NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2 GIÁC NGỘ (2)

Trong phần thứ hai: theo thứ tự ngược lại (paṭilomaṃ) : Cùng [1] pháp thập nhị nhân duyên, bắt đầu với vô minh v.v… đă được đề cập đến theo cách như sau, “Nhờ đoạn diệt vô minh”, th́ các hành cũng bị đoạn diệt”, đó chính là đối với đoạn diệt dưới h́nh thức bất khởi sanh, được nói đến “theo thứ tự ngược lại” (paṭiloma), do việc không thực hiện được phận sự nó 2 phải thực hiện; hay3 nói cách khác, điều “theo thứ tự ngược lại” (paṭiloma) liên quan đến thứ tự trái ngược (vilomanato) đối với điều đă diễn ra; [47] thực tế được đề cập đến theo thứ tự ngược lại không thể giải thích được,4  liên quan đến vấn đề này, theo bất kỳ ư nghĩa nào khác hơn là ư nghĩa này, liên quan đến một thực tế là điều ǵ không được nói đến5 bằng cách tạo ra điều đó đạt đến khởi đầu sau khi đă bắt đầu từ cuối hay từ giữa trở lên. Và paṭilomaṃ (theo thứ tự ngược lại) là một cách chỉ định trạng từ trung tính như trong, “visamaṃ, không bằng phẳng) trong câu, “mặt trời và mặt trăng quay theo quỹ đạo không đều .” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 74tt) v.v… Điều này không có mặt, th́ điều kia cũng không có mặt (imasmi asatī ida na hoti): nguyên nhân như thế, nếu vô minh v.v… không thể có mặt một khi được diệt trừ nhờ thánh đạo, thánh quả; như thế các hành v.v…, sẽ không thể có mặt, th́ cũng không thể diễn ra; điều này bị đoạn diệt th́ điều kia cũng bị đoạn diệt.(imassa nirodhā ida nirujjhati): nhờ các nhân vô minh v.v…đoạn diệt thông qua một thực tế được tạo ra, thông qua thánh đạo; để gia nhập vào pháp không khởi sanh. Thánh đạo này, như thế các hành v.v…được đoạn diệt, ư nghĩa không diễn ra. Cũng trong trường hợp này chúng ta nên hiểu rằng [2] chính v́ với câu, “điều này có mặt điều kia cũng có mặt, nhờ điều đó khởi sanh điều này cũng xuất hiện.”, liên quan đến vấn đề, có điều chỉ ra cho thấy rằng, điều chắc chắn ngầm chứa hiệu quả như sau, “chỉ với điều này có mặt, điều kia không phải không có mặt, chỉ do điều này khởi sanh, không phải điều kia đoạn diệt. Chính v́ thế 2 cũng có điều chỉ rơ rằng, liên quan đến vấn đề này đây chính là điều chắc chắn ngầm hiểu như vậy, tức là chỉ do điều này không có mặt, điều kia không có mặt, chỉ do điều này đoạn diệt, điều kia không khởi sanh. Điều c̣n lại phải được nói đến liên quan đến vấn đề này ta nên hiểu như là một kết quả tất yếu về cách giải thích được đề cập đến trong cách chú giải về kinh Bodhisutta đầu tiên. Chính v́ thế, sau khi đă ngắn gọn chỉ ra cho thấy cách thức trong đó Đức Thế Tôn tác ư y tương sinh theo thứ tự ngược lại. Ta có thể nói tiếp như sau, “Qua đoạn diệt vô minh, các hành cũng đoạn diệt.” v.v…để giải thích thêm chi tiết về điểm này ta có:

Thông qua đoạn diệt vô minh (avijjānirodhā) : thông qua đoạn diệt vô minh, không dư sót, do thánh đạo, ư nghĩa ở đây là qua đoạn diệt tận gốc rễ hoàn toàn vô minh do thánh đạo tối thượng bằng cách diệt trừ những tuỳ miên, ngay cả nếu như diệt trừ do thánh đạo bậc thấp, th́ ta cũng đă đoạn diệt được vô minh qua cách đoạn trừ tuyệt đối tận gốc rễ, tuy nhiên điều đó vẫn không phải là diệt trừ mà không dư sót. V́ vô minh lại dẫn tới những hiện trạng tiêu hoại đă được diệt trừ thông qua thánh đạo đầu tiên. Tương tự như vậy (lại nữa) trên cơi đời này vô minh đó chỉ tạo thành nhân duyên khởi sanh chỉ một lần duy nhất, và trên lănh vực phi thánh xuyên suốt (tam giới) vô minh đó cũng được diệt trừ lần lượt[3] thông qua đệ nhị và đệ tam thánh đạo;  chớ không c̣n bất kỳ loại vô minh nào khác. V́ chỉ thông qua thánh đạo A la hán ta mới có thể diệt trừ được vô minh này2 mà không dư sót. Đoạn diệt các hành (saṅkhāranirodho):  lại có loại đoạn diệt dưới dạng bất khởi sanh nơi các hành. Chính v́ thế, sau khi nói rằng, “qua đoạn diệt các hành, tiếp theo thức cũng đoạn diệt3 luôn” v.v… Chính v́ thế đoạn diệt một tập hợp lớn đau khổ mà thôi.” Điều được đề cập đến để chỉ ra cho thấy,  “Thông qua đoạn diệt các hành, sau khi thức cũng đoạn diệt luôn và thông qua đoạn diệt thức v.v… th́ đến lượt danh và sắc v.v…cũng đoạn diệt theo. Về điểm này, ta phải đề cập đến điều đó theo cùng một cách như đă khẳng định ở trên. Hơn thế nữa, liên quan đến vấn đề này, cho dù đoạn diệt không dư sót, toàn bộ đó lại là đau khổ phải được nói đến ở mức độ này, tức là. “Thông qua đoạn diệt vô minh, các hành[4] cũng đoạn diệt, thông qua đoạn diệt các hành th́ kéo theo đoạn diệt thức” [48] tuy nhiên chính v́ trường hợp y tương sinh theo thứ tự thuận “có nhân lại là vô minh, các hành được tác thành….việc khởi sanh tập hợp này chỉ là đau khổ mà thôi.)” điều này được nhắc đến nhằm mục đích chỉ rơ một thực tế đó là: điều này điều nọ xuất hiện là kết quả của một duyên sẽ không thể đoạn diệt 2 được và vẫn xuất hiện, liên quan đến điều này điều nọ vẫn tiếp tục hiện hữu như là kết quả của một nhân duyên, chính v́ thế, trong trường hợp này, trái với điều này là, “thông qua đoạn diệt vô minh, th́ các hành cũng đoạn diệt, lại thông qua đoạn diệt các hành th́ đến lượt thức cũng đoạn diệt luôn” cũng có cả đoạn diệt toàn bộ đau khổ nữa” mà ta đề cập đến nhằm mục đích chỉ ra cho thấy trong trường hợp thiếu vắng nhân tố tạo thành nguyên nhân[5] và khởi sanh như là nguyên nhân đoạn diệt, lại không diễn ra với tư cách là y tương sinh theo thứ tự thuận, với mục tiêu để chỉ định đoạn diệt toàn bộ đau khổ thuộc ba thời, ta cũng 2 nên hiểu rơ cách phân biệt này, đoạn diệt là kết quả do thánh đạo đem lại được chấp nhận như là (đoạn diệt) toàn bộ tức là đau khổ vẫn c̣n có khả năng khởi sanh trong tương lai, nhưng lại không có khả năng khởi sanh thánh đạo được.

Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā): việc thẩm định, dưới mọi h́nh thức vấn đề này đă được đề cập đến dưới dạng có mặt, thông qua đoạn diệt vô minh v.v… th́ đoạn diệt toàn bộ, bao gồm các hành v.v… lại chính là đau khổ. Làm khởi sanh Udāna (ima udāna udānesi) có nghĩa là làm khởi sanh, khi ta đă quán xét vấn đề này với Udāna nhằm mục đích giải thích vẻ uy nghiêm giác ngộ diệt trừ các nguyên nhân vô minh của ngài v.v… như vậy thông qua việc làm thể hiện bằng lời khẳng định, “nhờ đoạn diệt vô minh, các hành cũng đoạn diệt.”

Trong trường hợp này, đây là ư nghĩa ngắn gọn, Chính v́ ngài đă quán xét, ngài đă hiểu rơ, đă quán triệt, việc diệt trừ các nguyên nhân3, như vô minh v.v… được xem như đoạn diệt dưới dạng bất khởi sanh, chính v́ thế những pháp dưới dạng các giác chi thuộc loại đă khẳng định sẽ xuất hiện, nổi lên, hay nói cách khác những pháp dưới dạng tứ thánh đế được thể hiện; đối với thầy Bà la môn này một người rất tinh tấn hành thiền theo như những ǵ đă được khẳng định. Hơn thế nữa, toàn bộ những nghi ngờ đó, chấp nhận những cách phân loại[6] vừa mới khẳng định ở trên, rất có thể nó2 đă khởi sanh liên quan việc ngài đă không quán xét đoạn diệt các nhân duyên một cách thích hợp, tan biến đi và diệt. Điều c̣n lại giống như cách đă được khẳng định ở trên.

Việc chú giải về Kinh Bodhisutta thứ nh́ kết thúc tại đây.

 

-ooOoo-

 

[1]Chú giải Ud-a 37 ở trên.

2.  Attano; cũng như vậy đối với tất cả các bản văn khác –  chú giải Ud-a 37 ở trên.

3.  Chú giải Ce Be Se giải thích là vā. C̣n bản văn ghi là va.

4.  Chú giải Ce Be Se giải thích là pailomatā na yujjati c̣n bản văn ghi là paṭilomato na yuñjati. 

5.  Chú giải Be Se giải thích là avuttattā c̣n  bản văn Ce ghi là vuttattā.  

[2]. Chú giải Ce Be Se giải thích là veditabbaṃ c̣n bản văn Ce ghi là veditabbā.

2. Chú giải Be Se giải thích là dassitā eva imasmi c̣n bản văn Ce ghi là dassitā eva. Imasmi  

[3]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yathākkama.C̣n bản văn ghi là yathākamma.

2.  Chú giải Be Se  giải thích là sā; c̣n  bản văn Ce lại bỏ sót.

3. Chú giải Ce Be Se giải thích là viññāanirodho, c̣n bản văn ghi là viññāanirodhā.   

[4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Sakhāranirodho; c̣n bản văn lại bỏ sót. 

2. Chú giải Be Se giải thích là na nirujjhati c̣n bản văn Ce ghi là uppajjati, là nổi lên, khởi sanh.  

[5].  Chú giải Be Se giải thích là paccayadhammassa c̣n bản văn Ce ghi là paccayassa.

2.  Chú giải Be Se giải thích là ayam pi, c̣n bản văn lại bỏ sót.

3.  Chú giải Be và Ud giải thích là paccayāna, c̣n bản văn Se Ce ghi là paccayadhammāna.  

[6].  Chú Giải Phật Tự Thuyết Kệ 44 ở trên.

2. Chú giải Be Se giải thích là atha yā c̣n  bản văn Ce ghi là athavā.