất. Ngay cả ở giữa toàn thể chúng sanh trên thế giới này.2 Ư nghĩa ở đây là Ngài là Đấng đă đoạn trừ 3 được hết những điều vượt qua này, không dư sót. Phần chú giải về Kinh Phật thứ tư kết thúc tại đây.
-ooOoo- [1]. Về những ǵ tiếp theo sau, xin đọc chú giải Vin-a 956tt. 2. Gantvā gantvā, chú giải Be ghi là gantvā 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là Chāyāyaṃ, c̣n bản văn ghi là chāyāya 4. Chú giải Be giải thích là vadanti; bản văn Ce Se bỏ sót, đang khi chúng ta nên hiểu động từ đó là “tin tưởng”. 5. Anajjhāyakā; chú giải SED sv Vedānadhyayana, v.v… [2]. Ajapā ālenti (B ghi là lanti, c̣n Se lại ghi là ālanti) ādiyanti (Ce ghi là arīyanti) nivāsaṃ etthā ti ajapālo ti. CPD khẳng định rằng āleti = ādeti, và như vậy có nghĩa giống như ādiyati. Nhưng lại không thể đưa ra được những tham khảo cho từ sv ādeti hay ādiyati. PED không ghi bất kỳ mục từ lanti hay ālanti, cả CPD cũng không ghi bất kỳ mục từ nào dành cho từ vừa nêu, nhưng việc xuất hiện vll như vậy, kết hợp với nivāsaṃ (trú xứ), cho thấy thay v́ chúng ta nên hiểu ālenti/ālayanti (= allīyanti < ālaya, trú xứ, nơi ở, nơi ẩn náo v.v…) với lanti/ālanti rất có thể sau khi đă đặt ra được một từ mới trong cách chơi chữ tuyệt vời này. DPPN i 30 lại đưa ra nghĩa sau đây như là từ nguyên thứ hai: “Các thầy Bà la môn lớn tuổi không c̣n có thể tụng kinh Phệ Đà, sống tại đây nơi những trú xứ có tường bảo vệ và hàng rào vây quanh (na japantī ti = ajapā; mantānaṃ anajjhāyakā ti = ajapā; ālenti arīyanti nivāsaṃ etthā ti = ajapālo ti)” đến đây ta vẫn chưa rơ phải hiểu ra sao về từ ālenti arīyanti. 2. Tôi đoán chừng bản văn nāmaṃ rūḷhanti đă viết sai thay v́ phải ghi là nāmaṃ rūḷhan ti, được trị v́, nếu được chấp nhận th́ cách giải thích từ vadanti trước đó như là nāmaṃ jātan ti ở trên là đúng. Rūḷha (tiếng Phạn là rūḍha) có nghĩa là một từ có ư nghĩa không trực tiếp liên quan đến từ nguyên này, đối nghĩa lại là yaugika. 3. Vẫn c̣n có bài tường tŕnh khác nữa, xin đọc Mahāvastu iii 301tt. 4. Chú giải Be Se giải thích là tassa; bản văn lại bỏ sót. Tôi chấp nhận cách chấm câu của chú giải Be. [3]. Chú giải Be giải thích là dhammaṃ vicinanto vimuttisukhañ ca paṭisaṃvedento, c̣n bản văn Ce Se lại ghi là dhammaṃ vicinanto vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedento.Vin-a ghi là dhammaṃ vicinanto yeva vimuttisukhaṃ paṭisaṃvedento. Cả hai cách giải thích này đưa ra rằng Ngài thực hiện cả hai điều này cùng một lúc đă tạo ra một quan điểm Phật Giáo nói một cách chính xác không thể chấp nhận. J i 78 lại nhầm lẫn vấn đề này bằng cách giải thích là dhammaṃ vicinanto yeva vimuttisukhañ ca paṭisaṃvedento. 2. Ce Be Se giải thích là puratthimao c̣n bản văn ghi là purimao 3. Chú giải Be Se Vin-a giải thích là anupubbikathā c̣n bản văn Se ghi là anupubbakathā. 4. Về điều tiếp theo, xin đọc chú giải J I 77tt và bản văn-a 289tt. 5. Ce Be SeVin-a giải thích là aññe pi c̣n bản văn ghi ajjā pi. [4]. Se(Vin-a) giải thích phalādhigama (na) ṭṭhānaṃ c̣n bản văn ghi là phalādhigamanaṭṭhānaṃ phalasamāpattāgamaṭṭhānaṃ. Ce ghi là puññādhigamanīyaṭṭhānaṃ phalasamāpattādhigamaṭṭhānaṃ. chú giải Be lại ghi là balādhigamaṭṭhānaṃ 2. Chú giải Ud-a 134 dưới đây. 3. Nghĩa đen, “không nhấp nháy, không chớp mắt” 4. Chú giải SeVin-a giải thích là ṭhānaṃ; bản văn Ce Be bỏ sót. 5. Ce Be Se Vin-a giải thích là Ratanacaṅkamacetiyaṃ c̣n bản văn lại ghi là Ratanacaṅkamaṃ. 6. Ce Be Se Vin-a giải thích là tato c̣n bản văn ghi là tathā [5]. Ratanagharaṃ; có điều không rơ đây có ư ám chỉ một tên riêng hay không. Jayawickrama’s (hầu như là cách dịch tự do) bài tường tŕnh Jātaka đă thêm rằng, “các thành viên Trường Phái Vi Diệu Pháp cho rằng Ngôi Nhà Châu Báu ở đây không mang ư nghĩa một ngôi nhà được xây bằng đá quí, nhưng là một nơi Ngài đă quán xét về bảy bộ Vi Diệu Pháp (Chuyện kể về Đức Phật Cồ Đàm, tr. 104). 2. Chú giải Vin-a giải thích là anantanayasamantapaṭṭhānaṃ (và Ud-a 336 dưới đây) c̣n với toàn bộ bản văn ghi là anantanayaṃ samantapaṭṭhānaṃ, đây h́nh như lại là một tên khác dành cho cuốn Paṭṭhāna, bộ thứ bảy của Tạng Vi Diệu Pháp. CPD, sv vây quanh lời dự đoán và in thành anantanayaṃ samanta-Paṭṭhānaṃ, trong khi đó Jayawickarama lại ghi là anantanayaṃ samantapaṭṭhānaṃ, trong cuốn J i 78, như là “ toàn bộ các tuyển tập về Tạng Vi Diệu Pháp với vô số các phương pháp chú giải.” (loc cit) bằng không, chúng ta phải dịch là “toàn bộ Paṭṭhāna, với vô số các phương pháp”, với danh nghĩa chú giải cũng ghi JPTS 1915, tr. 28tt. 3. Như vậy th́ địa lư vùng này h́nh như được vẽ như sau: (bản vẽ ở tr. 211) 4. Ce Be giải thích vuṭṭhahi, Se vuṭṭhāsi, bản văn ghi uṭṭhahi. [6]. Chú giải Be giải thích là taṃ gantvā (chú giải SeVin-a ghi là taṃ āgantvā) c̣n bản văn Ce ghi là gantvā. 2. Chú giải BeVin-a 957 giải thích là huṃhuṅkajātiko. 3. Diṭṭhamaṅgaliko; Chú giải (Khp-a) 118 về những loại này loại kia. 4. Chú giải Ud-a 194 cũng tương tự như vậy. 5. Chú giải Be Ce Se giải thích là avokkhao c̣n bản văn ghi là atakkao ; CPD cho là điều này không đúng v́ từ acokkha < tiếng phạn cokṣa, caukṣa, tôi đă chấp nhận gợi ư này. Điều quan hệ ở chỗ người Tây Phương nhấn mạnh quá về những đẳng cấp không thể đụng chạm tới được, không được phép làm lu mờ đi một thực chất là tại Ấn độ vẫn c̣n có những điều c̣n nghèo khó yếu đuối hơn trước, chỉ thấy cảnh những ai cứ tưởng rằng làm ô uế những điều linh thiêng và kết quả là người ta chỉ được phép ra khỏi nhà vào lúc trời đă tối hẳn. [7]. Chú giải Vin-a ghi là huhukajātiko. 2. Về điều tiếp theo, chú giải Vin-a 128tt và MA i 109tt (không phải MA 119” như Woodward đă khẳng định. 3. Hay là phương hướng. [8]. Be Se giải thích là Bhagavā’ānena so pi Bhagavatā, c̣n bản văn Ce ghi là Bhagavato vacanena modi. Bhagavatā. 2. Kathāsallāpaṃ; và như vậy đối lại với Câu Chuyện Phật Pháp v.v… 3. Bản văn ghi thêm nisīdi; Ce Be Se bỏ sót không ghi. Chú giải Pv-a 266 cũng tương tự như vậy. 4. Theo như Vin-a và MA, những người khác đang ngồi (1) quá xa; (2) quá gần; (3) xuôi chiều gió (4) tại một vị trí cao, và (5) quá xa về đàng sau, v́ những lư do đó những người này tuần tự phải nói to lên, quá khép kín, phải chịu mùi xông lên, thiếu kính trọng, và phải nhướng cao cổ lên, như thế khi ngồi quá gần đối mặt dẫn đến liếc mắt nh́n nhau. Chú giải SA ii 86, chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 117. B Disc ii 42 n 5; cũng như SA i 16 đă đưa ra nhiều cách thức liên quan đến tư thế đứng nép sang một bên xem ra có vẻ thích hợp với văn cảnh ở đây v́ vị Bà la môn (giống như các vị Chư Thiên, chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 117) lại đang đứng. 1. Chú giải Ce Be Se giải thích là tattha; c̣n bản văn lại bỏ sót. 2. Chú giải Ce Be Se giải thích là padapūraṇe c̣n bản văn lại ghi là padapūraṇo hoti. 3. Chú giải Ud-a 378 dưới đây. 4. Samudāgata; được giải thích là nibbatto (SA ii 38 về S ii 24) là āgata (Sn-a giải thích về Sn 648) là sahitassa uddhaṃ uddaṃ āgatabhāvo (Sv-pṭ 139 giải thích về DA 65 (=Ud-a 116 dưới đây). 5. Sakiñcano; Chú giải chú thích Ud-a 116 dưới đây). [10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là caramāno c̣n bản văn ghi là caranto 2. Chú giải Be ghi là Sena, chú giải Se ghi là Senā; được gọi là “trại tỉnh lỵ” trong MLS 1210. theo J i 68. Senāni là ngôi làng có một người rất giàu có tên là Senāni cư ngụ, ông là cha ngài Sujātā, đang thực hiện bố thí cơm sữa cho vị đạt đến giác ngộ. Chính v́ vậy Dhammapāla đă ám chỉ đây là giai đoạn trong sự nghiệp của vị Bồ Tát. 3. Ce Be Se giải thích là gottena c̣n bản văn ghi là gottaṃ. 4. Chú giải Ce Be Se giải thích là bho c̣n bản văn lại bỏ sót. 5. Chú giải Ce Be giải thích là yato paṭṭhāya vā…tato pabhuti c̣n bản văn Ce ghi là yato paṭṭhāya …ca tatoppabhuti. [11]. Cũng như vậy với chú giải Ce Be Se c̣n bản văn ghi là brāhmaṇakaronti. 2. Chú giải Be Se giải thích là tesaṃ sarūpaṃ c̣n bản văn Ce ghi là sarūpaṃ; ư nghĩa của từ sarūpa (cũng được t́m thấy trong Ud-a 283 dưới đây) lại không được ghi trong tự điển PED. 3. Be giải thích là sikhāpattaṃ atthaṃ (Se sikhapattaṃ atthaṃ) c̣n bản văn Ce ghi là sikhāpattaṃ, Ce sikhāpattataṃVin-a 958 giải thích là sikhāppattamatthaṃ. Theo nghĩa đen “sau khi đă đạt đến đỉnh ngọn núi”. PED không ghi mục từ nào cho từ sikhāppattaṃ cả, nhưng tự điển Childers, sv sikhāppatto, lại khẳng định theo tôi nghĩ, “Đây là điều xuất sắc nhất, điều tối thượng”, theo nghĩa đen, sau khi đă đạt đến “đỉnh cao nhọn (trên mái tháp)”. Cũng như trong SA ii 189. It-a ii 132 và Ud-a 58 dưới đây. [12]. Theo chú giải Bv-a 177 là các pháp Ba la mật (toàn vẹn); cũng như trong Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 121 (nhưng h́nh như trong MR&I 131 lại bị bỏ sót) và Ud-a 336 dưới đây. 2. Kẻ đó cũng không thể nhận ra họ chú giải Vin i 8, Trung Bộ Kinh (M) i 170tt. 3. Saraṇadānaṃ; những cách qui y đưa ra vào thời điểm này gồm có hai loại qui y v́ Tăng già, là nơi qui y thứ ba vẫn chưa xuất hiện – chú giải Vin i 4tt. Đây là điều vào thời điểm này chỉ là lokiya hay hiệp thế mà thôi. Tuy nhiên, Saraṇa có thể xuất phát từ chữ phạn là smṛ, nghĩa là nhớ lại, trong trường hợp đó ta nên hiểu saraṇdānaṃ như là ơn nhớ lại, hay là vật kỷ niệm, không giống như những ǵ ta cho rằng theo yêu cầu của họ, hai thương gia này đă nhận được những sợi tóc của Đức Phật (J i 81, Vin-a 961. AA i 383) theo truyền thống, những sợi tóc đó đă được tôn thờ tại ngôi chùa Shwe Dagon tại Rangoon. 4. Chú giải Be Se Vin i 4 giải thích là Tapussa c̣n bản văn Ce J i 80 ghi là Tapassu AA I 382 Tapassa. 5. Chú giải Ce Be Se Vin i 4, AA i 382 giải thích là Bhallikānaṃ c̣n bản văn ghi là Bhallukānaṃ; t́nh tiết được ghi lại trong Vin i 4. J i 80tt, và AA i 382tt. Đức Phật gặp thầy Bà la môn trong kinh này vào tuần thứ năm sau khi Ngài đă chứng đắc giác ngộ(chú giải ở trên), Ngài cũng gặp Tapussa và Bhallika vào tuần lễ thứ bảy. Chỉ một thời gian ngắn sau đó Ngài đă du hoá đến công viên con Nai để Chuyển Pháp Luân. [13]. Chú giải Be Se giải thích là paresaṃ, c̣n bản văn Ce ghi là padesaṃ. 2. Ba phạm trù này, tức là đối xúc phần (vāsanābhāgiyaṃ), quyết trạch phần (nibbedhabhāgiyaṃ) vô học phần (asekkhabhāgiyaṃ) tạo thành ba trong số nhiều cách trong đó có Peṭakopadesa (td: Pe 23tt)và Nettippakaraṇaṃ (td: Nett 21, 127tt) để phân loại các Kinh Phật. Cả hai bản văn này đều trích dẫn vô số các ví dụ cùng loại, ngay cả Phật Tự Thuyết hiện hành, như đă diễn ra, cũng xuất hiện trong Nett 150, được coi như là một ví dụ xử lư asekha, (và v́ lư do đó h́nh như cần thiết phải chấp nhận bản văn asekkha đối lại với tất cả các ấn bản). Vāsanā (xuất phát từ va, có nghĩa là trú ngụ) thường được cho là có nghĩa “xúc”, hiểu theo nghĩa các dấu vết nghiệp chướng, được coi như từ kiếp trước đi vào kiếp hiện tại, và từ kiếp này sang kiếp sau, và trở lại với ư nghĩa này dưới đây trong Chú Giải Phật Tự Thuyết Kệ 139=335, 193, 194, 269, 373, 374. Ñāṇamoli giải thích điều này như là “giới” cho dù có thực tế cho là ngài lưu ư rằng “những văn cảnh chứng tỏ cho thấy ư nghĩa phải được tu luyện giới (Guide, 36 n 117/4) cũng xin đọc Chú giải BHSD sv vāsana [14]. Chú giải Ce giải thích là osampattiyā (chứng đắc). Be giải thích là o saṃyamena (kiềm chế) c̣n đối với bản văn Se Vin-a lại cho là osaṃvarena. 2. Cả ba theo như Vin-a 958. 3. Chú giải Ce Be Se Vin-a giải thích là antaṃ gatattā. 4. Chú giải Vin-a chèn thêm tiṇṇaṃ; thông qua ba Phệ Đà điều này rơ ràng có nghĩa là ba minh Đức Phật đă chứng đắc vào đêm Ngài đạt đến giác ngộ, tức là:túc mạng minh, sanh tử minh và lậu tận minh (td. Trung Bộ Kinh (M) i 22tt) 5. Be Se Vin-a chèn thêm cũng như vậy chú giải. Nhưng h́nh như từ này diễn ra vào thời điểm này tại trong Phật Tự Thuyết đă bị che phủ bằng chính điều kết hợp, ngay lúc bắt đầu giải thích, với vị Brahmaṇo, tức là thầy Bà la môn vậy.” 6. Chú giải Ce giải thích là cuộc sống phạm hạnh c̣n bản văn Se Be ghi là Ud Brahmavādaṃ 1. Nāyena; Vin-a lại bỏ sót. Chú giải Vv-a 154 trong đó ñāyena tương tự như là một chú thích về dhammena; cũng như trongUd-a 234, 435 (và có lẽ 215) trong đó cũng xuất hiện một chú thích về từ sammā (trong VS 227, tôi tạm dịch là “liên quan đến hệ thống”; nhưng giờ đây nghĩ rằng cách chọn những từ này có thể dẫn đến hiểu lầm và “chính xác về học thuyết sẽ được chú trọng hơn 2. Sakalalokasannivāse; Vin-a ghi là sakale lokasannivāse.Chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 142tt dưới đây. 3. Ce Be Se giải thích là pahīṇā; c̣n bản văn ghi là pahiṇī. |
|