|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
6. DIỆT TRỪ ÁI DỤC. Trong Kinh Phật thứ sáu: Aññātakoṇḍañña (Aññātakoṇḍañño [1]): Về việc này,“ Koṇḍañña” là một tên được truyền đạt cho chúng ta biết chính gia tộc của vị Trưởng lăo này; nhưng chúng ta chỉ biết trưởng lăo trong giáo lư của Đức Phật với tên gọi là “Aññātakoṇḍañña”[2] nhờ [lời tuyên bố gồm có một ][3] Phật Tự Thuyết do chính Đức Phật công bố, tức là “quả thực Koṇḍañña [4] đă thực sự hiểu được điều này(aññāsi)” (Vin i 12; S v 424), trong đó trước tiên chính ngài là một trong số các đồ đệ đă thấu triệt thánh đạo. Giải thoát bằng cách đoạn tận hoàn toàn ái dục (taṇhāsaṅkhayavimuttiṃ): “triệt phá ái dục hoàn toàn” có nghĩa là níp bàn, v́ chính tại nơi đó ái dục bị triệt phá hoàn toàn, được diệt trừ toàn diện. (chính v́ thế ư nghĩa từ kép taṇhāsaṅkhayavimutti) chính là “việc giải thoát khỏi điều ta gọi là diệt trừ hoàn toàn ái dục”; hay nói cách khác “việc triệt phá hoàn toàn ái dục (có nghĩa là) thánh đạo vậy, v́ chính nhờ phương tiện này ta diệt trừ và đoạn tận hoàn toàn ái dục, (ư nghĩa của từ kép taṇhāsaṅkhayavimutti (tái sanh sau đó) chính là “ngay khi chứng đắc thánh quả A-la-hán”, v́ việc giải thoát đó bao gồm thánh quả thánh đạo đó, hay tạo thành tột đỉnh chứng đắc nơi thánh đạo vậy. Chính v́ điều này mà ngài đă ngồi quán xét lại vấn đề, v́ vị trưởng lăo này thường xuyên nhập thiền quả; chính v́ thế ngài cũng làm được như vậy trong trường hợp này nữa. Thẩm định lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại việc quán xét lại tột đỉnh thánh quả này[5] về phía vị trưởng lăo Aññātakoṇḍañña, đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này để làm rơ vấn đề này. Về điểm này. Đối với người nào thiếu căn (gốc rễ), thiếu cơ sở (yassa mūlaṃ chamā ’ atthi): đối với bậc thánh nhân không có vô minh tạo thành gốc rễ cây hiện hữu (tách biệt), và[6] do thiếu nền tảng, thiếu mảnh đất, được coi như không khéo tác ư đến các phiền năo và các pháp cái[7] tạo ra nhân duyên nguồn gốc chính vô minh đó, chính do vô minh đó đă bị nhổ hoàn toàn tận gốc rễ bằng thánh đạo tột đỉnh. Không xuất hiện cây leo, chính v́ thế mà chẳng có lá (paṇṇā ’ atthi kuto latā): mối liên quan các từ ở đây là “chẳng có cây leo, thế nên cũng chẳng có lá”[8] có nghĩa là chẳng có ‘cây ’ coi như là lá và cành cây nữa v.v…điều đó đă chấp nhận có sự hiện hữu những loại mạn và quá mạn v.v…[9]chính do đó các lá cây tự cao tự đại và dễ duôi,[10] giả dối và phụ bạc v.v…xuất hiện; hay nói cách khác, người ta cho rằng, paṇṇā ’ atthi kuto latā (không có lá cây, nên cây đâu mà cây leo) coi điều này mang ư nghĩa là, ngay khi cành non đâm chồi mọc lên[11] tức khắc lá cây phải xuất hiện[12] trước tiên, sau đó là các ‘cây ’ mới xuất hiện nơi cành và chồi non của cây. [372] Về điểm này: liên quan đến thánh đạo sau khi đă được tu luyện kỹ càng, đối với người nào được coi như là vô căn do vô minh,[13] c̣n đối với cây (có hiện hữu riêng biệt) mà đă mọc lên cách khác đă không phải là cách tu luyện thánh đạo, điều đó cũng không tạo được nguồn gốc[14], như thể các phiền năo v.v…và về vấn đề này, bằng cách gộp lại từ “căn” th́ trong đó cũng gộp luôn từ “nghiệp chướng” đem lại hạt giống; liên quan đến việc đó là nguyên nhân của hạt giống.[15] Tuy nhiên điều này cũng nên hiểu là[16] đây là điều duy nhất được gộp lại mà thôi (trong trường hợp này) chính việc thiếu vắng hạt giống đó[17] cũng chỉ là điều được gộp lại mà thôi và giả dụ như không có sự hiện hữu hạt giống nghiệp chướng này, th́ mầm tâm thức cũng có thể được qui cho việc thiếu vắng này, cành lá và nhánh cây v.v…bao gồm danh, sắc và lục căn v.v…[18] cũng không xuất hiện, v́ lư do đó có lời nói rằng: “đối với cây nào không có rễ, không có đất, th́ không có cây leo, thử hỏi lá từ đâu mà có?” Người cương quyết thoát khỏi mọi hệ phược(taṃ dhīraṃ bandhanā muttaṃ): đó là người cương quyết liên quan đến việc hắn bị ma vương chinh phục bằng cách áp dụng tứ chánh cần một cách tinh tấn, chỉ bằng cách như vậy, người đó được giải thoát khỏi mọi hệ phược phiền năo và những tích tụ phiền năo đó. Người đó thật đáng bị chê trách (ko ninditum arahati): về điểm này từ taṃ (không dịch) chỉ là một tiểu từ mà thôi. Tuy nhiên, người nào thuộc ḍng giống thông minh, thật đáng bị khiển trách, bị mắng, người đó có được các ân đức tối thượng như hạng người có giới v.v… người đó hoàn toàn đoạn tận được hết các phiền năo, như vậy, làm sao lại có thể xuất hiện những ǵ phải khiển trách? Các Chư thiên cũng phải khen ngợi ngài (devā pi naṃ pasaṃsanti): ngược lại các chư thiên như Sakka v.v…được biết đến có hiểu biết được ở đâu các ân đức tốt được phân biệt và cho dù có bao gồm cả từ api (cũng) ngay cả các chúng sanh như các vị thánh hiền trong đó có các ksatriyas vv….[19] và c̣n nhiều hơn[20] thế nữa. Cả vị Phạm Thiên cũng ca ngợi ngài nữa. (Brahmunā pi pasaṃsito): ngay cả ngài Phạm Thiên cũng khen ngợi và hết ḷng tán dương ngài, cũng như các vị khác nữa như bà la môn, long vương, dạ xoa và càn thác bà v.v… Việc diễn giải Kinh Phật thứ sáu kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Ce Se giải thích là Aññākoṇḍañño. Be Aññāsikoṇḍañño; ở đây và ở dưới, c̣n bản văn ghi Aññātakoṇḍañño, ngược lại trong Ud-a 324 ở trên Be giải thích là Aññātakoṇḍañña c̣n bản văn Ce Se ghi là Aññākoṇḍañña. Xin đọc chú giải B Disc iv 18 n 4 [2]. Bản văn đă ghi sai như sau Aññakoṇḍañño. [3].Vutta-udānavacanavasena; Be vutta-udānavasena. Xin đọc chú giải Ud-a 3 ở trên. [4]. Chú giải Ce Be Se Vin S giải thích là Koṇḍañño c̣n bản văn ghi là Koṇḍañña. [5]. Be Se giải thích aggaphalao c̣n bản văn Ce ghi là maggaphalao. [6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Ca; bản văn th́ bỏ qua. [7]. Hay āsavas, các pháp cái và không khéo tác ư, việc quyết định tuỳ thuộc về phía người sử dụng āsavādi ở trang sau. [8]. Tuy nhiên những ǵ ta đă xem xét đến trong bản dịch. [9]. Chú giải Ce Se (Be) giải thích là mānātimānādi(p)pabhedā sākhāo c̣n bản văn ghi mānādippabhedasākhāo. [10]. Xin đọc Sn 218. [11]. Chú giải Be Se giải thích là vaḍḍhamānassa c̣n bản văn Ce ghi là patamānassa, diệt; xin đọc chú giải tiếp theo sau đây, việc lựa chọn cách giải thích chắc chắn tuỳ thuộc vào loai cây nào ngài Dhammapāla đang suy nghĩ trong tâm. [12]. Chú giải Ce Be giải thích là nibbattanti c̣n bản văn Ce ghi là nipatanti, rơi xuống, té xiống. [13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là avijjāsaṅkhātaṃ mūlaṃ c̣n bản văn ghi là avijjāsaṅkhātamūlaṃ. [14]. Chú giải Ce Be Se giải thích là patiṭṭhānabhūtaṃ c̣n bản văn ghi là patiṭṭhaṭṭhānabhūtaṃ; ở đây h́nh như điều này tạo thành nền tảng cho cây, hơn là vô minh như ngay ở trên kia. [15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mūlakāraṇattā bījaṭṭhānīyaṃ kammaṃ c̣n bản văn ghi là mūlakaraṇatthaṃ avijjāṭṭhānīyaṃ kammaṃ. Xin đọc chú giải AA ii 368 về Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 264 giải thích thānīya là kāraṇabhūta. [16]. Ce Be Se giải thích là veditabbo c̣n bản văn ghi là veditabbaṃ. [17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tadabhāvo pi gahito c̣n bản văn ghi là tadabhāve pi gahitaṃ. [18]. Đó chính là điều c̣n lại nơi xiềng xích y tương sinh. [19]. Xin đọc chú giải S iii 8, là điều chú giải SA ii 257 giải thích như là các vị minh quân như thể là Bimbisāra và Kosalan v.v… [20]. Chú giải Ce Be giải thích là kiñ ca bhiyyo c̣n bản văn ghi là kiṃ bhiyyo. Se ghi là kiñci bhiyyo. |
|