NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. DIỆT TRỪ NHỮNG HƯ TƯỞNG NỮA

Trong Kinh Phật thứ bảy: việc đoạn tận một số hư tưởng (papañcasaññāsakhāpahāna): v́ những tưởng này tạo ra nhiều hư tưởng (papañcenti), v́ các tưởng này lan rộng, thiết lập trong một thời gian dài, việc liên tục trong đó chúng đă xuất hiện, các tưởng đó lại chính là những hư tưởng (papañcā), là phiền năo – đặc biệt, tham dục, sân hận, si mê, ái dục[1] (tà kiến) và ngă mạn cũng được nói đến, lấy ví dụ như:

“Tham dục là hư tưởng, sân hận là hư tưởng, si mê là hư tưởng, ái dục cũng là hư tưởng, tà kiến cũng là hư tưởng, ngă mạn cũng là hư tưởng.[2]

Hơn thế nữa, ư nghĩa từ papañca (hư tưởng) chính là thối rữa, ư nghĩa  papañca (hư tưởng) c̣n có nghĩa là rác rưởi. Về điểm này, hư tưởng là tham dục được qui cho tưởng về điều ǵ đó đáng yêu, hư tưởng lại chính là sân hận đối với các căn oán giận, sự hư tưởng lại là những phiền năo, sự hư tưởng là ái dục [373] tham lam, hư tưởng lại là tà kiến tưởng, hư tưởng lại là kiêu mạn áp dụng vào tầm; các tưởng đi kèm với những hư tưởng này được gọi là hư tưởng (papañcasaññā): con số, thành phần, phân đoạn, thuộc hư tưởng chính là con số hư tưởng đó[3] (papañcasaññāsakhā).  C̣n về ư nghĩa, đây chính là một phần hư tưởng này hư tưởng nọ cùng với những ǵ chúng qui cho, là một nhóm các phiền năo, và về vấn đề này, ta thấy gộp lại các tưởng liên quan đến việc chúng là nhân duyên chung cho mọi hư tưởng này; v́ thế có lời nói rằng: “những hư tưởng đó đều có tưởng làm nguồn gốc.” (Sn 874). Việc “đoạn tận” những hư tưởng này chính là triệt phá đến tận gốc các phiền năo tham dục v.v…bằng điều này và bằng thánh đạo.

Người ta kể lại rằng vào thời đó trước tiên Đức Phật đă quán xét các phiền năo đă trở thành những cản trở trong những lần tái sanh tiền kiếp của ngài phải lên tới hàng trăm ngàn kotis  được qui  vào cho ngài và hiện nay ngài đă đoạn tận được (các phiền năo đó) cùng với những ảnh hưởng chúng đem lại. Trong lần tái sanh[4] cuối cùng của ngài ngay tại Bodhimaṇḍa bằng chính thánh đạo, thứ hai, ngài nh́n thấy vố số chúng sanh, do các phiền năo kích hoạt và bị các dục phiền năo tha hóa v.v… khó ḷng có thể thoát khỏi[5] giống như một trái bí rợ[6] chứa đầy lớp váng, giống như một b́nh chứa đầy sữa bơ, hay là một miếng vải rách[7] ngâm trong nước hoa, và rồi với hân hoan và sung sướng nổi lên với suy nghĩ “quả thật đây là cánh rừng rậm, này quả là phiền năo luân được trồng tỉa từ thời vô thủy vô chung, giờ đây đă được đoạn tận  không dư sót bất kỳ điều ǵ, quả đă được đoạn tận hoàn toàn và thực sự.” Ngài đă khiến nổi lên tập Phật Tự Thuyết này v́ lư do đó có lời nói rằng “thế rồi  Đức Phật quán xét lại việc đoạn tận của ḿnh một số lớn những hư tưởng. Về điểm này:

Đối với người nào không có những hư tưởng cũng chẳng c̣n điều ǵ sót lại (yassa papañcā hiti [8]ca ’ atthi): v́[9] Đức Phật tự cho ḿnh không phải là một ai khác, chỉ ám chỉ một ḿnh mà thôi, chính v́ thế đối với một nhân vật[10] chính yếu như vậy vừa không có những cách hư tưởng đa dạng cũng như không c̣n điều ǵ sót lại nữa nội bên trong ṿng luân hồi đă do những hư tưởng đa dạng này tạo ra; tuy nhiên, trong tập Nett, người ta nói rằng điều được đề cập đến là hiti (c̣n sót lại) chính là những tùy miên (anusayo) (Nett 37); v́ các tùy miên chính là nhân duyên tạo ra liên tục tính tái sanh[11]; những hư tưởng đa dạng chính (papañcenti) là như vậy v́ chúng đă khiến cho chúng sanh trở thành đa dạng (papañcenti) trong ṿng luân hồi, và papañcaṭṭhiti cũng là cách giải thích. Ư nghĩa của từ này vừa là “điều c̣n sót lại nơi các đa dạng đó” (papañcaṭṭhiti), tức là điều c̣n lại (ṭhiti) nơi đa dạng hóa đó (papañcānaṃ), ta thấy tồn tại, không triệt phá được (papañcā [12]) tự bản chất đều là những ǵ c̣n sót lại (ṭhiti) trong qui tŕnh này, liên quan đến việc chúng trở thành nhân duyên thuộc tương tục tính của bất kỳ dị thục nào, vẫn c̣n sót lại nơi những điều thiện cũng như bất thiện đối với nhân vật[13] tối thượng không tồn tại những điều như vậy.[14] Người nào đă vượt qua khỏi ràng buộc và trở ngại (sandāna [15] Pālighañ ca vītivatto): người nào[16] [374] đă thoát ra khỏi (vượt qua) được ái dục và tà kiến, việc này ta gọi với tên là “ràng buộc” về việc này đặc tính của nó giống như hệ phược[17] hiểu theo nghĩa cột lại và vô minh được coi như là một pháp cái liên quan đến việc tương đồng với một pháp cái do việc chúng ngăn cản không cho vào thành tŕ níp bàn vậy, là điều đă vượt xa (atikkanto[18]) khỏi một cách rơ ràng rành mạch (visesato) những điều này bằng cách đoạn tận chúng cùng với những ấn tượng (ảnh hưởng) chúng để lại. Tuy nhiên một số người khác lại cho rằng sandāna [19] chính là tức giận (kodhaṃ), nhưng đây là điều không thể chấp nhận được v́ điều này được đề cập đến[20] như là điều trói buộc chính ḿnh vào người khác.”[21]Người nào đă đoạn tận được ái dục, là người hiền triết, đang…(taṃ [22]nittaṇhaṃ muniṃ carantaṃ): người nào[23] được giải thoát khỏi  ái dục là do ái dục không hiện hữu dưới bất kỳ h́nh thức nào, vị hiền triết (muniṃ) do ngài tỏ ra thông thái, minh mẫn (munanato) liên quan đến cả hai thế gian này và do ngài tỏ ra thông thái, minh mẫn liên quan đến những ǵ là chính hạnh phúc của ḿnh và những ǵ liên quan đến hạnh phúc của người khác nữa, tỏ ra khoẻ mạnh và hạnh phúc (carantaṃ) nơi cả bốn oai nghi thân, bằng cách cảm thấy hạnh phúc (cārehi) nơi những thiền chứng đa dạng và bằng cách tập luyện (cārena) sáu trí của ḿnh[24] không thể chia sẻ với tha nhân được, ngài thực hiện toàn bộ những điều đó đặc biệt nhằm đem lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh. Cơi thế gian cùng với các chư thiên nữa, không tỏ ra khinh thường (khinh miệt) (’ āvajānāti sadevako pi loko): toàn bộ cơi thế gian chúng sanh thuộc ḍng giống những người đă chứng đắc tuệ giác[25], cùng với cả các chư thiên nữa, cùng với các vị Bà la môn nữa, không khi nào tỏ ra khinh miệt, đối xử khinh khi coi thường; hơn thế nữa mọi người đều sẳn sàng tỏ ḷng kính lễ và kính trọng, sùng kính ngài trong niềm tin tưởng rằng “trên cơi đời này, chỉ có ḿnh con người này là tuyệt vời nhất, tốt nhất, cao trọng nhất và kính lễ nhất.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ bảy kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1].  Chú giải Be giải thích là tahā; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua.

[2]. Be Se giải thích là rāgo papañco doso papañco moho papañco taṇhā papañco diṭṭhi papañco māno papañco (Ce ghi rāgo papañco doso papañco moho papañco diṭṭhi papañco taṇhā papañco māno papañco) c̣n đối với bản văn ghi là rāgapapañco dosapapañco mohopapañco diṭṭhipapañco taṇhāpapañco mānapapañco. Rất có thể đây là một trích đoạn, nhưng chúng ta không thể t́m ra được nguồn gốc.

[3]. Ở nơi khác ta cũng thấy dịch như sau: “tâm thức và h́nh tướng nơi pháp cái” (VofU 93); “những khái niệm sanh sôi nẩy nở thông qua tưởng.” (Ireland 104); “một số hư tưởng và tưởng” (MLS i 143); “đánh giá những hư tưởng” (Ñāamoli, A Treasury of the ’s Words iii 76.) chẳng có tác phẩm vừa kể trên lại ăn nhịp với cách giải thích đưa ra ở đây.                 

[4]. Chú giải  Ce Be Se giải thích là carimabhave c̣n bản văn ghi là carimabhāve. 

[5]. Chú giải Ce Be giải thích là dubbinimociyaṃ c̣n bản văn Se ghi là dubbinimocayaṃ; xin đọc chú giải Ud-a 376 dưới đây để t́m ra điểm giống nhau.

[6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là lābu c̣n bản văn ghi là lāpu; thường được sử dụng như là một chấp tri.

[7]. Pilotikaṃ; ở nơi khác ta thấy dịch là “dấu vết c̣n sót lại” (tàn dư).

[8].  Chú giải Ce Be Ud cũng giải thích giống như vậy; c̣n bản văn ghi là  hitī, Se ghi dhiti.

[9].  Ce Be Se giải thích là yasmā c̣n bản văn ghi là Yassā ti yasmā.

[10].  Aggapuggala; có nghĩa là chính  Đức Phật vậy – xin đọc chú giải Sn 684.

[11]. Chú giải Ce (Be) Se giải thích là bhava (p) pavattiyā c̣n bản văn ghi là bhavuppattiyā.

[12].  Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là papañco.

[13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aggapuggalassa c̣n bản văn ghi là puggalassa.

[14]. Đoạn kệ có thể được tụng như sau,“đối với những người nào không dư sót bất kỳ hư tưởng nào nữa” và “đối với những người nào chẳng c̣n bất kỳ hư tưởng nào c̣n tồn lại.”

[15].  Chú giải Ce Se giải thích là sandhānaṃ

[16].  Chú giải Ce Be Se giải thích là yo c̣n bản văn ghi là so.

[17]. Chú giải Be giải thích là sandānasadisattā (chú giải Ce Se giải thích là sandhānasadisattā) c̣n bản văn lại ghi là bandhanasadisattā.

[18].  Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn ghi là atikkamanto; đây chính là một từ nguyên tương đương dựa trên cơ sở từ vītivatto < vi+ati+vatto.

[19]. Chú giải Be giải thích là kodha sandānan ti  (Chú giải Ce Se giải thích là kodha sandhānan ti) c̣n bản văn ghi là kodhan ti.

[20]. Chú giải Ce Be giải thích là so…vutto c̣n bản văn ghi là sā…vuttattā, chú giải Se giải thích là sā…vuttā.

[21]. Parābhisajjanī; hay là “lăng mạ người khác” trong Trung Bộ Kinh (M) i 286 = Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 295, bằng lời nói nhàm chán gây khó chịu (kodhasāmantā). Xin cũng đọc chú giải Asl 396 trong đó loại tṛ chuyện này được giải thích bằng các từ tự cột buộc ḿnh vào với người khác, một điều không rơ ràng là tại sao từ sandāna lại có thể cân bằng được với từ kodha, trừ ra điều này dựa trên việc giải thích sai đoạn chú giải Sn-a 467 (về Sn 622, trích trong GD ii 263, trong đó cũng thấy xuất hiện từ sandāna) trong đó từ “nandhiṃ” được giải thích là tức giận (sân hận) (kodhaṃ)

[22].  Chú giải Ce bỏ qua.

[23].  Chú giải Be Se giải thích là taṃ; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua.

[24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ñāacārena c̣n bản văn ghi là ñāācārena; xin đọc chú giải Ps i 121tt về những trí này.

[25]. Be giải thích là sabbo sapaññajātiko (Se sappaññajātiko) c̣n bản văn ghi là sabbo sajātiko, Ce sabbo sabbaññajātiko.