|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
6. DÂN LÀNG Pāṭali. Trong Kinh Phật thứ sáu[1]: Trong số cư dân Magadhans (Magadhesu): trong vương quốc Magadha. Nhờ có (Tăng đoàn) rất vĩ đại (mahatā): trong trường hợp này cũng vậy[2], Tăng đoàn các vị Tỳ khưu không những chỉ vĩ đại do có những ân đức đặc biệt, nhưng c̣n vĩ đại v́ có một số lượng vô số kể những người tham dự. Ngôi làng Pāṭali (Pāṭaligāmo) : ngôi làng có tên gọi như vậy trong vương quốc Magadha. Người ta kể lại rằng, [408] vào ngày ngôi làng được dự trù xây dựng th́ có hai hay ba lộc cây Pāṭali [3] nẩy mầm (khởi sanh), nhô lên khỏi mặt đất ngay tại nơi ngôi làng[4] được dựng, kết quả là chính người ta thường đơn giản nhắc tới là “ngôi làng Pāṭali”. Đă tới đó (tad avasari): đă đi tới đó[5], tiến lại gần ngôi làng Pāṭali. Nhưng khi nào Đức Phật đă tới ngôi làng Pāṭali đó? Theo cách như đă khẳng định ở trên[6] sau khi đă cho xây một điện thờ tại Sāvatthi dâng cho vị Tướng quân chánh pháp, khởi xuất từ đó, đang khi ngài c̣n lưu lại ttrong thành Rājagaha, một điện thờ khác lại được xây tại đó dành cho trưởng lăo Mahāmoggallāna, là người khởi sanh từ đó mà ra. Ngài lại xuất khởi khỏi đó và đến cư trú tại thành Ambalaṭṭhikā, và rồi đang khi du hóa tế độ chúng sanh bằng cách đến cư trú hết nơi này nơi khác và ngài chỉ lưu lại nơi đó chỉ trong ṿng một đêm duy nhất[7] khi ngài tiếp tục chuyến du hành, với tốc độ nhàn hạ[8] băng qua rất nhiều vương quốc khác nhau, và đến thời điểm nhất định ngài đă tới ngôi làng Pāṭali. Cư dân trong làng Pāṭali (Pāṭaligāmiyā): cư dân trong làng Pāṭali cũng là những “cận sự”. Người ta kể lại rằng khi họ vừa nh́n thấy Đức Phật, một số trong họ đă chạy đến qui y Tam Bảo, một số thọ tŕ giới, một số vừa qui y Tam Bảo vừa thọ tŕ giới nữa; v́ lư do đó có lời nói rằng “các cận sự”. Đă đến gặp Đức Phật (yena Bhagavā ’ upasaṅkamiṃsu): người ta kể lại rằng chàng trai Ajātasattu, và những thần dân nhà vua Licchavi, thỉnh thoảng cũng đă lui tới[9] đó, đă đuổi hết các chủ nhà ra khỏi nhà, và rồi lưu lại tại làng Pāṭali đó trong ṿng một tháng hay hai tuần; kết quả là những chàng trai cư ngụ tại ngôi làng Pāṭali luôn phải chịu phiền toái, đă quyết định xây một pḥng hội rất lớn ngay tại trung tâm ngôi làng[10] với đủ chỗ cho hết mọi người lưu lại trong đó không phải vào nhà dân ở nữa, như vậy[11] ở một bên có một nơi dùng để chất những của cải cho các vị quí tộc, bên kia là nơi cư trú và một phần khác dùng làm nơi cho những khách văng lai thăm viếng, một phía khác lại dành cho những người nghèo khổ v́ vất vả, một phía khác làm chỗ cho những người bệnh tật cư trú, với hy vọng là trong tương lai sẽ trở thành nơi cư trú cho những hạng người đó; thế nên ngôi hội trường được đặt tên là “nhà nghỉ” Vào ngày[12] hôm đó chính là ngày hoàn tất xây cất ngôi nhà, dân chúng đă tập trung đến[13]đó, bắt đầu là cổng làng, họ thực chứng công tŕnh đă hoàn tất hoàn hảo, trang trí rất đẹp với vách ván và trát vữa v.v…[14] trông giống như một thiên cung và rồi mọi người đều rất ngạc nhiên cho rằng: ngôi nhà nghỉ này làm hoan hỷ tâm vô cùng, lại rực rỡ sáng chói, giờ đây ai là người sẽ sử dụng đầu tiên để có thể đem lại hạnh phúc và an lạc cho chúng ta lâu dài đây? và ngay lúc đó họ nghe nói Đức Phật đă đi đến ngôi làng, kết quả là với niềm vui vẻ sung sướng [409] họ đă quyết định: “rất có thể chúng ta phải ra đi và t́m thỉnh Đức Phật về đây; tuy nhiên[15], nếu như Ngài đi tới chỗ chúng ta đang cư trú theo ư Ngài ngày hôm nay phải thỉnh cầu Đức Phật lưu lại tại đây, và rồi dồn ra ngoài và Đức Phật là người đầu tiên sử dụng ngôi nhà nghỉ, cũng như vậy Tăng đoàn các vị Tỳ khưu cũng đến cư trú trong nhà hội đó. Khi Tăng đoàn đă tới, lời Đức Phật giải thích Tam Tạng sẽ được truyền lại đầy đủ; chúng ta sẽ khiến cho đạo sư nói rằng thật là điều tốt lành khiến cho ngài diễn giải Phật Pháp. Chính v́ thế, một khi ngôi làng đă dành cho Tam Bảo sử dụng, chúng ta và những người khác sau đó mới có thể sử dụng, như vậy niềm hạnh phúc và an lạc của chúng ta sẽ tồn tại lâu dài.” và thế là Đức Phật được thỉnh cầu đến sảnh đường đó với cùng một mục đích như vậy. Chính v́ thế họ nói như sau: “bạch Đức Thế Tôn, mong rằng ngài lưu lại tại ngôi nhà nghỉ này của chúng tôi [16] Và rồi ngài đi đến ngôi nhà nghỉ (yena āvasthāgāraṃ ’ upasaṅkamiṃsu): liên quan đến việc ngôi nhà vừa hoàn thành trong cùng một ngày đó, cho dù ngôi nhà được trang bị hoàn chỉnh, và trang hoàng đẹp đẽ[17] giống như thiên cung chư thiên, tuy nhiên ngôi nhà đă không được sửa soạn với mục đích xứng cho một vị Phật Nhân[18] cư ngụ; và chính v́ nghĩ như vậy “giờ đây[19] chư Phật thường hay cư trú trong rừng, lại cứ lấy rừng làm nơi cư trú cho ḿnh, liệu các vị đó có lưu lại[20] trong làng chăng; chính v́ thế chúng ta phải sửa soạn cho thích hợp ngay khi chúng ta biết được Đức Phật muốn ǵ”. Chính v́ thế họ đi đến gần Đức Phật và giờ đây họ biết được ư nguyện của Đức Phật là ǵ, thế rồi họ đi đến ngôi nhà nghỉ với ước muốn sửa soạn cho thích hợp. Họ trải thảm toàn bộ ngôi nhà nghỉ đến độ chỗ nào cũng có thảm (sabbasanthariṃ āvasathāgāraṃ santharitvā): họ đă trải[21] thảm ngôi nhà đó theo cách mà chỗ nào cũng được trải thảm. Trước tiên họ bọc sàn nhà, cho dù trước đó nền nhà đă được láng xi-măng với phân ḅ tươi, v́ tin tưởng rằng, phân ḅ tạo ra nhiều điều thiện” thế rồi họ bôi phân ḅ lên đó sau khi đă biết rơ phân đă khô[22] với nước hoa đó đem lại bốn phần hợp thành[23] theo đó dấu chân không bị phát hiện ngay tại địa điểm giẫm chân lên, trải thảm với nhiều màu sắc trên nền đó, và rồi bắt đầu với một chiếc thảm dầy[24] v.v… và mọi vị trí đều thích hợp để trải lên những tấm thảm như vậy ngài lại cho trải chăn mềm nhiều màu sắc khác nhau, những tấm chăn có h́nh con voi v.v…[25] v́ lư do đó có lời nói rằng “ họ trải lên ngôi nhà nghỉ đó đến độ mọi nơi đều được trải thảm hết”, sau đó trước tiên họ sửa soạn chỗ ngồi cho Đức Phật trang trọng nhất ngay cạnh chiếc cột, tại nơi trung tâm với các chỗ ngồi khác,[26] họ che rèm trên đó với biết bao nhiêu là rèm[27] mỏng và rất đẹp mắt đặt[28] một chiếc nệm màu đỏ ở cả hai bên[29] rất dễ coi, [410] lại có một chiếc lọng trên chỗ ngồi đă được trang hoàng rất sinh động với các ngôi sao bằng vàng và bạc, trang hoàng với những dây toả hương và dây hoa giáng hương v.v…[30] lại có một mạng lưới làm toàn bằng hoa tạo ra xung quanh đó những tia sáng phát ra với đường kính độ ba mươi hatthas[31] một màn che[32] bằng vải bạt, họ cũng đă sửa soạn nào là trường kỷ di văng, chơng nằm, gối ôm và băng dài v.v…[33]về phía tường phía đông dành cho Tăng đoàn các vị Tỳ khưu cũng được treo rèm mỏng rất đẹp[34] và rồi lại biến đổi[35] phía đông pḥng hội[36] trường thành nơi thích hợp dành cho chính các vị Tỳ khưu ngồi thiền. Liên quan đến toàn bộ những ǵ diễn ra có lời nói rằng, “các chỗ ngồi đă được sửa soạn kỹ lưỡng”. B́nh đựng nước (udakamaṇikaṃ) một chiếc b́nh nước có bụng rộng; họ đặt b́nh nước uống tại nhiều nơi khác nhau và đổ đầy nước trong như pha lê và bỏ vào nước nhiều loại bột thơm để làm cho nước có mùi thơm dễ chịu và rồi lấy lá chuối che miệng b́nh lại, nghĩ rằng “Bằng cách này Đức Phật và Tăng đoàn các vị Tỳ khưu có thể rửa chân tay và miệng[37] tuỳ ư” v́ lư do đó có lời nói rằng,“họ đă sửa soạn một b́nh nước to”. Treo một ngọn đèn dầu (telappadīpaṃ āropetvā): họ thắp lên rất nhiều ngọn đèn dầu[38] dưới dạng những ngọn đuốc, (thân ngọn đuốc) được làm bằng bạc và vàng v.v…và[39] bằng những chiếc đĩa làm bằng vàng và bạc đặt vào tay những h́nh tượng biểu trưng những chiến binh”[40].Đi đến gặp Đức Phật (yena Bhagavā ’ upasaṅkamiṃsu): tuy nhiên, về điểm này các dân làng Pāṭali chỉ là những đệ tử phàm phu, không những họ đă tự sửa soạn[41] ngôi nhà nghỉ nhưng c̣n sửa sang cả những đường phố trong toàn bộ ngôi làng, dựng cờ xí, đổ đầy các b́nh nước và cho trồng cây chuối ngay tại cửa vào nhà[42] biến toàn bộ ngôi làng trở thành một ngôi sao được trải đầy những ngọn đèn và ṿng hoa, thế rồi sau khi đă tuyên bố bằng tiếng trống rằng: “Hăy cho trẻ nhỏ bú no sữa, hăy cho trẻ con[43] ăn no nê và đặt chúng lên giường ngủ, và rồi đừng làm tiếng ồn lớn, v́ hôm ngay vị Đạo sư sẽ lưu lại trong làng chúng ta trong ṿng một đêm, và các Chư Phật là những người không thích tiếng ồn” [411] họ đă đi đến gặp Đức Phật và mỗi người đều phải cầm đuốc trong tay. Thế rồi Đức Phật đắp y cà sa, cầm bát khất thực, tiến lại gần ngôi nhà nghỉ đó cùng với Tăng đoàn các vị Tỳ khưu (atha kho Bhagavā [44]nivāsetvā pattacīvaraṃ ādāya saddhiṃ bhikkhusaṅghena yena āvasathāgāraṃ ’ upasaṅkami): người ta nói rằng sau khi đă thông báo cho Ngài giờ đă điểm, nói rằng, “Bạch Đức Thế Tôn, xin Ngài hăy thực hiện chương tŕnh dự định v́ đă đến giờ rồi”. Muốn che dấu thân[45], Đức Phật[46] đă mặc (áo lót) bằng một chiếc y cà sa hai lớp màu đỏ có màu đỏ hoa koviḷāra[47] được tẩm hương thơm sữa như thể ngài tạo ra mùi hương sen đỏ phảng phất bện với đầu mũi tên nhọn[48] cột chặt vào thắt lưng chói ngời như thể một tia chớp, chung quanh Ngài có rất nhiều hoa sen đỏ bện với sợi dây bằng vàng.[49] Ngài che thân ḿnh với chiếc y vai trái rất đẹp, màu đỏ tươi[50] làm bằng những miếng giẻ khâu lại có màu sắc giống như màu chồi cây đa như thể ngài được bao bọc bằng quả cầu phía trước trán con voi với những miếng vải len, hay ngài đang tung lưới san hô[51] trên những tràng hoa cột treo những tràng hoa vàng cao độ một trăm Ratanas[52], hay như thể Ngài đang được bao bọc một điện thờ to lớn bằng vàng với chiếc y vai trái[53] bằng vải len màu đỏ; hay như thể ngài đang dấu mặt trăng rằm khi đi ngang qua đám mây dông màu đỏ tươi hay như thể ngài đang rẩy chất sữa[54] sáng loáng trên đỉnh ngọn núi Vàng Chiếu Sáng (Shining Gold)[55] hoặc giả Ngài đang vây quanh đỉnh ngọn núi Citta peak[56] với một mạng lưới toàn là ánh sáng tia chớp, hay như thể ngài đang tạo ra nơi toàn cơi Cakkavāḷa, Sineru, Yugandharas và địa giới rung chuyển, và rồi tự nhiên[57] khởi xuất khỏi trong đó ngài đang ngồi thiền, như một con sư tử có bờm khởi xuất khỏi rừng rậm, hay như thể Ngài là ánh trăng rằm đang mọc ló ra từ một ngọn núi[58] gần kề đó, hoặc giả giống như mặt trời vừa mọc, từ đó ánh sáng khởi xuất khỏi thân Ngài, như thể chúng đang nhảy múa khỏi một đám mây, khiến cho cây cối tứ phía như lá, hoa, quả cành và nhánh cây của chúng gồm toàn một màu vàng đỏ hoe tiếp theo sau một cơn mưa tinh chất vàng[59]; ngay lúc đó Tăng đoàn các vị Tỳ khưu vây quanh Đức Phật, mỗi người đều mang theo bát khất thực, đắp y cà sa và[60] các vị Tỳ khưu đứng vây quanh Ngài cũng họp thành h́nh dạng như vậy, tức là họ thuộc hạng[61] người thiểu dục, tri túc, sống độc cư, không ngao du, bắt đầu tu luyện tinh tấn. Họ là những người hay nói, là những người kiên tŕ theo dơi cuộc nói chuyện của người khác, họ là những người phù phiếm, những người thường buông ra những lời khiếm nhă những ǵ là bất thiện; là những người có giới tốt, biết thiền định, có tuệ giác, được giải thoát[62], họ là những người có trí và tri kiến giải thoát; vây quanh là các vị này, Đức Phật trông giống như một khối vàng ṛng vây quanh là những tấm vải len màu đỏ, hay Ngài trông giống ánh trăng rằm vây quanh là những cḥm sao sáng[63], [412] hay Ngài là chiếc thuyền vàng đang tiến vào cánh rừng rậm đầy sen đỏ, hay Ngài c̣n giống một toà lâu đài vây quanh là những hàng rào san hô[64], đang toả ánh sáng chói chang. Thế rồi các vị đại Trưởng lăo có Mahākassapa dẫn đầu,[65] mặt khác lại khoác vào ḿnh chiếc y vai trái làm bằng những miếng vải loại thải màu xám giống như màu đám mây dông và rồi vây quanh Đức Phật giống như họ là những cỗ voi được thắng giáp bào Maṇivamma[66] họ đă đoạn tận hết tham dục, đă diệt trừ hết các phiền năo, đă được vượt qua khỏi những pháp cái,[67] nơi họ những kiết sử đă bị cắt đứt tan tành, là những người không c̣n luyến ái với ḍng họ hay nhóm người nào hết. Chính v́ thế Đức Phật đă thoát khỏi mọi ái dục và đă được thoát khỏi mọi dục lạc vây quanh, chính Ngài đă thoát khỏi sân hận, vây quanh Ngài là những người không c̣n sân hận, chính Ngài đă thoát khỏi si mê lại vây quanh với những người vừa thoát khỏi si mê, chính Ngài đă thoát khỏi ái dục và cũng vây quanh Ngài với những người không c̣n chút ái dục nào, chính Ngài đă thoát khỏi mọi phiền năo và vây quanh Ngài là những người không c̣n phiền năo, chính Ngài đă chứng đắc giác ngộ, vây quanh Ngài chỉ toàn là những người đă trải qua giác ngộ[68], Ngài đă lên đường đi về phía làng Pāṭila như là một Đức Phật không ǵ sánh nổi. Với vẻ tỏa sáng của một Đức Phật không ǵ sánh bằng, giống như một sợi dây nhỏ nơi cánh sen, vây quanh là những tán hoa hoặc giả Ngài là chiếc vỏ vây quanh là những chùm lông, hay giống như cỗ voi Chaddanta vây quanh là tám ngàn voi long vương, hoặc giả Ngài giống như vua thiên nga Dhataraṭṭha[69] vây quanh là chín mươi ngàn thiên nga xinh đẹp, hoặc giả giống như một chuyển luân vương vây quanh với một đạo quân gồm bốn đạo binh tinh nhuệ,[70] hoặc giả Ngài giống như vị Sakka, vua các chư thiên vây quanh là những đạo quân hùng hâu, là Maruts[71] hoặc giả Ngài c̣n là vị đại Phạm Thiên Hārita[72], vây quanh là một đám đông các vị Phạm Thiên, hoặc giả Ngài c̣n được ví như mặt trăng rằm vây quanh là một đám đông các v́ sao.[73] Sau đó là những hào quang Phật có màu vàng óng nổi lên từ phía trước mặt Ngài và lan toả ra một vùng rộng tới tám mươi hatthas; cũng như vậy những hào quang Phật[74] vàng óng đó lại toát ra từ thân Ngài, từ phía bên phải, phía bên trái và c̣n trải rộng ra một khoảng không gian khoảng độ tám mươi hatthas. Những hào quang Phật rực sáng như than hồng có màu sắc vương giả, giống như màu sắc ở cổ con công[75] nổi lên khỏi những lọn tóc quăn[76] của Ngài, bắt đầu từ đầu sợi tóc và chiếm một khoảng không gian trên không trung khoảng độ tám mươi hatthas; những hào quang có màu san hô nổi lên từ gót chân Ngài và chiếm khoảng không gian trên mặt đất độ tám mươi hatthas, những hào quang Phật[77] toàn là màu trắng toát ra từ răng của Ngài, từ phần tṛng trắng mắt[78] và từ phần móng tay móng chân của Ngài lộ ra khỏi phần thịt, và chiếm một khoảng không gian rộng đến tám mươi matthas; những hào quang có màu đỏ sẫm nổi lên từ phần có màu đỏ và vàng toát ra, và chiếm một khoảng không gian rộng đến tám mươi hatthas;[79] trong khi đó toàn bộ những tia sáng chói chang đơn giản phân toả khắp nơi.[80] Như vậy với những hào quang Phật sáu màu[81] đang toát ra, đang toả sáng lung linh, đang phát ra tứ phía khoảng độ tám mươi hatthas, [413] đang lan tỏa vào khắp tứ phương giống như những ngọn lửa của một chiếc đèn lớn toả sáng[82] vào không gian sau khi đă phát ra từ những ngọn đuốc toả ánh sáng vàng óng v.v…. hay giống như những tia chớp phát ra từ những đám mây dông đen kịt bao trùm khắp bốn đại lục, nhờ đó có nghĩa là[83] khắp tứ phương thiên hạ đă rực sáng lên, giống như chúng được rắc với những chiếc hoa campaka[84] màu vàng, hay chúng được rải lên với những cơn mưa tinh chất vàng từ một b́nh đựng nước vàng, hoặc chúng được rải với những trận mưa tinh chất vàng từ một b́nh nước vàng, hay chúng đă được phủ lên bằng những sợi dây vàng[85] trải rộng[86] khắp nơi, hay chúng được phủ với một lớp hoa kiṃsuka[87], kaṇikāra[88] và koviḷāra[89] được tung ra bằng một trận gió veramba[90] hay chúng được biến màu[91] bằng một chất bột ch́. V́ thân Đức Phật điểm với ba mươi hai tướng của vị đại nhân đă toả sáng và với tám mươi tướng phụ vây quanh[92] là những hào quang từ đầu đến chân tỏa sáng như thể thân đó được tạo ra với những ánh sáng các tinh tú.[93] Thân xác đó được toả sáng sau khi thoát khỏi những triền phược của một đám mây dầy đặc hay một đám mây tuyết v.v…[94] hoặc giả thân đó là một cánh rừng sen đỏ nở đầy mặt nước thiên cung, hoặc giả thân đó tương tự như một pāricchattaka[95] trải dài hàng trăm do tuần nở rộ, hoặc giả thân Ngài được chế ngự với một loại hào quang rực rỡ, ánh sáng rực rỡ của ba mươi hai mặt trời gom lại, ba mươi hai mặt trăng, và ba mươi hai chuyển luân, ba mươi hai Thiên Vương và ba mươi hai đại Phạm thiên như đang trải rộng ra liên tiếp[96], bởi v́[97] thân Ngài được trang điểm như vậy là do kết quả từ toàn bộ ba mươi pháp ba la mật Ngài đă chu toàn được một cách thích hợp và thành tựu, tức là mười pháp ba la mật bờ kia, mười pháp ba la mật bờ trên và mười pháp ba la mật bờ cao thượng[98], kết quả là do của bố thí đă được phân phát, giới đă được ǵn giữ cẩn thận và những hành vi tốt đẹp đă được thực hiện trong suốt bốn A tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp nữa[99] (và) đă hiện hữu sau khi toàn bộ những hành vi đó đă ḥa nhập thành một hiện hữu duy nhất, giống như những hành vi đó đă đạt đến điểm tột đỉnh sau khi đă không đạt được cơ hội tạo dị thục (thêm vào đó) như vào thời điểm xuống một chiếc tàu[100] duy nhất song lại có tới cả ngàn kiện hàng, hay vào thời điểm lên xe[101] nhưng lại có đến cả ngàn kiện hàng cần chuyên chở, hay giống như vào thời điểm có tới hai mươi lăm ḍng sông Hằng dồn lại ngay tại một cửa sông chảy ra biển[102]. Mặc dù có một thực chất là Ngài đang tỏa ra hào quang, tuy nhiên chúng được tích tụ lại trước Đức Phật vô vàn vô số các ngọn đuốc, cũng giống như thế từ phía đàng sau chúng cũng tản mạn ánh sáng ra cả phía trái, phía phải những cánh hoa như những cánh hoa nhài (jasmine) nở rộ[103], với campakas, jasmine[104], uppalas[105] đỏ thắm, uppalas màu xanh dương, bakulas[106], sindhuvāras[107] v.v…cũng như bột tỏa hương cũng có màu xanh và màu vàng v.v… giống như nước mưa rơi xuống[108] từ những đám mây giông phủ kín cả bốn lục địa. [414] Và khắp tứ phương thiên hạ tràn ngập tiếng nhạc năm loại nhạc cụ[109] và với tiếng reo vui mừng vang vọng tiếng khen ngợi với Đức Phật, Phật Pháp và Tăng đoàn. Họ đă hành động hầu như một cách khàn khàn[110] lọt tới mắt[111] các chư thiên supaṇṇas, long vương, dạ xoa, càn thát bà và chúng sanh, giống như thức uống bất tử[112]; hơn thế nữa thật là thích hợp trong khi tại điểm này để vang lên những lời khen ngợi từ dáng đi với hàng ngàn câu kệ[113]. Trong trường hợp này, đây chỉ là những lời giới thiệu mà thôi: “Các chi của Ngài quá hoàn chỉnh khiến cho người giàu có[114] phải lung lay, vị thầy thế gian[115] du hành mà không gây hại chúng sanh. Trước hết nhắc chân lên, bậc Ngưu vương[116] đang trên đường đi đă có hào quang rực rỡ – loài hai chân tuyệt hảo tỏa sáng huy hoàng. Dưới[117] gót chân các Đức Phật[118] tuyệt hảo nhất, là con đường êm dịu và bằng phẳng, đang khi c̣n tiến bước trên đường, Ngài bước trên đất mà bụi đất chẳng làm bẩn gót chân ngài. Những chỗ thấp được nâng lên cao khi vị tối thượng thế gian đi ngang qua, trong khi đó nơi nào cao lại được bạt xuống cho bằng phẳng, ấy vậy mà thế gian cũng không hay biết điều đó. Đá sỏi và đá cuội cũng như gốc cây và gai góc, toàn bộ đă bị loại bỏ[119] khỏi lối đi khi vị thủ lănh thế gian đi ngang qua. Ngài chẳng nhấc chân lên quá cao, trong khi đó cũng không đặt chân xuống[120] quá gần[121] Ngài bước đi mà chẳng đụng chạm ǵ đến đầu gối[122] và mắt cá chân của Ngài. Vị hiền triết là người có thiện hạnh không ra đi một cách nhanh chóng, song Ngài cũng chẳng cất bước chậm chạp bao giờ, Ngài đang bước trên đường, tâm lại hành thiền định. Chẳng liếc mắt nh́n lên cũng như không nh́n xuống, cũng vậy Ngài chẳng nh́n ngang ngửa khắp tứ phương mà chỉ nh́n vào rănh cày ở phía trước. Với một hành động biểu hiện ḷng dũng cảm một naga[123] vị chiến thắng thật tuyệt như một dáng đi; thủ lănh thế gian[124] đi qua hiên ngang dũng mănh, tạo cảm xúc phỉ lạc trên thế gian này lẫn cho cả chư thiên. Cùng bậc Ngưu vương[125] tỏ vẻ oai hùng lộng lẫy, di chuyển hiên ngang[126] như sư tử có bờm, tạo sung sướng cho biết bao chúng sanh và đă đi tới ngôi làng tuyệt hảo nhất[127]” [415] Tuy nhiên[128] con người này, vào đúng lúc được khen ngợi, vào[129] những dịp thuộc loại này, th́ giới hạn, liên quan đến khen ngợi về thân Đức Phật, hoặc giả có liên quan đến những ân đức đặc biệt của Ngài, chỉ là những sức chịu đựng của vị truyền thừa Phật Pháp v́ những lời khen ngợi đó cần phải được thốt lên, với bất kỳ mức độ nào có thể, do những người soạn thảo các đoạn kệ với những đoạn văn pha tạp linh tinh.[130] Trong những trường hợp như vậy ta không thể cho là nói như vậy là sai[131], hay người truyền tụng Phật Pháp là người đă nhảy từ tận sai này[132] sang tận sai khác, v́ Chư Phật, Thế Tôn là những người nhận được lời khen bất tận, ngay cả chính các Chư Phật cũng không thể thốt lên được lời ca ngợi về các ngài, v́ các ngài không thể làm cho lời khen đó đạt đến tột đỉnh ngay cả khi các ngài có kéo dài việc khen ngợi này[133] cả hằng đại kiếp kappa trọn vẹn;[134] chính v́ thế làm sao những người c̣n lại nơi thế hệ này có thể làm khác được. Với vẻ đẹp lộng lẫy và sức thu hút mạnh mẽ đến như vậy Ngài đă đi vào[135] ngôi làng Pāṭali, (kể từ lúc này) mọi người quần áo đă chỉnh tề và trang điểm rực rỡ[136] đó và khi ngài được kính lễ[137], khi ngài đă vào ngôi làng đó, với ḷng tôn kính chúng sanh đă mang theo hoa[138], hương, nhang và bột nước hoa v.v…đem đến dâng cúng Ngài, Đức Phật đă tới ngôi nhà nghỉ, v́ lư do đó có lời nói rằng “Thế rồi Đức Phật đă đắp y cà sa, lấy bát khất thực và mang theo y tăng già lê đi vào ngôi nhà nghỉ đi kèm theo là Tăng đoàn các vị Tỳ khưu”. Ngài đă rửa chân (pāde pakkhāletvā): ngay cả[139] khi bụi bẩn và mồ hôi không bao giờ vấy bẩn chân Ngài, tuy nhiên Đức Phật cũng đă rửa chân t́m cách đem đến điều tốt lành to lớn hơn cho chúng sanh và nhằm tạo thành một tấm gương cho những người khác[140]; hơn thế nữa, Đức Phật cũng muốn thực hiện (những việc làm như) tắm, rửa chân v.v…[141]nhằm mục tiêu này nữa[142], tức là về vấn đề này đây là điều muốn ám chỉ về thân [143] chấp thủ với (những ǵ tạo nghiệp chướng) của Ngài cũng cần thiết phải được làm nguôi đi. Giới thiệu Đức Phật trước họ: Bhagavantaṃ yeva purakkhatvā = Bhagavantaṃ purato katvā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Ngồi thiền tại đó giữa các vị Tỳ khưu và các cận sự. Đức Phật đă tỏa sáng vô cùng rực rỡ, giống như một h́nh ảnh rắn chắc bằng vàng lộng lẫy, giống như một chiếc hoa được đặt trên một chiếc bệ che bằng một miếng vải len đỏ,[144] sau khi Đức Phật đă tắm trong nước thơm và giũ sạch nước đó với miếng vải được quấn vào ḿnh, và sau đó được lau khô nước bằng một chất thần sa tinh tuyền[145]. Hơn thế nữa liên quan đến đây chính là thánh đạo các vị Trưởng lăo đă thực hiện trong việc tụng những lời khen ngợi này như sau: “Sau khi đă đi ṿng một lượt hàng rào vây quanh[146], bằng một hành động[147] diễn đạt năng lực naga, vị thủ lănh thế gian ngồi lại nơi tốt nhất, toả sáng toàn bộ những ǵ nơi ngài. |