|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
CHƯƠNG MỘTGIÁC NGỘ
1. Giác Ngộ (1) [6] Liên quan đến vấn đề này, giờ đây[1], evaṃ (như vầy), nội trong nguồn tư liệu này, chính là “Chính v́ vậy đây là điều ta đă nghe.” v.v…, một từ gồm có tiểu từ, me (do ta) v.v… là các từ bao gồm các biểu hiện riêng. Đang lưu lại tại Uruvelā (Uruvelāyaṃ viharati): liên quan đến vấn đề này, vi là một từ gồm có một tiếp đầu ngữ, harati một từ gồm một động từ[2] hữu hạn, ta nên hiểu với cùng một phương pháp như trên ta có sách sắp xếp các từ[3] trong mọi t́nh huống. Tuy nhiên liên quan đến ư nghĩa các từ đó, trước tiên chúng ta phải chấp nhận cách phân loại này thành vô vàn ư nghĩa, từ evaṃ có thể hiểu như là một so sánh, cách truyền đạt, việc chấp thuận, Lời Đức Phật chỉ trích, cách chấp nhận lời Đức Phật công bố, là một hiện trạng, chỉ ra cho thấy, lời Đức Phật khẳng định dứt khoát, là một câu hỏi, là ư nghĩa của từ “điều này” và là biện pháp xử trí[4] v.v… điều này đă được truyền lại (cho chúng ta) thí dụ như: (a) Liên quan đến cách so sánh, như trong câu “(Chính v́)…thế nên (evaṃ) phàm là con người, một khi đă được sanh ra, ta phải thực hiện muôn vàn hành vi khôn khéo (Dhp 53[5]) v.v…; (b). Liên quan đến việc truyền đạt, như trong câu, “Chính v́ (evaṃ) nhà ngươi phải lên đường, v́ thế nhà ngươi cũng phải quay trở lại[6]” ( Trung Bộ Kinh (M i 460) v.v...; (c) Liên quan đến việc chấp thuận[7] như trong câu “Ôi Đức Thế Tôn, điều này hẳn phải là như vậy (evaṃ), Ôi ngài Sugata, điều này hẳn phải là như vậy” ( Tăng Chi Bộ Kinh (A i 192) v.v…; (d) Liên quan đến lời Đức Phật chỉ trích, như trong câu, “Ngay cả như thế (evaṃ eva[8]) đối với người bị ruồng bỏ, nơi này nơi khác, ta hăy công bố lời đức Phật khen ngợi vị sa môn cạo trọc đầu này” ( S. i 160) v.v…; (e) Liên quan đến[9] việc chấp nhận lời Đức Phật công bố, “Các vị Tỳ khưu đó đă đồng ư với Đức Thế Tôn nói rằng. “Mong rằng được như vậy, hỡi Đức Thế Tôn (M i 1) v.v…; (f) Liên quan đến một hiện trạng, như trong câu, “Hỡi Đức Thế Tôn chính v́ vậy, ta đă hiểu rơ Phật Pháp ngài đă giảng dạy cho ta” (Vin ii 26; M i 258) ’ (g) Liên quan đến việc chỉ vẽ cho, như trong câu, “Hỡi thầy Bà la môn trẻ tuổi, hăy ra đi và tiến lại gặp vị sa môn Ānanda và khi nhà ngươi đă tiến lại gặp ngài, hăy nhân danh ta mà hỏi xem vị sa môn Bà la môn đă thoát khỏi mọi phiền muộn chưa, thoát khỏi mọi triền cái chưa, là người có thân xác nhẹ nhàng, khỏe mạnh, di chuyển thoải mái [10] nói rằng, “Thầy Bà la môn trẻ tuổi, tên là Subha Todeyyaputta, đă t́m kiếm vị sa môn Ānanda tốt lành, người đă thoát khỏi mọi phiền muộn, thoát khỏi mọi trở ngại, có thân h́nh nhẹ nhàng, mạnh mẽ, di chuyển đây đó rất thoải mái; và v́ vậy (evaṃ) nhà ngươi cũng phải nói rằng: “Người ta nói rằng. Chính do ngài thật tốt lành, v́ ḷng thương xót, mà tiến lại trú xứ của thầy Bà la môn trẻ tuổi, tên là Subha Todeyyaputta.” (D i 204) v.v…; (h) [7] liên quan đến Lời Đức Phật khẳng định dứt khoát,[11] như trong câu, “Hỡi Kālāmas, nhà ngươi nghĩ ǵ về điều này? Phải chăng là những điều thiện hay điều bất thiện vậy? Bạch Đức Thế Tôn chỉ toàn là “điều bất thiện thôi”, “là điều đáng khiển trách hay không chê vào đâu được? là điều đáng khiển trách, thưa Đức Thế Tôn, là những điều nhờ đó người thông minh sẽ mắng nhiếc ta hay người đó sẽ khen ngợi ta? là những điều người thông minh sẽ mắng nhiếc ta, bạch Đức Thế Tôn”, “ Khi ta đă tiến hành và thực hiện, liệu có dẫn đến hay không dẫn đến tổn hại, dẫn đến đau khổ chăng? Điều đó đối với nhà ngươi[12] sẽ ra sao liên quan đến vấn đề này? “Thưa Đức Thế Tôn, khi bị ảnh hưởng và thực hiện, sẽ dẫn đến thiệt hại to lớn và dẫn đến đau khổ. Chính v́ thế (evaṃ) điều này đă xảy đến với chúng ta liên quan đến vấn đề này. (A i. 190) v.v… (i) Liên quan đến[13] một câu hỏi, như trong câu, “Chính v́ vậy (evaṃ) hăy thực thiện những điều này[14], tắm rửa sạch sẽ, hăy xức dầu thơm, tỉa tóc và râu cho gọn gàng, hăy trang điểm với ṿng hoa và đồ trang sức… có được chăng? (D i 104) v.v…; (j) Hiểu theo nghĩa của từ “điều này” (idaṃ) như trong câu, (hay bất kỳ) muôn vàn nghề nghiệp thủ công đều có một khác biệt như vậy (evaṃgatāni)” (D i 51) và “thuộc một loại như vậy (evaṃvidho), thuộc kiểu dáng[15] như vậy (evamākāro)” ( [16] ) v.v…đối với từ gata [17] (đa dạng phong phú) lại là một từ đồng nghĩa với từ pakāra (loại), cũng như các từ vidha (hạng) và ākāra (loại), trần tục. Thí dụ như, việc thốt lên các từ ovidha, oyutta và ogata [18]…. (k) Liên quan đến biệt pháp xử trí (measure) như trong câu, “Chính v́ thế (evaṃ), hăy nhanh chóng thay đổi” (A i. 10) và “liên quan đến tuổi thọ dài đến như vậy (evaṃ) (D i. 13) v.v… Thật vậy liên quan đến vấn đề này, từ evaṃ tức là, “Evaṃ vitakkitaṃ no tumhehi” ([19]) (và) “đối với một dạng tuổi thọ dài đến như thế” (D i. 13) cùng một ư nghĩa trước đó thuộc một hiện trạng (ākāra), liên quan đến một thực tế đây là hiện trạng đặt câu hỏi và hiện trạng đo lường[20] đă được diễn tả thông qua cách diễn tả của từ evaṃ đó chăng? Không phải (vậy đâu) trong thực tế chỉ liên quan đến việc đây chính là một hiện trạng[21] đặc biệt mà thôi. Liên quan đến vấn đề này, do việc hàm ư ở đây đó là từ evaṃ [22] một khi mang ư nghĩa là một hiện trạng, chỉ là một từ diễn đạt hiện trạng duy nhất mà thôi. (ākāramattavācako), trong khi đó trong câu, “Chính v́ như vậy (evaṃ) v.v…[23] lại là một từ diễn tả một hiện trạng [24] đặc biệt mà thôi (ākāravisesavācako) [đúng như nguyên văn[25]] đang khi các từ này[26] là những thí dụ điển h́nh đối với từ evaṃ khi từ này diễn tả một hiện trạng đặc biệt (ākāravisesavācino), liên quan đến một thực tế là hiện trạng đặt câu hỏi và hiện trạng biện pháp xử trí chúng diễn tả[27] và chính bằng cách giả định như vậy thế nên đây là điểm phải được chứng tỏ và cách so sánh[28] như trong câu, “Chính v́ thế (evaṃ) đă làm người một khi đă sanh ra” v.v…đă được phân tích[29].V́ vấn đề này, tức là, “Chính v́ từ một đống hoa, người ta có thể thực hiện biết bao nhiêu ṿng hoa, chính v́ vậy (evaṃ) đă là thân phận con người, một khi đă được sanh ra, phải thực hiện cho bằng được biết bao nhiêu việc thiện” (Dhp 53). [8] Đống hoa và những ṿng hoa, trong mối tương quan này, lại đưa ra một kiểu so sánh hiểu theo nghĩa cố gắng nỗ lực nơi [30] một người, trong đó liên quan đến mối liên kết với các phẩm chất đặc biệt do đặc tính lộng lẫy và hương thơm v.v… việc thực hiện dồi dào các hành vi công đức do thân phận[31] là con người – v́ tự bản chất con người phải chết[32] – tương tự như những bó hoa làm thành những ṿng hoa[33]; chính do đặc tính một tập hợp tạo thành nguyên nhân việc thực hiện các hành vi công đức bằng việc bố thí v.v…tức là việc khởi sanh là con người, do khả năng trở thành sappurisa[34], lắng nghe chánh Pháp, chú tâm có phương pháp và chứng đắc thành công v.v…[35] điều đó tượng trưng bằng những bó hoa[36]. Hiện trạng so sánh trước tiên được đề cập đến một cách không hạn chế [37] bằng cách sử dụng từ yathā (chính v́); tiếp theo sau đó cũng được đề cập đến một cách không hạn chế bằng từ evaṃ (chính v́ thế). Điều này đă được truyền lại liên quan đến việc so sánh” (Chú Giải Phật Tự Thuyết, Kệ 6) cũng đă được đề cập đ |