NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

2. ĐỂ TÓC RỐI

Trong Kinh Phật thứ hai[1]: Bên ngoài cổng dẫn vào[2](sảnh đường) (bahi dvārakoṭṭhake): bên ngoài cổng dẫn vào sảnh đường ṭa lâu đài, chớ không phải cổng vào thiền viện. Người ta kể lại rằng ṭa lâu đài, giống như lâu đài Brazen[3], tứ phía có tường bao quanh và có bốn cổng vào ṭa lâu đài đó. Đối với các cổng vào này, do bóng râm của ṭa lâu đài bên ngoài cổng vào phía đông ngài đă ngồi thiền tại đó, trên một chỗ ngồi dành riêng cho ngài, đó là một nơi tốt nhất chỉ dành riêng cho Chư Phật mà thôi, ngài đưa mắt nh́n phần lănh thổ phía đông[4]. Các vị sa môn khổ hạnh tóc rối (jailā): các vị đó có tóc để rối, các vị đó giả vờ là các vị sa môn[5]. Nigaṇṭhas[6](nigaṇṭhā): các vị đó đang giả dạng các vị Svetapaṭa[7]nigaṇṭhas. Họ chỉ mặc một chiếc áo (ekasāakā): giống như các vị Nigathas chỉ mặc một chiếc áo duy nhất, họ cột một miếng vải hay một giải vải trên cánh tay[8] và rồi đi khắp nơi che phủ phần thân trước với miếng vải này.[9] [331] Lỗ nách của họ, móng tay móng chân và tóc để mọc dài (parūhakacchanakhalomā): lông nách để mọc dài, móng tay móng chân để dài và phần tóc c̣n lại [10]cũng để dài, có nghĩa là lông nách để mọc dài. Cùng với số dụng cụ đa dạng (khārivividham [11]ādāya): mang theo nhiều dụng cụ khác nhau, một chùm dụng cụ gồm nhiều loại[12] dành cho các vị du sĩ. Đi ngang qua Đức Phật không xa mấy (avidūre atikkamanti): họ đă vào thành phố theo con đường không xa thiền viện[13] là bao. Thưa các Ngài, ta là vua những người Kosalan (rājā ’ha bhante Pasenadi Kosalo): bạch Đức Phật ta là vua Pasenadi các thần dân Kosalan; các vị phải biết tên ta.

Nhưng tại sao nhà vua, khi ngồi trước mặt vị tối thượng thế gian, lại thực hiện kiểu chào Ngũ thể đầu địa (Añjali) đối với những người vô phúc này chỉ v́ họ trong cảnh lơa lồ[14]? Nhằm mục đích kính trọng họ. Đối với những ǵ diễn ra với ngài: “Nếu ta không thực hiện ngay cả những điều nhỏ nhặt như vậy dành cho họ, chắc hẳn họ sẽ che dấu những ǵ họ đă nh́n thấy, đă nghe được và không nói ra, nghĩ rằng, “Sau khi đă từ bỏ vợ con, chúng ta đă phải ăn thức ăn không tốt và ngủ nơi không tiện nghi v.v… chỉ v́ người này; (ấy vậy mà) người này chẳng tỏ ra ngay cả cử chỉ tuân phục chúng ta,[15] v́ khi điều này được thực hiện, th́ chúng sanh sẽ không coi chúng ta là những người do thám, nhưng chỉ công nhận chúng ta là những người xuất gia mà thôi, có lợi ích ǵ mà phải tiếp chuyện với người này về những vấn đề đă diễn ra[16]? Nhưng khi đă thực hiện điều này, họ sẽ tiếp chuyện với ta mà không giữ lại bất kỳ điều ǵ bí mật.” và hơn nữa ngài cũng hành động như vậy nhằm mục đích biết được khuynh hướng của đạo sư nữa.

Người ta kể lại rằng, cho dù nhà vua đă đến gặp Đức Phật trong mấy ngày qua, nhà vua đă không đặt niềm tin nơi vị Chánh Đẳng Giác (Đức Phật), v́ lư do đó điều tiếp theo đă diễn ra nơi nhà vua: “Nếu như Đức Phật thông biết hết mọi pháp, chắc hẳn ngài sẽ không đồng ư khi ta khẳng định họ là các vị A-la-hán sau khi ta đă tỏ ḷng tuân phục họ; đang khi đó nếu như ngài đă đồng ư[17] với ta đang khi đi đến gặp ta, thế th́ khả năng toàn tri của ngài xuất phát từ đâu mà ra? Chính v́ thế nhà vua đă hành động như vậy nhằm mục đích biết rơ khuynh hướng của Đức Phật ra sao. Tuy nhiên Đức Phật[18], biết rơ ngay cả nếu như nhà vua tin tầm điều đó khi Đức Phật nói thẳng ra rằng, “các vị này chẳng phải là những vị sa môn, họ là những người giả dạng (điệp viên)” v́ chúng sanh không biết rơ vấn đề, cũng không tin điều đó là có thật, có thể cho là vị sa môn Cồ Đàm, v́ tin tầm nhà vua chỉ lắng nghe chính lời khuyên của Đức Phật, và ngài đă nói bất luận điều ǵ có nơi miệng[19] ngài, những lời đó có thể dẫn đến thiệt hại cho họ, và khiến họ đau khổ; v́ trong một thời gian dài và hành động bí mật đó về phía nhà vua[20] rất có thể đă được tiết lộ ra. Đang khi đó trong bất kỳ t́nh huống nào theo chính sự đồng ư của ḿnh lại muốn cho là thực chất các vị đó chỉ là những người điệp viên,[21] nhà vua đă nói “ đối với ngài đây là điều khó ḷng biết được.” v.v…Về điểm này:

Chiếc giường chật ních con cái: puttasambādhasayanaṃ = puttehi sambādhasayanaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). [332] và về vấn đề này đây là tài sản dưới dạng vợ [22] con được đề cập đến với tiêu đề “con cái”; ngài làm rơ tâm phiền năo người  đó do bị sầu khổ khống chế – đó là lấy dục lạc v.v…làm nhân duyên[23]- đối với họ[24] do niềm phấn chấn nơi vợ con đem lại, ngược lại bằng cách tự nuông chiều nơi những khoái cảm dục lạc (kāmabhoginā) ngài đă làm rơ họ là hạng người đă bị dục lạc[25] khống chế, trong khi đó bằng cả hai cách ngài cũng làm rơ pháp rối bời nơi tâm của ngài[26]. Dày dép xuất xứ từ Kāsi (kāsikacandana): ngài muốn làm rơ đây chính là dày dép; hay nói cách khác ư nghĩa ở đây là quần áo vải vóc xuất xứ từ Kāsi[27] và dày dép. Ṿng hoa, hương thơm[28] và mỹ phẩm (mālāgandhavilepana): mang ṿng hoa chỉ v́ tăng màu sắc và hương vị, sức dầu thơm để tỏa hương, c̣n mỹ phẩm nhằm tô điểm da dẻ. Vàng và bạc (jātarūparajata): kể cả vàng bạc và các tài sản quí giá khác. Xử lư (sādiyantena): chấp nhận. Ngài cũng thể hiện bằng toàn bộ những thứ này, thói tham lam tuyệt đối của ngài nơi những ǵ liên quan đến dục lạc.

Chính nhờ việc chung sống (savāsena): chính do việc sống chung chạ với người khác. Ở đây ta nên hiểu là giới đức của một người (sīlaṃ veditabbaṃ): chính do sống chung với nhau, do cư trú tại một địa điểm và cùng một nơi với những người khác, ta biết rơ được người đó có tỏ ra đáng yêu[29] hay không, hay giới đức của họ thuộc loại ác giới. Và Chỉ sau một thời gian dài th́ điều này mới thấy được, chớ không phải chỉ trong một thời gian nhanh chóng đâu (tañ ca kho dīghena addhunā na ittarena) [30]: và ta chỉ hiểu được giới đức này sau một thời gian dài, chớ không chỉ trong một thời gian nhanh chóng đâu; v́ sau một ít ngày[31] ta chỉ có thể làm rơ giới đức này bằng cách khẳng định pháp của một người có thu thúc hay pháp của người đó có thu thúc các căn chăng. Chỉ có người nào tác ư, chứ không phải những người không thực hiện điều này. (manasikarotā no amanasikarotā): chỉ có tác ư (karontena, một dạng ngữ pháp khác) nhờ có quán xét lại[32] với mục đích nghiên cứu kỹ lưỡng giới đức của chúng ta, chúng ta mới có thể biết rơ được giới đức của họ[33]; chớ không c̣n cách nào khác. Chỉ những người nào có tuệ giác (paññavatā): điều này cũng vậy chỉ người nào có tuệ giác, người nào tỏ ra khôn ngoan; v́ người khờ dại, cho dù có tác ư cũng không thể biết được điều đó.

Chính thông qua giao tiếp (savohārena): chính do trao đổi câu chuyện[34]. V́ về vấn đề này, tức là “v́ bất kỳ người nào trong số họ kiếm sống bằng nghề buôn bán (vohāra), hỡi Vāseṭṭha, nhà ngươi phải biết rằng, để trở thành một thương gia th́ không thể trở thành một vị Phạm hạnh được đâu” (Sn 614), chính việc buôn bán đă được gọi là vohāro; về vấn đề này, tức là “Bốn phong cách trong lời nói[35] (vohārā)” (D iii 232) ư định; về việc này, tức là “liệt kê, chọn lọc, mô tả, và sử dụng thông thường” (Dhs 1306[36]), việc mô tả, đang khi về vấn đề này, tức là “Ngài rất có thể đang bắt bẻ chỉ bằng cách sử dụng thông thường (vohāramattena)[37]” (S i 14tt) đây là một bài thuyết pháp ta (gọi là) vohāro, cũng cùng bài thuyết pháp này cũng được ám chỉ trong trường hợp này nữa; v́ câu chuyện của một người nào đó trước sự hiện diện của bạn lại không khớp với những ǵ được thực hiện khi bạn vắng mặt, (cũng như vậy) cuộc nói chuyện khi có mặt của bạn cũng không khớp với bài nói chuyện của hắn khi bạn vắng mặt; cũng giống vậy cuộc nói chuyện hiện tại không khớp với cuộc nói chuyện trước đó và cuộc nói chuyện sau này cũng không khớp với cuộc nói chuyện trước đó. Chúng ta có thể biết được đơn giản khi đang tṛ chuyện, một người nào đó tỏ ra không thanh tịnh[38] v́ cuộc nói chuyện trước đó của người có giới đức thanh tịnh [333] cũng khớp với những ǵ người đó nói sau này, câu chuyện sau cũng hoàn toàn khớp với câu chuyện trước đó, những ǵ được nói khi bạn có mặt cũng phải khớp với những ǵ được nói khi bạn không có mặt; chính v́ thế đang khi làm rơ (thực chất) là người nào có tâm trong sạch có khả năng biết được (tất cả điều này) từ những ǵ người đó nói: “chính thông qua trao đổi mà ta biết được thanh tịnh của một người nào đó là điều ta nên hiểu ở đây”.

 Tính ngoan cường (thāmo): tính ngoan cường nơi trí; v́ khi khó khăn nổi lên, người nào không có trí ngoan cường th́ hành động như một người xâm nhập vào căn nhà mà không đi qua cửa vậy, người không nhận ra những điều cần thiết phải lấy mang đi hay những ǵ cần bỏ lại[39]; chính v́ lư do đó ngài nói rằng: “ Hỡi vị Đại Vương, chính trong lúc xảy ra nghịch cảnh là mới hiểu được tính ngoan cường của một người nào đó.”

Thông qua bàn bạc (thảo luận) (sākacchāya): chính nhờ tṛ chuyện (với họ[40]) v́ câu chuyện của người nào thiểu trí th́ dội ra giống như trái banh[41] trên nước vậy, (ngược lại) cảm hứng lại vô tận[42] khi ta có trí sắc bén; v́ chúng ta chỉ có thể nói sự dao động của mặt nước khi nào con cá trong đó to hay nhỏ.

Chính v́ thế Đức Phật đă thể hiện cho nhà vua những phương cách nhờ đó chúng ta có thể biết rơ những ai là A-la-hán và những người nào th́ không; không cần thiết phải khẳng định thẳng thừng cho nhà vua biết họ có như vậy hay không. Vừa nghe được điều này, nhà vua đă thâm tín một cách mạnh mẽ về trí toàn tri của Đức Phật thông qua vẻ hấp dẫn trong việc diễn giải của Ngài và bày tỏ ḷng tôn kính của ḿnh với Ngài mà rằng. “Ôi Đức Thế Tôn, quả đây là phép lạ (điều kỳ diệu)” v.v… và rồi nhà vua nói, “bạch Đức Thế Tôn những thần dân của trẫm chỉ là nguời trộm cướp” v.v… và nói rỏ cho Đức Phật  họ là hạng người như thế nào. Về điểm này:

Những tên trộm cướp (corā): những người đó ăn hết đồ khất thực của vương quốc với bộ mặt thiểu năo giả dạng những người xuất gia trong khi đó họ chẳng phải là như vậy, do thực tế là chính họ là những người đang che dấu những hành vi của ḿnh. Những người do thám (ocarakā): những người này c̣n thấp kém (heṭṭhā) hơn cả loài súc sanh (carakā) [43]; v́ đối với kẻ trộm cướp, ngay cả khi họ di chuyển (carantā) trên đỉnh ngọn núi cao, họ vẫn thấp hơn bầy súc sanh (carakā), liên quan đến những hành vi thấp kém của họ mang lại. Hay nói cách khác, những người do thám (ocarakā): là những phái viên, những sứ thần. Sau khi đă do thám được: ocaritvā = avacaritvā (một dạng ngữ pháp khác), sau khi đă trạch pháp, có nghĩa là sau khi đă biết được điều này điều kia xảy ra tại vùng này vùng nọ. Ta đă quyết định (osāpayissāmi [44]): ta đă bắt tay vào, có nghĩa là ta đă xử lư. Bụi bậm và mồ hôi (rajojallaṃ): bụi bậm và vết nhơ[45]. Phải tẩy sạch đi (pavāhetvā): diệt trừ hết bằng cách rửa sạch. Râu tóc được tỉa kỹ (kappitakedamassū): yêu cầu thợ cạo cắt tỉa râu và tóc theo cách thức đă đề cập đến trong tập Alakārasastra[46]. Những khuynh hướng dục lạc (kāmaguṇehi): các thành tố tạo thành dục lạc, hay nói cách khác những ràng buộc do dục lạc đem lại[47]. Hoàn toàn chiều theo (samappitā): hoàn toàn (suṭṭhu) chiều theo (appitā), tự gắn kết chặt chẽ với[48] nhau . Cung ứng cho (samagibhūtā): kết hợp với[49]. [334] Hoàn toàn hài ḷng (paricāressanti [50]): hoàn toàn thoả măn căn, hay[51] các cuộc tiêu khiển[52] khác.

Thẩm tra lại vấn đề này (etam attha viditvā): thẩm tra vấn đề này được coi như là khi các thần dân của nhà vua lại tỏ ra lừa dối con người dưới dạng các vị xuất gia v́ mục đích đem lại cho họ của ăn đầy bụng[53]. Tập Phật Tự Thuyết này xuất hiện (ima udāna): đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích người bác bỏ việc thuần phục tha nhân[54] và việc đánh lừa họ tai hại như thế nào. Về điểm này:

Ngài chẳng phải cố gắng phấn đấu ở bất kỳ nơi nào (na vāyameyya sabbattha): không giống như các thần dân của nhà vua, các vị xuất gia không cần phải cố gắng, không cần cất công thực hiện những cố gắng, ở nơi nào liên quan đến bất kỳ hành vi bất thiện[55] nào, như thể hành vi liên quan đến việc trở thành một sứ giả hay một người do thám v.v…ư nghĩa muốn ám chỉ ở đây là, không cần phải tham gia bất kỳ cố gắng nào ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ nơi nào, tuy nhiên ngài nên cố gắng ở bất kỳ nơi nào liên quan đến hành vi công đức cho dù đó chỉ là những hành vi vặt vănh nhất. Ngài chẳng nên trở thành một người khác ’āññassa puriso siyā). Ngài chẳng nên hành xử với tư cách là đầy tớ của người nào khác với dáng vẻ một người xuất gia. Tại sao vậy? Liên quan đến những ǵ buộc phải thực hiện[56] bất kỳ hành vi bất thiện nào dưới bất kỳ h́nh thức nào cần phải ḍ thám v.v…Ngài không được sống nhờ vào người khác (’ āññaṃ nissāya jīveyya): ngài chẳng nên duy tŕ cuộc sống của ḿnh dựa trên sự giúp đỡ của người khác (aññaṃ = paraṃ, là từ đồng nghĩa), dựa trên vị cầm quyền v.v…[57] hoặc có suy nghĩ tin tầm vào người đó: niềm sung sướng hay đau khổ của ta[58] tùy thuộc vào người này”; ngài phải nén ḷng[59] tự cứu lấy chính ḿnh, chứ không cậy nhờ vào người khác[60]. Hay nói cách khác, tác nhân[61] nơi điều mang danh nghĩa là ocaraṇaṃ (do thám) liên quan đến việc gây trở ngại cho người khác[62] không được sống dựa vào những hành vi bất thiện nữa. Ngài cũng chẳng được phép lấy Phật Pháp ra mà kinh doanh (dhammena na vaṇiṃ [63]care): cũng chẳng nên diễn giải Phật Pháp nhằm đem lại lợi nhuận (tài sản) cho chính ḿnh v.v… v́ người nào diễn giải Phật Pháp cho người khác mà nhắm đến tài sản v.v… được gọi là người thực hiện buôn bán Phật Pháp vậy, đó chính là cách ngài chẳng nên bao giờ hành động thương mại bằng Phật Pháp vậy,[64] hay nói cách khác, chính người nào đang thực hiện công việc[65] do thám v.v…như thể các thần dân của nhà vua Kosalan đă làm, nhằm đem lại tài sản v.v… những người nào, đang khi thực hiện công việc như vậy v.v…dưới dạng một người xuất gia với nhu cầu ngăn cản người khác không cảnh giác, được gọi là người thương mại hóa việc diễn giải Phật Pháp vậy. Hơn thế nữa, bất kỳ người nào thực hiện giáo lư này[66], ngay cả khi đang theo đuổi cuộc sống phạm hạnh (Brahmacariya) với tâm được sắp sẵn[67] giống như một số các chư thiên[68] cũng được coi là thương mại hóa Phật Pháp vậy, đây là cách ngài chẳng nên làm – có nghĩa là thực hiện tà hạnh – thương mại hóa việc diễn giải Phật Pháp.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ hai kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. C̣n những ǵ tiếp theo xin đọc chú giải SA i 148tt,  trong đó tập  chú giải đă đặt lời tựa bằng một phiên bản tương tự như câu chuyện kể lại trong chú giải Ud-a  158 ở trên. SA ít chi tiết hơn Ud-a. 

[2]. Được dịch trong KS i 104, là “trong hành lang bên ngoài cánh cổng phía đông” nhưng chắc chắn là các hành lang đó đă bị các cổng vào thành gián đoạn; và h́nh như ngài đă ngồi thiền hoàn toàn bên ngoài cổng thành, dưới bóng râm của toà lâu đài. Xin đọc chú giải Ud-a 298 ở trên.

[3]. Xin đọc chú giải Mahāvasa, chương 27.

[4]. Lokadhātu; thường là “cơi dục giới”. KS i 104 n 3 lại đề nghị dùng từ “phong cảnh” mặc dù cơi thế gian này bao gồm toàn bộ những ǵ xuất hiện ở phía đông kể cả các cơi trời.

[5]. Tāpasavesadhārino; hay những ǵ các vị sa môn thường mang làm đồ trang điểm trên y cà sa từ sa môn (tāpasa) thường có nghĩa là không phải các Tỳ khưu Phật Giáo (thường là các thầy bà la môn) sa môn, không nên lầm lẫn với các vị Tỳ khưu thọ hạnh đầu đà, về điểm này xin đọc chú giải Ud-a 161 ở trên.

[6]. Xin đọc chú giải DA 162.

[7]. Nghĩa đen là “áo khoác màu trắng”; nhưng chú giải SED có từ mục trong đó từ này được giải thích là tâm của một đạo sư Jaina  và khi ở số nhiều, có nghĩa là phái Jaina.

[8]. Hatthe; hay là cánh tay.

[9].  Chú giải Be Se giải thích là tenā pi c̣n bản văn Ce ghi là ’ antena hi.

[10]. “Lông” ở đây là từ loma, lông trên ḿnh, chứ không phải là tóc trên đầu.

[11].  Chú giải Be SA và toàn bộ các ấn bản Ud đều giải thích như vậy c̣n bản văn Ce Se ghi là khāri vividha.

[12]. Chú giải Be giải thích là vividha khāri-ādinānappakāra pabbajitaparikkhārabhaṇḍika (một chùm đồ nghề dụng cụ của các du sĩ thuộc nhiều loại khác nhau (vividhaṃ), gồm nhiều loại khác nhau như thể là trang bị cần thiết v.v…) c̣n bản văn Ce Se ghi là vividha khāri nānappakāra pabbajitaparikkhārabhaṇḍika (những vật dụng đủ loại của họ, một chùm dụng cụ của các vị du sĩ thuộc nhiều loại khác nhau), chú giải SA giải thích là vividhakhārinappakāraṃ pabbajitaparikkhārabhaṇḍika. DA 269. lại b́nh luận rằng, trong cùng một đoạn văn trong D i 101: “liên quan đến vấn đề này, khāri (vật dụng) là đồ dùng của các vị sa môn như là củi nhóm lửa, củi gỗ, b́nh nước, và cái muỗng múc canh (giải thích là sujā thay v́ sucā – xin đọc chú giải Sv-P i 398) v.v… (vi) vidho cây gậy để chống (kāca) chính v́ thế ư nghĩa ở đây là với cây gậy nặng trĩu với các vật dụng hàng ngày (khārī). Tuy nhiên, những ai giải thích là khārivividhaṃ lại b́nh luận rằng khāri là tên gọi cái gậy (kāja), vividhaṃ rất nhiều vật dụng như thể thùng đựng  nước v.v…” Nhưng vividha trong Ud và S lại cũng có thể ám chỉ một cây gậy (tiếng phạn vivadha) h́nh như chắc chắn bỏ ngoài chú thích về từ nānappakāra. không kể những cách giải thích khác trong Ud-a và SA cũng được chấp nhận. Chú giải B Disc iv 43 n 6; cũng như trong Ud-a 181 ở trên cũng có đề cập đến các vật dụng của các vị “sa môn” (samaṇaparikkhāra) là những ǵ các vị Tỳ khưu cũng sử dụng.

[13]. Vihārassa; Ud S Bhagavato, từ nơi Đức Phật, chú giải SA không b́nh luận ǵ. H́nh như là thiện viện chính hiệu được phân biệt rạch ṛi khỏi lâu đài – v́ thế mà Dhammapāla ngay ở trên đă chỉ rơ ràng Đức Phật ngồi thiền bên ngoài toà lâu đài hơn là ngồi bên ngoài thiện viện – có lối đi thông với nhau, tại sao lại phải có sự tách biệt thiền viện ra như vậy, theo như  chú giải  Ud-a 158 ở trên ṭa lâu đài một ngàn pḥng để làm chỗ trú ngụ cho Đức Phật và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu điều này h́nh như không mấy rơ ràng.

[14].  Chú giải Ce Be Se giải thích là naggao, đối với người loă lồ, bất hạnh c̣n bản văn SA ghi là naggabhoggao

[15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là nipaccakāramatta c̣n bản văn ghi là upacāramatta là phép lịch sự thuần tuư, chú giải SA giải thích là Ngũ thể đầu địa (Añjali)mattaṃ, một kiểu chào Ngũ thể đầu địa (Añjali).

[16]. Chú giải Be Se giải thích là bhūtatthakathanena c̣n bản văn Ce ghi là bhūtattha kathema.

[17]. Bản văn ghi thêm taṃ;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[18].  Ce Be Se giải thích là Bhagavā c̣n bản văn ghi là Bhagavatā.

[19].  Chú giải Ce Be đă chấm câu samao Gotamo ‘rājā attano kata ’ ti ya kiñci mukhārūha kathetī ti vadeyya, c̣n bản văn ghi là samao Gotamo rājā attano kata suātī’ ti ‘yaṃ kiñci mukhārūha ’ ti vadeyya, cho dù cả hai câu đều không đem lại nhiều ư nghĩa; v́ có điều không mấy rơ ràng làm thế nào Đức Phật có thể được coi như là đang nói điều nhà vua muốn ngài nói, nếu ngài phơi bày là thực sự họ là những người do thám câu văn yaṃ kiñci mukhārūḷhaṃ katheti (nói ra bất kỳ lời nào có sẳn trong miệng người) có thể so sánh với đoạn ta ta mukhārūha vadantā trong tập  chú giải Ud-a 318 ở trên, khi ta dịch là “khẳng định điều đầu tiên xuất hiện trong tâm họ.”  Người ta cho tôi biết rằng cũng có một cách diễn đạt hầu như hoàn toàn đồng nhất bằng tiếng Sinhala cũng được dùng khi mong muốn làm rơ rằng con người có liên quan đó đă nói lắp bắp, và đây có thể là ư nghĩa cả ở đây và trong chú giải Ud-a 318 ở trên; nhưng đây h́nh như không thể khác hơn để giải thích điều khó khăn này. 

[20].  Chú giải Ce Be giải thích là añño c̣n bản văn Se ghi là rañño, là điều không khớp với ngữ pháp và như vậy rất khó hiểu ở đây.

[21]. Ce Be Se giải thích là ocarakabhāva c̣n bản văn ghi là ovādakabhāva.

[22].  Chú giải Ud-a 350 dưới đây trong đó các gái làng chơi cũng được cho là tài sản (pariggaha).

[23].  Chú giải Be giải thích là gharāvāsādihetuo, điều đó đă lưu lại trong nhà như là nhân duyên, c̣n bản văn Ce Se ghi là  rāgādihetuo.

[24].  Bản văn ghi thêm tena vào;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[25]. Ce Be Se giải thích là rāgābhibhava c̣n bản văn ghi rāgābhibhavana.

[26]. Không có lư do rơ ràng, chú giải Be in là kāmabhoginā ti… vikkhittacitta dasseti trước câu puttasambādhasayanan ti …sakiliṭṭhata dasseti.

[27]. Người ta cho rằng đây là thứ lụa tốt nhất (xin đọc chú giải Pv-a 50) xuất phát từ thành Benares cho đến ngày nay.

[28]. Be Se SA giải thích là gandhaṃ c̣n bản văn Ce ghi là sugandhaṃ.

[29]. Pesalo; SA ghi là susīlo, giới đức hoàn hảo.

[30].  Chú giải Be SA giải thích là ittara; xin đọc chú giải Ud.

[31]. Chú giải Be Se giải thích là katipayadivase hi c̣n bản văn ghi là katipayadivasena , Ce katipayadivasehi. Tôi chấp nhận cách chấm câu trong chú giải Be Se.  Chú giải SA thay v́ khẳng định điều đó không thể thực hiện được trong hai ba ngày, lại đưa ra đề nghị cho rằng hoặc là ngài Dhammapāla đă đi sai đường với vị tiền nhiệm của ḿnh, hay chú giải Ud-a đă có lần giải thích là katipayadivase na.

[32]. Bản văn chèn thêm vā;  chú giải Ce Be Se lại bỏ qua.

[33]. Cách chấm câu của ngài Woodward trong chú giải SA là sai; ta nên giải thích là taṃ ‘sīla assa pariggahessāmī’ ti.

[34]. Ce Be Se SA giải thích là kathanena c̣n bản văn ghi là kathentena.

[35]. Kiêng không nói dối, không phỉ báng, không nói lời thô lỗ, và nói lời nhảm nhí.

[36]. Woodward đă đưa ra tham khảo trong “S iii 71; Ps 96. 100” về những điều này, điều đầu tiên thực sự không chính xác, trong khi đó ngài h́nh như muốn ám chỉ điều sau là “những điểm gây tranh luận” – xin đọc chú giải KS iii 62 n 2.

[37]. Có nghĩa là, các vị A-la-hán khi sử dụng từ “ta” và “của ta” để có thể nói đúng“uẩn đang ăn”, “uẩn đang ngồi thiền”. “đây là uẩn khất thực”  “đây là uẩn mặc y cà sa” v.v… - xin đọc SA i 51.

[38]. Chú giải Ce Be Se giải thích là so kathento yeva sakkā jānitu c̣n bản văn ghi là so kathento ’ eva sakkā jānitu, chú giải SA lại giải thích là so ’ eva na sakkā jānitu. Ngài Woodward ước ao được xem lại chú giải  Ud-a, như đă diễn đạt trong SA i 150 n 1, cho phù hợp với chú giải SA lại không cần thiết; tuy nhiên rất có thể điều ngược lại xem ra có vẻ dễ chấp nhận hơn.

[39].  Chú giải Be giải thích là gahetabbagahaṇaṃ kattabbakaraṇaṃ apassanto.   chú giải Se SA lại ghi là gahetabbagahaa kātabbakicca apassanto.- không tác ư đến phải coi điều ǵ cần thiết phải được xem xét đến, phải làm những ǵ cần phải làm – c̣n bản văn ghi là gahetabba pahātabbañ ca kiñci, Ce gahetabbam. pahātabbañca. Chúng ta có thể nghi ngờ Be và Ce ở một vài điểm đă được sửa chữa dựa trên phần chú giải SA.

[40].  Ce Be Se giải thích là sahakathāya c̣n bản văn SA lại ghi là sakathāya.

[41].  Ce Be SA giải thích là geṇḍu (Se geṇḍaṃ) c̣n bản văn ghi là gaccho.

[42]. Chú giải Be Se giải thích là anantaṃ c̣n bản văn Ce SA ghi là anantaraṃ, có nghĩa là ngay tức khắc, liên tục v.v…

[43]. Nguyên từ tương đương; ocarakā< heṭṭhā carakā, heṭṭhā (ở dưới) được thay thế bằng tiếp đầu ngữ động từ o (= ava (xuống dưới). Caraka có nghĩa là một hướng dẫn du lịch, một du sĩ, một hành giả, du sĩ, v.v… nhưng tự điển PED lại ghi nhận một ư nghĩa khác là “con vật” h́nh như xem ra thích hợp ở điểm này.

[44]. Một số lớn các bản văn và ấn phẩm đều ghi lại ở điểm này toàn bộ chín vll. tức là otarissāmi, otāyissāmi, obhāyissāmi, oyāyissāmi, osādissāmi, osāpayissāmi, osāyissāmi, osārissāmi và ossārissāmi, được phân chia như sau:  Ud Ee otarissāmi (vl obhāyissāmi, otāyissāmi, osāyissāmi); Ud Be osārissāmi (vl otarissāmi, oyāyissāmi, osāpayissāmi); Ud Se otarissāmi (vl oyāyissāmi, osārissāmi); S osāpayissāmi (vl oyāyissāmi, obhāyissāmi); Ud-a  Ee osāpayissāmi (vl oyāyissāmi, osāyissāmi, osādissāmi); Ud-a Ce oyāyissāmi (vl osāyissāmi, osādissāmi); Ud-a Be osārissāmi (vl oyāyissāmi); Ud-a Se oyāyissāmi (vl otarissāmi (Pāli), osādissāmi) và Windisch (JPTS 1890, p 103) ossārissāmi. Trong số các từ này, otarissāmi (bắt tay vào, lao vào) h́nh như ở đây đă được các tập chú giải ủng hộ nhất. (SA lại không có ư kiến); cho dù một số các từ khác cũng có thể thích hợp với văn cảnh vậy, nếu không nói là c̣n tốt hơn, tức là osādissāmi (= osādeti, nhấn ch́m, triệt phá) osārissāmi (khôi phục lại, tái bố trí) và có lẽ thích hợp nhất là từ osāpayissāmi (?= osāpeti) và từ  osāyissāmi (ngừng lại), ư chung ở đây rơ ràng là các thần dân của nhà vua trước tiên đă do thám lănh thổ (để khám phá ra những bất ổn và de dọa khả dĩ xảy ra cho các quyền lợi của nhà vua) và rồi bẩm báo những vấn đề đó cho nhà vua, ngài sẽ đặt dấu chấm hết cho bất kỳ nguyên nhân nào gây ra bất ổn.

[45]. Chú giải Ce Be Se giải thích là malañ ca c̣n bản văn SA ghi là jallañ ca (đây rất có thể chỉ là một thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài).

[46].  Theo chú giải SED từ mục, một tập thủ bản hay sách giáo khoa về tu từ học.

[47]. Cũng được gọi như vậy trong chú giải D i 245; cũng như  chú giải GD ii 150 về  chú giải Sn 50tt. 

[48]. Appitā. Allīnā;  xin đọc chú giải Ud-a 302 ở trên trong đó appenti= allīyanti.

[49]. Sahabhūtā; nghĩa đen là cùng đi với, hay cùng tồn tại với, như trong Dhs 1197; Nett 16 v.v…

[50].  Chú giải Be và Ud cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là paricārissanti, chú giải Ce Se giải thích là paricarissanti.

[51]. Chú giải Be giải thích là vā; bản văn Ce lại bỏ qua. xin đọc chú giải  DA 121, cũng đề cập đến điều này và tiếp theo sau đó và từ này cũng được đưa ra như là một cách lựa chọn khác; cũng xin đọc chú giải Pv-a 58, 77.

[52]. Kīāpessanti; xuất xứ cách, h́nh như để cân bằng với  paricāressanti, h́nh như từ này đă mất hết ư nghĩa nguyên nhân. 

[53]. Xin đọc chú giải Vin i 57

[54]. Xin đọc chú giải D i 72.

[55]. Chú giải Ce Be giải thích là pāpadhamme, trong đó có liên quan đến bất kỳ ác pháp nào, c̣n bản văn Se ghi là pāpakamme.

[56]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kattabbattā c̣n bản văn ghi là kattabban ti.

[57]. Chú giải Ce Be Se giải thích là issarādi c̣n bản văn ghi là issariyaṃ.

[58].  Chú giải Be Se giải thích là me c̣n bản văn Ce ghi là eva.

[59]. Attadīpo; hay có thể là tự sỉ nhục ḿnh. Xin đọc chú giải DA 548 trong đó attadīpa được giải thích bằng các từ sống độc cư một ḿnh giống như một ốc đảo/ châu lục (dīpa) trong đại dương, theo tự điển PED sv, dīpa nghĩa đen hiểu là “hai luồng nước, giữa hai ḍng nước” và như vậy một ốc đảo, một châu lục chính là “châu lục (theo tiếng latin contingens <con+teneo, chứa đựng) nghĩa đen là “mặt đất gom lại với nhau”

[60]. Xin đọc chú giải D ii 100 v.v…

[61]. Kattā; nghĩa đen là “người thực hiện” nhưng cũng là một từ đôi khi lại có ư nghĩa đặc biệt là vị quan của nhà vua hay vị Tỳ khưu giả tuy nhiên điều này không có nghĩa ở đây. 

[62]. H́nh như, khi từ ocaraṇaṃ chỉ có từ tương đương với avacaraṇam theo ngôn từ học, th́ một trong số các nghĩa là “vi phạm”.

[63]. Chú giải Be cũng giải thích như vậy (Ce vāī, Se vaī) c̣n bản văn ghi là vānijja; xin đọc chú giải Ud.

[64]. Chú giải Be Se giải thích là evaṃ dhammena taṃ na careyya c̣n bản văn Ce ghi là na evaṃ dhammena careyya.

[65]. Kamma.

[66]. Idha; xin đọc chú giải Asl 348.

[67]. Paidhāya: thực chất là từ tiếng phạn praṇidhi có nghĩa là gửi các điệp viên ra đi, rất có thể không hoàn toàn khớp với cách chọn từ ở đây.

[68]. Xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 250; cũng xin đọc Ud-a 173tt ở trên, trong đó Nanda bị chỉ trích, cũng chính v́ lư do này, do làm tay sai, một người buôn bán và một người đă được mua.