|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
9. ĐIỀU GIỄU CỢT. Trong Kinh Phật thứ chín: những Bà la môn trẻ tuổi (māṇavakā): họ là những người trẻ tuổi, các Bà la môn trẻ tuổi. (brāhmaṇakumārakā) c̣n đang trong độ tuổi đầu đời là điều muốn ám chỉ trong trường hợp này[1] “Một cách giễu cợt” (sadhāyamānarūpā [2]) được đề cập đến do lời tuyên bố mang tính chất chế giễu[3] . Chế giễu người khác[4] tức là đóng đinh bọn trẻ (vadhantī[5]) có nghĩa là những người nào quen thói thốt ra những lời nói nhằm mục đích như vậy[6]. Đây là ư nghĩa cách diễn tả này: chế giễu (sadhanaṃ) là “điều giễu cợt” (sadho)[7] sadhāyamāna [8] được cho là (việc giễu cợt), được nói bằng cách kéo âm dài ra, tức là sadhayamāna[9] v́ họ lại công bố cùng thứ đó. Hay nói cách khác, họ cho là việc “giễu cợt” (sadhāyamānā [10]) v́ họ tự khiển trách[11] chính ḿnh như thể họ xứng đáng tự chế giễu ḿnh (visesato sasedhe[12]) cách đặc biệt. Người ta nói ra[13] điều này[14] nhằm chuyền qua lại bằng “cách giễu cợt” (sadhāyamānarūpā [15]) do thực chất là chính bản chất của tuổi trẻ là như vậy[16]. Saddāyamānarūpā (một cách ồn ào) cũng là cách giải thích, có nghĩa là tạo ra tiếng động lớn. Đi qua không quá xa Đức Phật là bao (Bhagavato avidūre atikammanti): qua đi[17] trong giới hạn vẫn c̣n nghe được lời Đức Phật khẳng định lời đầu tiên [18] ngài gieo vào tâm họ. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): khi biết bản chất không tỉnh giác trong lời nói của họ. [319] đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này, bằng cách tạo ra pháp phóng dật, nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này: Điều lơ đễnh (parimuṭṭhā): đần độn, những người thất niệm (muṭṭhassatino[19]). Ra vẻ người khôn (paṇḍitābhāsā): giả vờ như ḿnh là người khôn, do cách hành động của họ ra vẻ như chỉ có ḿnh họ mới có điều bí mật này nọ, nói rằng, “Bọn người kia biết ǵ (về vấn này) nào? chỉ có bọn ta mới biết rơ mà thôi. Bọn họ đang tụng lấy lời nói hành xứ (pasture?) (vācāgocarabhāṇino [20]): Những người đó chỉ coi lời nói hành xứ, là lănh vực học tập, chính là “những người lấy lời nói hành xứ”, những người đó đang nói những điều [21] chỉ là lời nói ngoài miệng mà thôi, do họ không am hiểu vấn đề. Hay nói cách khác họ là những người đang nói những lời không thích hợp” (vācāgocarabhāṇino), v́ họ nói những điều được coi là hành xứ không thích hợp liên quan đến lời nói, là phạm vi học tập (province) không thích hợp đối với các vị thánh nhân liên quan đến lời nói, (cụ thể là) những lời nói dối. Hoặc giả về vấn đề này gocarabhāṇino nói bằng cách cắt ngắn nguyên âm. – của họ chỉ coi hành xứ chỉ gồm lời nói (vācāgocarā), chớ không phải những ai lấy hành xứ là tứ niệm xứ v.v…[22]. Họ tụng kinh ra sao? Họ muốn tụng với miệng ch́a ra (’icchanti ’ āyāmaṃ): họ đang tụng bằng cách kéo miệng dài ra, làm thế để cho người khác kính trọng[23] và do nhắm đến điều đó, thế nên nằm ngoài phạm vi học tập của họ. Hay nói cách khác, họ tụng kinh như vậy, chứng tỏ họ đang hành động giống như họ là những người lấy hành xứ làm lời nói, nghĩa là, chính họ không biết ḿnh đang nói hay làm điều ǵ. Họ là những người tụng kinh với mục đích vụ lợi người khác[24], điều diễn ra tiếp theo sau đó là (họ đang) để miệng ra như họ muốn, với hành vi họ chỉ muốn hành động như vậy, không điếm xỉa ǵ đến việc họ phải chánh niệm vào lời họ đang tụng mà chỉ cốt khiến cho người ta chú ư đến ḿnh[25] mà thôi. Họ không am hiểu tí ǵ về những lời tụng đó (yena nītā na taṃ vidū): họ không am hiểu, không ư thức được điều đó[26] họ không nhận thức[27] được ǵ cả, có nghĩa là họ không biết lư do việc tụng kinh theo cách đó, tức là. “Chúng ta chỉ tụng vậy thôi” (ư muốn nói là) thất niệm v.v… như vậy họ quả là đáng chê trách (vô tàm) và tưởng tượng rằng ḿnh là người thông thái[28]. Việc diễn giải Kinh Phật thứ chín đến đây là kết thúc.
-ooOoo- [1]. Bản văn Ce Be cũng ghi như vậy; tuy nhiên lại chấm câu theo cách chúng ta phải giải thích, thay v́ “thuộc lứa tuổi trẻ nhỏ, nơi lứa tuổi thiếu niên; đây có ư ám chỉ chính vị Bà la môn trẻ tuổi trong trường hợp này.” như thể những chú thích sau đây chứng minh làm rơ, tập chú giải về kinh này đă đưa ra những lời giải thích sai lầm, và bất kỳ bản dịch nào về điểm này chỉ mang tính chất tạm thời mà thôi. Tôi cố gắng hết sức sao cho có thể, tuy nhiên những cách giải thích khác nữa vẫn có thể thực hiện được. [2]. chú giải Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy c̣n bản văn te ghi là vadhāyamānarūpā. [3]. Uppaṇḍana; chú giải Se liên tục giải thích là upphaṇḍana. [4]. Chú giải Se giải thích là aññe c̣n bản văn Ce Be giải thích là aññesaṃ; xin đọc chú giải CPD, mục từ uppaṇḍeti, lại nghi ngờ cấu trúc câu với sở hưũ cách. Rất có thể câu nguyên thủy đă giải thích là aññe samuppaṇḍentā ? [5]. Vadhanti; nghĩa đen là “giết hại” nhưng h́nh như ở đây hiểu theo nghĩa xóa bỏ triệt phá, ám sát, v.v… thông qua cuộc tranh luận bằng lời nói. Chú giải Be giải thích là sadhanti (nhạo báng, xỉ nhục), rất có thể đây là sự điều chỉnh (sửa chữa) quá mức, chú giải Se giải thích là vadanti (thốt lên, nói ra, v.v…). [6]. Tadatthavacanasīlā; chú giải Se giải thích là tassa ca vacanasīlā. [7]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy, c̣n bản văn ghi là vadhanaṃ……vadho. [8]. Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy, c̣n bản văn ghi là vadhāyamāna. [9]. Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy, c̣n bản văn ghi là vadhāyamāna. [10]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy, c̣n bản văn ghi là vadhāyamānā. [11]. Chú giải Ce Be Se giải thích là āvadanti c̣n bản văn ghi là ācaranti. [12]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy c̣n bản văn ghi là viheṭhe vadhe; nghĩa là mang tính cách phỏng đoán. Tôi đoán chừng sasedhe dẫu sao cũng phải xuất phát từ sva+Ö sṛdḥ được đưa ra trong văn cảnh. [13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là te c̣n bản văn lại ghi là tato. [14]. Se giải thích là vuttā c̣n bản văn Ce Be ghi là vuttaṃ. [15]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích tương tự như vậy c̣n bản văn ghi là vadhāyamānarūpā. [16]. Chú giải Be ghi lại, upto tại điểm này. vl tiếp theo – Vadhāyamānarūpā ti uppīḷanajātikā//Yaṃ vacanaṃ sandhāya vuttaṃ aññesaṃ pīḷeti / tassa vacanasīlā ti attho//Tatrāyaṃ vacanattho – vadhanaṃ vadho/taṃ ācikkhantīti ’ ti vattabbe dīghaṃ katvā ‘vadhā’ ti vuttaṃ//Atha vā viheṭhe vadhe viya attānaṃ ācarantī ti vadhāyamānā/ tato eva taṃsabhāvatāya vadhāyamānarūpā ti vuttā// (Ka) [17]. Atiyanti; không thấy liệt kê trong tự điển PED, cả hai từ Atiyanti và atikkamanti đều có nghĩa là đi quá xa, và như vậy đă tạo ra lỗi phạm và lắng nghe gấp đôi có thể không trở thành t́nh cờ ở đây. [18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là taṃ taṃ c̣n bản văn ghi là taṃ; theo nghĩa đen “bất kỳ điều ǵ” xin đọc chú giải chú thích Ud-a 331, trong đó có một đoạn văn tương tự như vậy tạm dịch là “nói ra bất kỳ (từ nào) có trong miệng.” [19]. Xin đọc chú giải Ud-a 238 ở trên. [20]. Chú giải Ce Be Se và Ud cũng giải thích tương tự như vậy c̣n bản văn ghi là vācāgocarāo [21]. Vācā’ eva; theo nghĩa đen, những ǵ chỉ lấy lời nói làm căn bản mà thôi. Xin cũng đọc chú giải Ud-a 394 dưới đây. [22]. Chú giải Be ghi thêm ādi; rất có thể từ ghép vācāgocarabhāṇino phải được suy tính đến, c̣n có giải thích cách khác là vācāgocarābhāṇino. [23]. Xuất phát từ ḷng kính trọng Tăng đoàn trong chú giải MA iv 205 về Trung Bộ Kinh (M) iii 154 trong đó đoạn kệ được coi như ám chỉ các vị Tỳ khưu hay căi cọ nhau. [24]. Chú giải Ce Be giải thích là parapattikā c̣n bản văn Se ghi là padapattikā. [25]. Chú giải Ce Be giải thích là sāvetabbā c̣n bản văn ghi là sāvetabbaṃ chú giải Se giải thích là sādhetabbaṃ. [26]. Avidū; chú giải Be giải thích là aviddasuno. [27]. Asūrā; chú giải CPD sv lại cho là toàn bộ đoạn văn này đều đáng nghi ngờ. [28]. Paṇḍitamāni; chính họ tự biến mất – xin đọc chú giải SED svv paṇḍitamānin; mānin. Không “tự măn với tài năng của ḿnh” như tự điển PED đă đề xuất với từ sv mānin.
|
|