NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

4. DƯỚI ÁNH TRĂNG RẰM

Trong Kinh Phật thứ tư: tại Kapotakandarā (kapotakandarāya): tại thiền viện có tên như vậy: người ta kể lại rằng có rất nhiều chim bồ câu (kapota) ở kiếp trước đă cư trú trong thung lũng giữa thung lũng ngọn núi[1] (kandarā) có tên gọi là “Kapotakandarā”. Sau này Thiền Viện được xây ở, đă trở nên rất nổi tiếng, chỉ đơn giản với tên gọi là “Kapotakandarā”[2] v́ lư do đó có lời nói rằng,  “Tại Kapotakandarā (Kapotakandarāya): tại thiền viện có tên gọi như vậy[3]. Vào ban đêm, dưới ánh trăng (juhāya rattiyā): một đêm nọ[4] nhằm vào đêm rằm trăng sáng. Đầu của ngài vừa mới xuống tóc (navoropitehi kesehi) với đầu tóc không dài lắm và vừa được cạo sạch sẽ (ohāritehi);  và đây lại là sử dụng cách số ít. Ngay ngoài trời (abbhokāse): nơi đó ở trên cũng như xung quanh[5] không có ǵ che chắn cả ngay bên trong chiếc sân rộng, chính v́ thế ta gọi là ở ngoài trời[6] Về điểm này, vị Trưởng lăo Sāriputta có nước da óng vàng. Vị Trưởng lăo Mahāmoggallāna có nước da màu xanh uppala[7]. Hơn thế nữa cả hai vị đại Trưởng Lăo này ngay bẩm sanh đă là thầy Bà la môn xuất thân từ vùng tây bắc[8]. Họ là những người có đại nguyện được minh chứng đă đạt đến thành công[9] trong một A Tăng kỳ cộng thêm một trăm ngàn kiếp, ngoài ra các ngài cũng được cho là đă có được toàn bộ sáu Phép Thần Thông và đă thiền chứng bốn đạt thông, các ngài là hai trong số các Đại đệ tử (Đại thinh văn), đă đoạn tận[10] được hết mọi phiền năo nơi bản thân ḿnh, các ngài cũng đă chiếm được toàn bộ mọi[11] thiền chứng tột đỉnh thuộc sáu mươi bảy trí ba la mật (cần thiết để có thể tái sanh) thành một thinh văn (sāvaka)[12] và có thể làm ngôi thiền viện Kapotakandarā này toả sáng giống như hai vầng trăng hai mặt trời lưu lại[13] cùng một nơi trên bầu trời, hay như thể cả hai đều giống như hai mănh chúa sơn lâm (sư tử) đi vào cùng một hang động bằng vàng nóng chảy; giống như hai chú sư tử so hàng trên cùng mức khởi động[14] hoặc giả giống như hai cỗ Long Tượng (voi) Chaddanta nāga[15]cùng bước vào một khu rừng sala xum xuê cành lá, hoặc giả các ngài c̣n giống như hai vị vua supaṇṇa cùng tiến vào một cánh rừng sumbali[16] hay giống như hai Vessavaas cùng bước lên một cỗ xe Naravāhana[17] hoặc giả các ngài trông giống như hai Dạ Xoa (Sakkha) ngồi trên ngai vàng Paṇḍukaṃbala làm bằng đá quí, [245] hoặc giả các vị c̣n giống như hai vị đại Phạm thiên [Harita][18] đang tiến vào cùng một Thiên Cung (vimāna). Đối với những điều vừa kể trên, vị Trưởng lăo Mahāmoggallāna đang ngồi thiền trong thinh lặng, ngược lại Trưởng lăo Sāriputta đă thiền chứng giác ngộ, v́ lư do đó có lời nói rằng, “sau khi cả hai đă nhập một số  thiền định”. Về điểm này:

Sau khi đă nhập  một số thiền định (aññataraṃ samādhi samāpajjitvā): việc thiền chứng chính là Vô Lượng Tâm (brahmavihāra) xả. Một số người lại khẳng định rằng đây chính là thiền chứng đồng nghĩa với thiền diệt thọ tưởng và những ǵ cảm nhận được. Ngược lại một số người khác lại khẳng định rằng đây chính là thiền chứng thiền quả dựa trên một số các pháp[19] vô sắc. V́ chỉ có ba thiền này mới có khả năng bảo vệ được thân. Về điểm này, khả năng chánh định (samādhi) chỉ là một từ đồng nghĩa với “thiền diệt” đă được đề cập đến ở trên[20]; trong khi chính các vị Giáo Thọ (Acariya) cũng đă b́nh luận về những điểm ta vừa đề cập đến.[21]  Đang từ hướng nam tiến vào từ hướng bắc (uttarāya disāya dakkhia disa gacchanti): đang đi tới từ hướng nam giống như đă tiến vào hướng bắc, là chính cơi riêng của ḿnh sau khi đă đến tham dự một cuộc họp với các dạ xoa (yakkhas) từ phương bắc tới. Một vài điều lôi cuốn ta (paibhāti ma) có một số điều tự bày ra trước mắt ta (mama[22]); v́ từ maṃ ở đối cách hiểu theo nghĩa sở hữu cách liên quan đến việc liên kết với từ (tiếp đầu ngữ) paṭi; có nghĩa là tư duy nổi lên nơi ta. (me) là tống cho người này một cú vào đầu. Người ta kể lại rằng nơi kiếp trước, người này đă tỏ ra oán giận vị Trưởng lăo đó, v́ lư do đó mà tư duy thuộc loại đó đă nổi lên nơi ngài, giống như điều làm ô nhiễm tâm, khi vừa nh́n thấy vị Trưởng Lăo. Mặt khác, vị Trưởng Lăo lại thuộc ḍng dơi đầy đủ tuệ giác. Chính v́ thế, cố gắng không thực hiện cú tống này đă kêu lên “Ôi, bạn hữu của ta ơi” v.v…Về điểm này.

Xin đừng ra tay (mā āsādesi): xin đừng giáng đ̣n, xin đừng tống người đó là điều được đề cập tới ở đây. Kiêu kỳ (uāro): có những ân đức đặc biệt về giới (morality) thuộc loại hảo hạng, tuyệt vời nhất v.v…Không chú ư tới (anādiyitvā): không quan tâm, không chấp nhận lời khuyên của ngài[23]. Hơn thế nữa v́ một người không chấp nhận lời khuyên của ngài được coi như là không chú ư lắng nghe ngài, chính v́ thế “Không ghé tai nghe lời dạ xoa (yakkha) đó” là điều được nói tới ở đây. Tặng một cú tống vào đầu (sīse pahāra adāsi): tặng một cái vỗ nhẹ[24] lên đầu đang khi đó ngài vẫn c̣n lơ lửng trên không, sau khi đă cố gắng với hết sức b́nh sinh của ḿnh, nghĩa là thoi vào đầu (Trưởng lăo Sāriputta). Và đây là điều này quá to lớn (tāvamahā): và thông qua sức mạnh[25] to lớn của ngài, một cú tống vào đầu như vậy.[26] Với cú thoi đó (tena pahārena): với cú tống đó đă trở thành nguyên nhân (tạo ra điều đó). Vào khoảng bảy ratana (sattaratanaṃ): bảy ratana do một ratana là chiều cao một người trung b́nh[27]. Một măng xà (nāga)[28]: một cỗ long tượng (voi)[29]. Một người có thể nhấn ch́m (osādeyya): [246] một người có thể làm ch́m nghỉm (osīdāpeyya, một dạng ngữ pháp khác) có thể tạo giáng lâm (nhảy xuống) vào cơi thế giới. Osāreyya (một người có thể tạo cho lao tới)[30] cũng là một cách giải thích, nghĩa là người đó có thể diệt trừ.[31] Một người cao khoảng bảy ratanas rưỡi (aḍḍhaṭṭhamaratanaṃ): Bảy ratana rưỡi là kết quả do tám ratanas[32] khi được thêm vào một nửa ratana nữa. “Một trong số bảy ratana rưỡi là như vậy v́ bảy ratana rưỡi là chiều cao của ngài, con người đó cao bảy ratanas rưỡi. Một ngọn núi lớn (mahantaṃ [33]pabbatakūa): một ngọn núi (giri) đồ sộ (vipulaṃ [34]) thuộc ngọn Kelāsa.[35] Ta có thể tách ra (padāleyya): người ta có thể tán thành từng mảnh vụn nhỏ. “Chúng ta không những chỉ (api) nhận ch́m xuống[36] nhưng c̣n (api) c̣n có thể tán thành mảnh nhỏ” là điều muốn ám chỉ ở đây và ngay tức khắc cơ thể ngài đă bị sốt nặng; ngài đă không c̣n khả năng lưu lại trên không. Chán ngấy do cảm thọ; ngài rơi xuống đất và cùng lúc đó trái đất vĩ đại dầy khoảng hai trăm ngàn do tuần (yojanas) kèm theo đó với bốn vô số lượng (myriads). Như thể phải nâng đỡ cả dẫy núi Sineru, thống lănh các ngọn núi. Với chiều cao khoảng một trăm ngàn Do tuần (yojanas), cộng với sáu mươi tám ngàn do tuần (yojanas) nữa, đă mở ra, giống như thể không c̣n khả năng chứa đựng chúng sanh bất thiện nữa. Các ngọn lửa xuất phát từ các hoả ngục A Tỳ Avīci nổi lên, bao trùm lấy người đó cho đến khi bị vây quanh[37] hết mọi phía, gây ra tiếng ŕ rào rồi rơi vào hỏa ngục đó. V́ lư do đó có lời nói rằng “Và thế là dạ xoa (yakka) rơi ngay xuống địa ngục Niraya vĩ đại, nói rằng “ta đang bị thiêu đốt. Ta đang bị thiêu rụi đi!”[38] Về điểm này:

Rơi xuống: apatāsi [39] =  apati (một dạng ngữ pháp khác). Nhưng tại sao ngài phải rơi xuống hỏa ngục trong lúc ngài c̣n là một dạ xoa (yakkha)? Ngài đă không ra đi. Liên quan đến vấn đề này.[40] Thông qua sức mạnh một hành vi bất thiện mà ngài phải trải qua những điều kiện như vậy cũng như phải chịu đựng những đau khổ lớn lao nơi kiếp dạ xoa (yakkha); ngược lại do quả báo[41] ngay từ lúc mới tái sanh[42] ngài đă xuất hiện trong hoả ngục. Nhưng chẳng có ǵ gây xáo trộn cho Trưởng lăo cả, do thân của ngài đă biến dạng nhờ vào sức mạnh thiền chứng đó. V́ dạ xoa (yakka) đă đánh trúng ngài[43] ngay vào thời điểm ngài phải xuất khởi khỏi thiền chứng đó. Trưởng lăo[44] Mahāmoggallāna, vừa tận mắt nh́n thấy ngài đánh một đ̣n chí tử bằng chính thiên nhăn của ḿnh, đă đi đến gặp Tướng quân chánh pháp; và cùng thời gian ngài đang đi đến gặp vị Tướng quân chánh pháp đă khởi xuất khỏi thiền chứng đó. Mahāmoggallāna đă dành được pháp[45] thân của ḿnh và ngài đă giải thích vấn đề cho Tướng quân chánh pháp nghe, chính v́ lư do đó có lời nói rằng, “Và vị Trưởng lăo Mahāmoggallāna đă nh́n thấy… ‘ngay cả đầu tôi đây cũng chỉ là một phần nhỏ đau khổ mà ’ “ về điểm này:

Một phần đau khổ (thokaṃ [46] dukkhaṃ): đầu của tôi phải chịu khốn khổ một phần, một chút, như thể không c̣n đứng vững[47] được nữa, ư nghĩa ở đây là gặp phải đau khổ. [247] V́ đầu con người ta là nơi cảm thấy đau khổ, cũng được coi như là “đau khổ vậy. Sīse thokaṃ dukkhaṃ (trong đầu tôi vẫn c̣n lưu lại một phần đau khổ) cũng là một cách giải thích. Nhưng làm thế nào, một khi thân này đă được chống đỡ [48] bằng sức mạnh thiền chứng đó song một phần đau khổ vẫn có thể tồn tại trong đó” liên quan đến thực tế là ngài không chỉ khởi xuất (khỏi nơi đó), v́ không thể nhận ra đau khổ vẫn tồn tại nơi thiền chứng đó, vấn đề này c̣n tuỳ thuộc vào thân [49] ta có thể nhận thức được một phần đau khổ, giống như ta bị muỗi chích vào lúc đang ngủ, ta chỉ cảm thấy đau vào lúc tỉnh giấc mà thôi.

Sau khi đă làm rơ[50] Tướng quân chánh pháp tỏ ra oai lực như thế nào, bằng cách cho rằng, “Hỡi sư huynh Sāriputta, đây quả là điều nhiệm mầu” v.v…do chính vị Trưởng lăo Mahāmoggallāna, với tâm tràn ngập những điều kỳ diệu khôn tả xiết (bản chất thực chất).[51] Quả thực ngài chưa bao giờ phải dao động ngay cả[52] khi thân xác ngài đă phải chịu cú đấm do sức mạnh phi thường của dạ xoa (yakka) thực hiện với hết sức b́nh sanh vậy. Tướng quân chánh pháp cũng giả vờ thể hiện sức mạnh và uy lực to lớn của ḿnh bằng cách cho là,  “Hỡi chư huynh Moggallāna, đây quả là một phép mầu” v.v…điều này đă làm rơ một thực chất là: chính những vẩn đục ghen tương ích kỷ và cố chấp[53] v.v… đă được diệt trừ hoàn toàn và toàn diện. Chẳng nên nh́n ngắm ngay cả một đống rác pisācaka (pasupisācakam pi na passāma): xin đừng chiêm ngưỡng ngay cả chỉ một ngạ quỷ (peta) nhỏ mọn nhất[54] thường lui tới những đống rác v.v… Chính v́ thế vị đại Trưởng lăo, là tối thượng thinh văn những ai mong muốn thiền chứng của ngài không được biết đến,[55] lại đề cập đến việc có liên quan đến việc không nh́n thấy những thiền chứng đó, liên quan đến việc không thể chú tâm vào những thiền chứng đó vào thời điểm đó, chính v́ lư do đó có lời nói rằng. “Hơn thế nữa, đang lưu lại trong cánh Rừng Tre,  Đức Phật đă lắng nghe bằng chính thiên nhĩ của ḿnh câu chuyện trao đổi[56] giữa hai vị Đại đệ tử (đại thinh văn) đó, chính v́ lư do đó cũng có lời nói rằng “và Đức Phật đă lắng nghe”v.v… điều này có ư nghĩa giống như những ǵ đă khẳng định[57] ở trên.

Thẩm định [58] vấn đề này (etam attha viditvā) : thẩm định đặc tính vĩ đại nơi quyền lực và vẻ oai nghiêm, nơi vị Trưởng lăo Sāriputta, đă đạt đến sức mạnh như vậy nơi những thiền chứng đó[59]. Tập Phật Tự Thuyết này (Udāna) khởi sanh (ima udāna): đă khởi sanh tập Udāna này nhằm làm rơ việc đạt đến pháp[60] (kiên định) về phía cùng một nhân vật như vậy. Về vấn đề này:[61]

Một người có tâm, ví như tảng đá, vững bền, không lay chuyển. (yassa selūpama citta hita nānupakampati): Người nào đă diệt trừ hết mọi phiền năo trong tâm, người đó có tâm được ví như một ngọn núi do biết bao nhiêu tảng đá vững chắc, bền vững tạo thành, lại do thiền chứng sức mạnh uy lực do chẳng c̣n bất kỳ hành động nào có thể gây cho ngọn núi đó phải chao đảo[62], rung động, đó cũng là kết quả do bất kỳ những điều (pháp) hiệp thế thuộc bất kỳ loại nào. “Đă được tách khỏi” v.v… lại được đề cập đến tiếp theo ngay sau đó để làm rơ pháp ngài không c̣n phải chao đảo do bất kỳ lư do[63] nào tồn tại trong đó. Về vấn đề này.

Được ly tham những điều (pháp) thường liên quan đến sức lôi cuốn (viratta rajanīyesu): tách rời khỏi (virattaṃ), do kết quả thánh đạo được coi như đă ly tham (virāga), trong đó lại liên quan đến những sự việc có sức lôi cuốn, kể cả toàn bộ các sự việc thuộc tam giới, tạo thành nhân duyên khởi sanh tham dục[64] (rāga), ư nghĩa ở đây là người nào đă diệt trừ hoàn toàn[65] đến tận gốc rễ tham dục. Trong đó lại tồn tại sân hận dễ mắc phải (kopaneyye): trong đó toàn bộ các khả năng (căn) hiềm khích gây ra những điều ghê tởm[66]. Không phải bối rối (na kuppati): không bị bẩn thỉu nhơ nhuốc, không bị xáo trộn. Đối với người nào có tâm tu luyện như vậy ( evaṃ bhāvita citta): là những chúng sanh thánh nhân đă đề cập đến ở trên [248] người nào có tâm tu luyện như vậy (bhāvita) nhờ đó đă đem lại pháp kiên định như đă nói đến ở trên. Từ đâu đau khổ lại xuất hiện. (kuto taṃ dukkham essati) : từ   đâu  đau  khổ  lại xuất phát từ mọi chúng sanh, hay nói cách khác xuất phát từ hành, mà đau khổ xuất hiện nơi mỗi cá nhân, ư nghĩa ở đây là không có bất kỳ đau khổ nào thuộc loại đó.[67] dành cho những chúng sanh đó vậy.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ tư kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pabbatakandarā c̣n bản văn ghi là upaccakā, thung lũng, là mảnh đất nằm dưới chân núi. v.v…  Chú giải Ce ghi lại cách giải thích của bản văn là một vl và b́nh luận rằng ư nghĩa cũng giống nhau (ayam ev’ attho) điều đó cho ta thấy, nếu gộp chung lại với một thực chất, đó chính là nơi ở dành cho chim bồ câu và người ta nói rằng Sāriputta và Mahāmoggallāna đă ngồi ngoài trời, điều này xác nhận là kandarā ở đây có nghĩa là “thung lũng (dale)”, hơn là một “căn hầm” như trong chú giải Ud-a 161 ở trên và Thag 602 đă khẳng định. Toàn bộ bản văn đă coi kandarā thuộc giống cái (cũng như đă được xác nhận về điều này trong tự điển tiếng Phạn); PED liệt kê từ này chỉ ở giống đực mà thôi.

[2]. Bản văn đă ghi sai thành Kapotakandaro.

[3]. Chú giải Be Se ghi thêm ti; bản văn Ce lại bỏ qua. H́nh như đây là một lời b́nh do chính Dhammapāla đă thực hiện về nguồn gốc bản văn đă được trích trước đó và chính ngài đă dịch.

[4]. Ce Be Se giải thích là orattiya  c̣n bản văn ghi là orattiyā.

[5].  Chú giải Ud-a 354 dưới đây.

[6].  Chú giải Ud-a 348 dưới đây.

[7]. Chú giải Ud-a 412 dưới đây, trong đó các vị đại Trưởng Lăo cùng với Mahākassapa dẫn đầu đă mặc y cà sa có màu một cơn mây giông. Uppala là một loại hoa sen. Trong khi đó nīla cũng có thể cho thấy đây là màu xanh và màu đen.

[8]. Udiccabrāhmaajaccā;  Chú giải EV  i 249 về Thag 889. Ư nghĩa ở đây là các loài hoa này tinh tuyền, cao sang hay có lẽ dựa trên cơ sở một niềm tin của những vị thánh chúng thiên về  hôn nhân với những hạng người bản xứ trong vùng tiểu lục địa. Điều tiếp theo sau đó, xin đọc MA  ii 155. trong đó cũng có điều giống nhau được các vị trưởng lăo Puṇṇa và Sāriputta đă giải thích.

[9]. Chúng ta có thể thực hiện một đại nguyện (abhinīhāra) trước sự hiện diện của một Đức Phật nhằm đạt được ít nhất là ba mục tiêu rơ ràng: (1) trở thành một vị Chánh Biến Tri, (2) trở thành một Paccekabuddha; hay (3) trở thành một thinh văn, hoặc giả có thể là một (a) đại thinh văn (mahāsavaka) hay (b) một vị tối thượng thinh văn (aggasāvaka = chief sāvaka). Để cho đại nguyện hay ước muốn đó đạt đến kết quả, th́ người ứơc ao đó phải chứng đắc một số ân đức tốt. – với tám ân đức đă được liệt kê trong Chú Giải Phật Tự Thuyết Kệ 133 để có thể trở thành vị Chánh Biến Tri; bằng các ân đức thứ nhất, thứ hai, thứ bảy và thứ tám trong số tám ân đức đó, cộng với tri kiến đoạn tận lậu hoặc (vigatāsavadassana) để có thể trở thành một vị Độc Giác Phật (Paccekabuddha); hay chỉ bằng cách sẵn sàng hy sinh chính tính mạng ḿnh (attapariccāga) hoặc nhờ vào ḷng nhiệt t́nh ước ao hành động (kattukamyatā) để có thể trở thành một vị thinh văn. Đại nguyện tiên khởi cũng phải được tiếp tục trong một khoảng thời gian dài, tức là. (1) trải qua bốn  A tăng kỳ ngoài ra c̣n cộng với một trăm ngàn đại kiếp ngoài trường hợp có thể trở thành Đấng Chánh Biến Tri; (2) trải qua hai A tăng kỳ ngoài ra c̣n cộng với một trăm ngàn đại kiếp trong trường  hợp trở thành vị Độc Giác Phật; hoặc giả (3) một A tăng kỳ ngoài ra c̣n cộng với một trăm ngàn đại kiếp trong trường hợp muốn trở thành một vị đại thinh văn, hoặc giả một trăm ngàn đại kiếp trong trường hợp trở thành tối thượng thinh văn (Ency. Buddhism ii 94 tiếp theo;  Chú giải MA  i 155; Puṇṇatthero (= là tối thượng thinh văn thuyết Pháp trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 23) kappasatasahassa abhinīhārasampanno Sāriputtatthero (= vị Đại thinh văn) kappasatasahassādhika ekam asakheyya; cũng như chú giải AA  i 135). Những đại nguyện như vậy chỉ thực sự đem lại kết quả mong muốn nếu như Đức Phật khởi sanh trước các vị đó đă thọ kư họ sẽ được thực hiện đạt đến thành công. (Bv-a 92) – cho dù những đại nguyện đó, như trong trong trường hợp đại nguyện của Đức Phật Cồ Đàm, lại không mấy rơ ràng. Nhưng bất kỳ cách nào, chúng ta cũng phải kết luận rằng từ abhinīhārasampanno chỉ biểu thị không những “người nào có đại nguyện được thọ kư thành công” do chính Chư Phật trước những người thực hiện đại nguyện đó, mà c̣n những người nào đă trải qua bất kỳ giai đoạn cần thiết nào trước khi đại nguyện của người đó đem lại thánh quả mong ước, như chú giải Sn-a 341 đă nói rất rơ vấn đề này – satta divase dāna datvā tathābhāva patthetvā tato pabhuti patthanāsampanno abhinīhārasampanno satasahassakappe pāramiyo pūretvā antimabhava upapanno.  CPD, đang khi khẳng định abhinīhārasampanna có nghĩa là “người nào đă thành tựu được đại nguyện của ḿnh” chính là, đang khi không hoàn toàn sai, đă bị dẫn lạc lối suốt, xin cũng đọc Dhp-a  i 392.  ii  266tt.

[10]. Mahākhīāsavā; đối với bảy sức mạnh thần thông của một vị (A-la-hán ) xin đọc D iii 283, c̣n đối với mười phép thần thông xin đọc Ps  i 173ff có một điều không rơ ràng trong việc phân biệt rơ được đặc tính “vĩ đại” (mahā) trong văn cảnh như vậy v́ pháp nơi những người mà mọi phiền năo đă được diệt trừ hết th́ không thể nào tin được nơi các mức độ b́nh thường. Quả thật đây chỉ đơn giản là một điều thật đáng kính cẩn cũng giống hệt như những từ ngữ “đại thinh văn” (mahāsāvaka) chẳng hạn v.v… xin đọc Ud-a 266 dưới đây để biết thêm những điểm tương đồng.

[11]. Be lại bỏ qua.

[12]. Sāvakapāramīñāāna; Ce oassa, cũng như trong Vv-a 2. không rơ đây là những ân đức ǵ, nhưng chú giải Vv-a trong đó những ân đức tương tự với những ǵ đă được gán cho một ḿnh ngài Mahāmoggallāna mà thôi, có một điều đáng lưu ư rằng MA  i 346 chú giải về  Trung Bộ Kinh (M)  i 294 khẳng định rằng ngay cả Sāriputta là người đă hoàn tất được Ba la mật trong một A tăng kỳ ngoài ra c̣n cộng thêm một trăm ngàn đại kiếp. Tuy nhiên ngài cũng đă không thể diệt trừ được ngay cả một phiền năo nhỏ. Ấy vậy khi vừa nghe thấy một đoạn kệ (Vin i 40) từ miệng ngài Trưởng lăo Assaji đă chứng đắc thấu triệt, và như vậy đă nhấn mạnh đến việc đạt đến chứng đắc parato ghosa ngay cả về phía các vị thinh văn

[13].  Chú giải Ce Be Se giải thích là  hitāni; c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[14]. Vijambhanabhūmi;  chú giải SA   ii 284 = AA iii 66 đă giải thích vijambhati có liên quan đến sư tử như sau: “Sau khi đă đứng yên hai chân sau ngay ngắn trên một mặt bằng phẳng bằng vàng hay trên một mặt bằng bằng bạc, bằng pha lê, bảng chân kính, hay một loại thạch tín màu đỏ, nó liền duổi hai chân trước ra trước mặt ngài, kéo hai chân sau lên, đưa phần trước ra, cúi lưng xuống, ngẩn cổ lên, và phè mũi như thể tạo ra một tiếng sấm, thế rồi tự đứng lên, ắc mạnh thân ḿnh rũ sạch bụi bám trên thân ḿnh; và rồi (sau khi đă đặt chân xuống đất, con vật lồng tới lồng lui như một con bê non. Thân h́nh nó lộ rơ đang khi lồng lên, giống như thể một dải lửa quay nhanh trong đêm tối.”

[15].  Chú giải Ud-a 403 dưới đây.

[16]. Cành cây simbali được xác định là các cây bông tơ, bombax và heptaphyllum.

[17]. Vessavaa (tiếng phạn là Vaisravaa) là một tên khác dùng để gọi Kuvera/Kubera và theo nguồn tiếng phạn “cũng được gọi là Naravāhana, ‘ buồn do ’(naras, cf. Kimnaras) hay được giải thích bởi quyền lực tự nhiên, ‘ buồn do nhân ’ và được giải thích do bởi những người thực tế mà khi Kubera đối diện bất cứ nơi nào, ông ta được cưu mang do bởi thần linh, được nhân gian gọi là Guhyakas (cũng gọi là Gandharvas), được người ta miêu tả bán ngựa và bán chim” – E. washburn Hopkins, Epic Mythology, Delhi, 1974, trang số 142.  Theo nguồn kinh điển Pali khác, thay v́ chúng ta thấy tên nārivahana – do đó, ở trong  Mhv xxvii 29, người ta nói rằng vua đă cho xây dựng  lohapāsāda, sau khi nghe “ xe ngựa của Vessavana  được phục vụ là xe hơi cho phái nữ (nārīvāhanayānam)” có một rạp đá quư thiết kế ở giữa cung điện trông giống như  phong cách, ví dụ, theo như DPPN ii 948, Vessavana đi xe trên nārivahana khoảng 12 do tuần, chỗ ngồi bằng san hô” tuy nhiên không có sự nghiên cứu được ghi nhận (để cho thấy đây là một sự khác xác đáng “ sn-a I 379” được ghi nhận lập tức ngay sau đó)

[18]. Chú giải Ce Be Se đă bỏ qua; nhưng Chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 412 dưới đây dùng ám chỉ một lời ca ngợi giống như vậy trong đó lại cũng là một cách tham khảo được thực hiện với vị Đại Phạm Thiên Hārita.

[19]. Āruppapādaka phalasamāpatti: CPD sv cho rằng  Āruppapādaka đă sai lầm khi “tạo thành căn bản cho pháp vô sắc giới”. Hơn là chỉ rơ chứng đắc thiền quả dựa trên (có nghĩa là chứng đắc bằng cách) một trong số bốn thiền Jhanas vô sắc giới. tức là, không gian vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ.

[20]. Ud-a 196 ở trên, trong đó thay v́ được gán đều cho tất cả lại chỉ gán cho các vị “Cổ Xưa”.

[21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pacchima yeva, c̣n bản văn ghi là ’eva. H́nh như từ pacchima “từ sau này” ở đây lại ám chỉ đến đều  thiền định với diệt, mặc dù nếu như vậy, điều lạ kỳ cho thấy dhammapala phải quan tâm thực tế rằng ngài Ācariyas chú giải duy nhất trên sự giải thích khác hơn chính ngài chấp thuận (những thuật ngữ brahmavihāra là tâm xả)

[22]. Chú giải Be Se giải thích là mama//man ti hi  c̣n bản văn Ce ghi mama.

[23].  Bản văn Ce chèn thêm ta;  chú giải Be Se bỏ qua.

[24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là khaaka c̣n bản văn ghi là khataka; PED không có mục từ nào dành cho từ khaaka nhưng chú giải Childers và tự điển SED trong đó đưa ra là “nắm tay”, tự điển SED c̣n ghi thêm một h́nh thức giống cái, khaakā, là một “tiếng vỗ tay” rơ ràng đây là cách giải thích –  chú giải Vv-a 206.

[25]. Chú giải Ce Be Se giải thích là thāmamahattena c̣n bản văn ghi là thāmamahanta.

[26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ahosi c̣n bản văn ghi là ahosī ti;  chú giải ghi chú trong Ud

[27]. Pamāamajjhimassa purisassa ratanena sattaratana; trích dẫn trong MQ ii 107 n 3. Cô Horner dịch là “bảy ratanas, là số đo dành cho một người có chiều cao trung b́nh.” Cũng giống như trong phần định nghĩa từ sugatavidatthiyā trong Vin-a 567, cô cũng dịch đoạn majjhimassa purisassa tisso vidatthiyo vaḍḍhakīhatthena diyaḍḍho hattho hoti là “Một người có chiều cao trung b́nh cỡ ba gang (spans), một cubit dành cho thợ xây, (hattha, là tay dùng làm thước đo) là một cubit rưỡi (B Disc i 253 n2).

Trong Vibh-a 343 có đưa ra bảng chia số đo chiều dài như sau:

                          36 paramāus = 1 au

                          36 au = 1 tajjārī

                          36 tajjārīs = 1 rathareu

                          36 rathareus = 1 likkhā

                          7 likkhās = 1 ūkā

                          7 ūkās = 1 dhaññamāsa

                          7 dhaññamāsas = 1 agula

                      12   agulas = 1 vidatthi

2 vidatthis = 1 ratana.

7 ratanas = 1 yaṭṭhi.

20 yaṭṭhis = 1 usabha.

80 usabhas = 1 gāvuta.

4 gāvutas = 1 yojana.

Đây cũng là cách sử dụng một phần bản chiết tính đo lường trong  chú giải Ud-a 299 dưới đây.

     Một agula tượng trưng cho chiều dài một ngón tay, hay chỉ dài hơn kém một đốt ngón tay (inch), một vidatthi có chiều dày khoảng một  gang tay từ ngón cái tới ngón út hay từ cổ tay tới đầu ngón tay, cả hai trường hợp có chiều dài khoảng độ chín đốt (inches) (SED sv vitasti). Trong chú giải SA iii 176 th́ một ratana (tiếng Phạn là aratni/ratni) có chiều dài bằng một hattha (theo tự điển Childers, khoảng cách từ khuỷu tay tới đầu ngón tay út) c̣n theo tự điển SED, sv agula, tức là một hasta, mặc dù SED có các từ mục svv xem ra tự mâu thuẫn ở chỗ khẳng định rằng aratni là khoảng chiều dài từ khuỷu tay tới đầu ngón tay út nhưng lại cho rằng ratni là khoảng cách từ khuỷu tay tới cổ tay mà thôi.

Chính v́ thế ư nghĩa xem ra có thể là “ bảy ratanas với ratana là ( = khoảng cách từ khuỷu tay tới đầu ngón tay út) là chiều cao một người trung b́nh” hơn là theo cách Cô Horner khẳng định. Theo cùng một chứng cứ như vậy, ta nên hiểu Vin-a 567 là cách giải thích về số đo liên quan đến (hoặc là) ba vidatthis là chiều cao trung b́nh của một người  (hay) một người cao trung b́nh là một hatthas rưỡi bằng một hattha của một người thợ xây (hattha ở đây có nghĩa là cánh tay (có nghĩa là khoảng cách từ khuỷu tay tới đầu ngón tay út) hơn là một cánh tay. Tuy nhiên, những giải thích do cô Horner đưa ra về Miln và Vin-a, gộp chung lại, ám chỉ rằng chiều cao của một người trung b́nh là 7 ratanas (khoảng độ ’ ’) và 3 vidatthis (khoảng độ ’ ’)

Theo PED (sv ratana2, và điều tôi theo dơi trong VS 528 n 102) khẳng định rằng Abhp (một bản văn tôi không nắm được) lại cho là một ratana bằng 12 agulas, cũng khẳng định thêm Buddhaghosa cũng đưa ra con số như vậy trong Vibh-a 243. lời khẳng định sau này rơ ràng là không chính xác. v́ Vibh-a khẳng định rằng một ratana bằng hai vidatthis, hay 24 agulas. Chính v́ thế coi như VS đă bị sửa lại.

Jayawickrama lại đưa ra một cách sắp xếp có phần khác đôi chút trong chuyện kể về Đức Phật Cồ Đàm, tr. 9 n 14 trong đó cho thấy 12 agulis = 2 vidatthis = 1 ratana.

[28].  Bản văn Ce Se lại chèn thên so ti yakkho; Be bỏ qua, cũng như toàn bộ các ấn phẩm Ud đă sử dụng.

[29].  Chú giải Ud-a  250 dưới đây.

[30].  Chú giải BHS avasirati (lật đổ xuống); cũng xem tiếp theo đây.

[31]. Cuṇṇavicuṇṇa kareyya;  chú giải BHSD, sv avasirati, trong đó ta cho rằng động từ này đựơc dùng trong văn cảnh: đổ xuống chất bột thơm (cūra) 

[32].  Ce Be Se giải thích là aṭṭhanna c̣n bản văn ghi là aṭṭhama.

[33]. Toàn bộ các ấn phẩm Ud đều giải thích là mahanta vā pabbatakūa. v́ lư do đó, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa Woodward chèn vā trong ngoặc kép, mặc dù điều này không nhất thiết phải làm như vậy;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. 

[34]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vậy đối với bản văn Vippula; bằng cách viết hoa từ tiếp theo sau đó. Woodward h́nh như đă sai lầm coi từ này là một tham khảo cho Vepulla, là một trong năm ngọn núi vây quanh ngọn Giribbaja (= Rājagaha), xin đọc Vv-a 82. Tuy nhiên ngài Dhammapāla lại giải thích mahant là vipula và ngược lại – td. Vv-a 182, 290).

[35].  Chú giải Ud-a 300 dưới đây.

[36].  Chú giải Be Se giải thích là api osādeyya c̣n bản văn ghi là osāreyya, Ce ghi là osareyya. Chính v́ thế chúng ta phải hiểu rằng các ví dụ về từ vā trong Ud có nghĩa là một liên từ.

[37].  Chú giải Ce Be Se giải thích là kandanto c̣n bản văn ghi là taṃ taṃ.

[38].  Chú giải Be và Ud (Ee Be) giải thích là atha ca pana so yakkho ayhāmi ayhāmī ti vatvā ’eva mahāniraya apatāsi c̣n bản văn (Ce) Se ghi là atha kho so yakkho ayhāmi ayhāmī ti ’ eva mahāniraye avaṭṭhāsi (Ce avatthāsi)

[39]. Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Se ghi là avaṭṭhāsi. Ce avatthāsi.

[40].  Chú giải Be Se giải thích là ’ ettha (Ce ettha) c̣n bản văn ghi là tattha.

[41]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ānantariyakamma c̣n bản văn ghi là ānantarikakappa.

[42].  Xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo 601 để biết thêm chi tiết về hai loại nghiệp chướng này.

[43].  Chú giải Ce