NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 3. GIÁC NGỘ (3)

[49] Trong (Kinh Phật) thứ ba: theo thứ tự thuận và nghịch: anulomapaṭilomaṃ = anulomañ ca paṭilomañ ca (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), ư nghĩa ở đây là không những theo thứ tự thuận như đă đề cập đến ở trên mà c̣n theo thứ tự ngược lại nữa. Tuy nhiên chắc chắn[1] việc khởi sanh cách tác ư của ngài về y tương sinh theo thứ tự thuận và theo thứ tự ngược lại đă được đề cập đến trong hai Kinh Phật ở trên, v́ vậy tại sao việc tác ư theo hai cách trên lại diễn ra 2  trong trường hợp này? Ngoài ra c̣n liên quan đến một thực tế là việc ngài tác ư chỉ diễn ra lần thứ ba nơi cả hai cách này mà thôi. Nhưng bằng cách nào ngài có thể tác ư bằng cả hai cách như vậy? một điều chắc rằng việc này không thể tạo tác ư về y tương sinh xuất hiện cùng một lúc theo thứ tự thuận và theo thứ tự ngược lại được. Ta không thể nh́n nhận một điều là ngài tác ư theo hai cách này như là một tập hợp duy nhất, nhưng chỉ có thể làm như vậy lần lượt mà thôi. V́ trước tiên, Đức Thế Tôn, sau khi đă tác ư về y tương sinh theo cách trực tiếp, mới khiến cho Kinh Udāna thứ nhất khởi sanh ăn khớp với những ǵ đă nói đến ở trên, thêm vào đó thứ nh́, sau khi đă tác ư theo cách ngược lại, ngài chỉ có thể khởi sanh Udāna khớp với điều đó mà thôi3 nhưng lần thứ ba, ngài tác ư theo thứ tự thuận, vào một dịp khác có lúc theo thứ tự thuận, khi khác lại theo thứ tự ngược lại, v́ lư do đó, trong câu, “theo thứ tự thuận và thứ tự ngược lại: anulomapaṭilomaṃ = anulomañ ca paṭilomañ ca [2] (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài), người ta cho rằng2 (ư nghĩa) không những chỉ theo thứ tự đă đề cập đến ở trên mà c̣n theo thứ tự ngược lại nữa. Theo cách thức này 3 lại xuất hiện khả năng và sức mạnh việc tác ư cũng như khả năng ngài có thể chế ngự 4 được việc này nữa: và liên quan đến vấn đề này, ta nên hiểu cách phân loại (thứ tự) này theo cách tác ư (hướng tâm5) xuất hiện như sau, tức là “Ta sẽ tác ư theo thứ tự thuận, ta sẽ tác ư theo thứ tự ngược lại, ta sẽ tác ư theo cả hai thứ tự thuận và ngược lại.”

Liên quan đến cùng thứ vô minh này: avijjāya tveva = avijjāya tu eva  (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Thông qua đoạn diệt, không dư sót, theo cách ly tham (asesavirāganirodhā): thông qua đoạn diệt, không dư sót, theo cách được coi là ly tham, ư nghĩa ở đây là thông qua đoạn trừ, không dư sót, dưới dạng bất khởi sanh, thông qua thánh đạo tối thượng. Đoạn diệt các hành (sakhāranirodho): đoạn diệt, không dư sót, dưới dạng toàn bộ các hành bất khởi sanh; v́ cho dù một số các hành có thể diệt thông qua ba thứ tự kể trên thuộc thánh đạo thấp hơn, số khác th́ không. Nhưng thông qua đoạn diệt vô minh th́ không thể đoạn tận được.[3] nhưng thông qua đoạn diệt này,2 không dư sót, theo thánh đạo tối thượng, tất cả các hành đều sẽ đoạn diệt hết.

Thẩm  định vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm định vấn đề dưới toàn bộ mọi h́nh thức, đă được đề cập đến dưới dạng tập khởi, thông qua vô minh v.v…dưới dạng toàn bộ, bao gồm cả các hành v.v…có nghĩa là đau khổ và diệt khổ đó. Thông qua tập khởi và đoạn diệt vô minh đó v.v…Khiến cho Udāna khởi sanh (ima udāna udānesi) [50] có nghĩa là khiến cho Udāna đă được khẳng định khởi sanh 3 đó chính Udāna giải thích rơ vẻ oai nghi của thánh đạo qua đó mà thánh đạo thuộc vấn đề này được xem như là tập khởi và đoạn diệt toàn bộ đau khổ, được quán xét thông qua phận sự và thánh đạo làm đối tượng.4

Trong trường hợp này, đây là ư nghĩa ngắn gọn, có điều chắc chắn rằng, khi điều này diễn ra nơi một người tinh tấn, là thầy Bà la môn đang hành thiền, vào sát na đó thầy Bà la môn làm cho đạo quân Ma Vương phải tan tác, (trở thành tan tác (vidhūpayanto[4], một h́nh thức ngữ pháp khác), tức là phải chạy tán loạn, bị phá huỷ hoàn toàn, đạo quân Ma-vương thuộc loại đă khẳng định ở trên theo phương pháp “tham dục là đạo quân đầu tiên của nhà ngươi” (Sn 436) v.v… hoặc do những điều đó dưới dạng các giác chi đă nổi lên bằng không lại do thánh đạo nhờ đó những pháp do thánh đạo dưới dạng tứ thánh đế đă xuất hiện, bằng cách nào vậy? (Giống như) mặt trời vào lúc chiếu sáng trên bầu trời (suriyo va obhāsaya antaikkha): giống như mặt trời, khi vẫn c̣n chiếu sáng trên bầu trời bằng những tia sáng chói chang, lại gieo răi bóng tối mù mịt, do đó thầy Bà la môn cũng 2 vậy, một khi đă đoạn tận mọi kiết sử nơi ḿnh, đang khi quán triệt thánh đế, hoặc do những pháp là các giác chi) hoặc là do thánh đạo,3 đă làm cho đạo quân Ma-vương phải tan tác.

Chính v́ vậy Đức Thế Tôn công bố ba lần Phật tự thuyết (Udāna) này trong suốt ba canh đă thể hiện được sức mạnh oai nghi của ngài, trước tiên đó là việc ngài nhận thức rơ ràng pháp nhân duyên gồm (mười hai thành phần), thứ hai là việc ngài thành công đoạn diệt[5] được những nhân duyên đó, và thứ ba là ngài quán triệt thánh đạo. Vào đêm nào vậy? Vào đêm thứ bảy sau khi chứng đắc giác ngộ; v́ vào đêm rằm tháng Visākhā, canh thứ nhất, Đức Thế Tôn đă đạt túc mạng minh,2 vào canh thứ nh́, ngài đă đạt thiên nhăn thông và vào canh cuối cùng ngài đă hướng trí tuệ của ngài về y tương sinh; và cuối cùng ngài đă quán triệt được toàn bộ các hành nơi cả ba cơi theo nhiều cách khác nhau, sau khi đă đạt đến A la hán và Bậc Chánh Đẳng Giác, ngài nghĩ rằng “Giờ th́ b́nh minh đang ló rạng” và ngay sau khi ngài đă chứng đắc trí toàn tri th́ b́nh minh 3 xuất hiện. Ngay sau khi ngài đă trải qua bảy ngày ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề trong tư thế kiết già, và vào đêm4 thứ bảy ngài tác ư y tương sinh trong suốt ba canh5 theo cách đă khẳng định ở trên và rồi ngài đă khiến cho ba Phật Tự Thuyết Udāna này lần lượt 6 xuất hiện.

Nhưng lại có một thực tế là như đă được lưu lại trong Khandhaka7  rằng, ngài đă tác ư theo thứ tự thuận và ngược lại về y tương sinh vào từng canh trong ba dịp đó. Ta cũng thấy được khẳng định trong tập chú giải8 Khandhaka là: sau khi đă tác ư trong suốt ba canh riêng biệt Đức Thế Tôn đă khiến cho Phật Tự Thuyết (Udāna) khởi sanh theo cách như sau, tức là Udāna đầu tiên ngài khởi sanh bằng cách quán xét lại pháp nhân duyên (mười hai yếu tố) đối với Udāna thứ nh́ ngài quán xét lại Níp Bàn và Phật Tự Thuyết (Udāna) thứ ba ngài thực hiện được bằng cách quán xét lại thánh đạo[6]; chính v́ thế ngay cả ở đây không có ai thắc mắc cả. [51] Ngoại trừ bảy ngày (ngài đă trải qua) trong ngôi Nhà Châu Báu[7], sau khi đă quán xét lại Giáo Pháp trong khoảng thời gian sáu2  bảy ngày c̣n lại, đa phần thời gian Đức Thế Tôn đă an trú trong cảm nghiệm an lạc giải thoát; trong khi đó suốt bảy ngày, Ngài trải qua trong Nhà Châu Báu. Ngài an trú tại đó bằng cách suy nghiệm thông suốt Vi Diệu Pháp.

Việc diễn giải tập Kinh Phật Giác Ngộ (Bodhisutta) thứ ba kết thúc tại đây.

                       

-ooOoo-


[1]Ce Be Se giải thích là nanu ca c̣n bản văn ghi là na nu. 

2. Chú giải Be Se giải thích là opavatti c̣n bản văn Ce ghi là opavattitā. 

3.  Chú giải Ce Be Se giải thích là eva c̣n bản văn lại bỏ sót.

[2].  Cũng như vậy chú giải Ce Be Se; c̣n bản văn lại bỏ sót.

2.  Như ở trên, do chính ngài Dhammapāla. 

3.  Be Se giải thích là iminā, c̣n bản văn Ce ghi là idam assa. 

4.  Ce Be Se giải thích là vasībhāvo ca; c̣n bản văn lại bỏ sót. 

5.  Chú giải Ce Be Se giải thích là pubbābhogāna. C̣n bản văn ghi là pubbabhāgāna.

6. Chú giải Ce Be Se giải thích là pailoma manasi karissāmi/ anulomapailoma manasi karassāmi,c̣n bản văn ghi là pailoma manasikarissāmi.   

[3]. Sāvaseva; nghĩa đen có nghĩa là c̣n dư sót.

2. Chú giải Ce Be Se giải thích là assā; c̣n bản văn ghi là assa; điều này  ám chỉ đến vô minh đă đề cập đến ở trên. 

3. Chú giải Ce Be Se giải thích là udānesī ti attho; c̣n bản văn ghi là udānesi. 

4. Thánh đạo thăm ḍ diệt bằng cách lấy Níp bàn (là điều tạo thành diệt đó) làm đối tượng – Tỳ khưu Bodhi.

[4]. Cũng như vậy đối với chú giải Ce Be Se; c̣n bản văn Vin-a ghi là vidhūpento

2.  Be Se Vin-a giải thích là pi; c̣n bản văn ghi là Ce lại bỏ sót.

3. Chú giải Be giải thích là thánh đạo (ariyamaggena, c̣n bản văn Ce Se Vin-a ghi là Maggena.

[5]. Chú giải Ce Be Se Vin-a giải thích là okhayādhigamassa. C̣n bản văn ghi là okhayāvagamassa.

2.  pubbenivāsa; chú giải lưu ư trong Ud-a 193 dưới đây.

3. Bản văn chèn thêm uggamano ’eva; Ce Be Se Vin-a lại bỏ sót.

4.  Se chèn thêm taṃ divasaṃ.

5.  Sattamāya rattiyā; Be Se sampattāya pāipadarattiyā.

6. Ce Be Se giải thích là yathākkama; c̣n bản văn lại bỏ sót.

7. Vin i 1tt.

8. Vin-a 955tt.  

[6]. Vin-a 955tt giải thích như sau đây:

“Chính v́ thế, liên quan đến vấn đề này, ta nên hiểu rằng Phật Tự Thuyết (Udāna) đầu tiên khởi sanh bằng cách quán xét lại trạng thái (mười hai đặc điểm) nơi duyên, thứ hai là phản khán níp bàn, thứ ba là phản khán thánh đạo.

Nhưng trong Phật Tự Thuyết (Udāna) người ta kể lại rằng: xuyên suốt canh nhất đêm đó y tương sinh theo thứ tự thuận đă nổi lên, xuyên suốt canh hai (cùng một thứ) y tương sinh đó lại khởi sanh theo thứ tự ngược lại, và trong suốt canh ba (cùng y tương sinh đó cũng khởi sanh) nhưng theo cả hai thứ tự thuận và ngược lại; có lời nói rằng: “Bằng cách trải qua giai đoạn bảy ngày như vậy, ngày hôm sau, ta sẽ hiện khởi từ vị trí ngồi thiền này chính về ban đêm mà ta đă khiến cho tác ư như thế hiện khởi được.” V́ trong đêm đó Đức Thế Tôn đă tác ư trong suốt canh nhất và canh hai trong từng sát na riêng rẽ bằng cách quán chiếu pháp nhân duyên theo mười hai đặc điểm, cũng như chứng đắc diệt các nhân duyên đó, mà Ngài đă làm rơ vẻ oai nghiêm Phật Tự Thuyết bao gồm trong hai đoạn kệ đầu tiên đó.

Nhưng trong trường hợp hiện nay, Ngài đă tác ư như thế vào đêm rằm; v́ vào canh nhất đêm rằm tháng Visākhā Đức Thế Tôn đă tùy niệm về trú xứ tiền kiếp của ḿnh, và ở canh hai Ngài đă chứng thiên nhăn thanh tịnh; rồi sau khi đă tác ư về y tương sinh theo thứ tự thuận và ngược lại, Ngài đă chứng đắc trí toàn tri nghĩ rằng, “Giờ th́ b́nh minh sẽ ló rạng”, và ngay sau khi đă chứng đắc trí toàn tri th́ b́nh minh đă xuất hiện; sau khi đă trải qua ngày tiếp theo đó với cùng một tư thế ngồi thiền kiết già, Ngài cũng tác ư như vậy vào chính khi đêm trăng rằm, suốt ba canh đêm Ngài đă khiến khởi sanh những tập Phật Tự Thuyết này; chính v́ thế sau khi đă tác ư trong suốt đêm trăng rằm Ngài đă trải qua trong suốt bảy đêm như vậy, ta nghe nói về giai đoạn bảy ngày tác ư đó như sau, “ Thế rồi Đức Thế Tôn đă ngồi nhập thiền trong ṿng bảy ngày liền trong tư thế ngồi kiết già ngay dưới gốc Cây Bồ Đề.”

Có một thực trạng h́nh như cả ngài Buddhaghosa lẫn ngài Dhammapāla đều băn khoăn đó là, cho dù các Phật Tự Thuyết cùng loại đă xuất hiện trong bản tường tŕnh Luật Tạng (Vinaya), đoạn văn trên lại mô tả Đức Phật sau khi đă tác ư y tương sinh theo thứ tự thuận và ngược lại trong từng ba canh đêm riêng rẽ. Chính v́ thế cả hai vị chú giải đều thừa nhận rằng các bài tường tŕnh Luật Tạng (Vinaya) và Phật Tự Thuyết (Udānas) đều ám chỉ những giai đoạn thời gian riêng rẽ, họ cho rằng: giai đoạn đầu tiên ám chỉ thời điểm ngay sau khi chứng đắc giác ngộ Ngài đă trải qua ngày đầu tiên vẫn trong tư thế kiết già, vào đêm kế tiếp (đêm trăng rằm -  pāipada, tiếng Phạn là pratipad) Ngài tác ư y tương sinh theo thứ tự thuận và ngược lại, mỗi canh trong suốt ba canh đêm đó, sau đó Ngài c̣n ngồi thiền trong bảy ngày nữa trước khi đến thăm Ajapāla Banyan, như đă mô tả trong Kinh Phật kế tiếp, trong khi đó t́nh tiết được ghi lại trong tập Phật Tự Thuyết lại diễn ra ngay vào thời điểm bảy ngày đó,có nghĩa là: vào đêm thứ bảy sau khi Ngài đă chứng đắc giác ngộ và vào đêm ngay sau đó Ngài đến thăm Ajapāla Banyan, h́nh như điểm này cũng đă  được chấp nhận trong chú giải Ud-a 207 dưới đây. Vẫn c̣n nhiều điều chưa được thỏa măn với cách giải quyết nêu trên, quả nhiên vẫn chưa đánh tan hết nghi ngờ, và điều này thuộc trách nhiệm một phần nơi vll đă được lưu ư trước đó.   

[7].  Chú giải Ud-a 52 dưới đây

2. Chú giải Ce Be Se giải thích là chasu, c̣n bản văn lại ghi là chisu.