NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

10. DABBA (2)

Trong Kinh Phật thứ mười: Hăy xem ḱa!Đức Phật thực sự đă nói với các vị Tỳ khưu (tatra kho Bhagavā bhikkhū āmantesi): Khi c̣n đang lưu lại[1] tại khu rừng Jeta vào thời điểm thích hợp Đức Phật đă đến thành Sāvatthi, đang khi ngài c̣n trên đường du hành ngang qua nhiều vương quốc, sau khi đă lưu lại trong thành Rājagaha với sanh tử minh Ngài đă nói với các vị Tỳ khưu để làm rơ việc trưởng lăo Dabba, con trai nhà vua Malla đă vô dư níp bàn như thế nào. Trước tiên Ngài nhắc lại sự việc này cho những vị Tỳ khưu không được chứng kiến chính biến cố[2] đó, cũng như nhằm mục đích khơi dậy ḷng kính trọng đối với một vị trưởng lăo nơi những phàm phu khi họ đă để mất ḷng kính trọng đó đối với một vị trưởng lăo do Mettiya và Bhummajaka[3] đă để lại nhiều ảo giác sai lầm về vị trưởng lăo này. Về điểm này: Tatra[4](Hăy xem ḱa !) là một tiểu từ (hiểu theo nghĩa) tạo chú ư đến một lời phát biểu[5] kho (quả thực) (hiểu theo nghĩa một lời khẳng định nhấn mạnh. Đối với các vị Tỳ khưu này, ngài nhấn mạnh bằng tiểu từ này “nh́n ḱa!” chính thực tế cho thấy các từ “do Đức Phật đă nói với các vị Tỳ khưu” đă thường xuyên được thốt lên. Ngược lại ngài làm rơ vấn đề bằng từ “quả thực”, thực tế là Ngài đă nói với họ. Chẳng có trở ngại nào xuất hiện lúc ngài nói với các vị Tỳ khưu đó, hay nói cách khác tatra (“ngay tại đócó nghĩa là ngay tại  hành xứ (resort) đó, kho (quả thực) lại chỉ là một tiểu từ hiểu theo nghĩa thêm bớt cho lời tuyên bố[6] đó. Ngài đă phán (āmantesi): đă nói với. Nhưng v́ lư do ǵ Đức Phật chỉ nói với các vị Tỳ khưu? Do mức độ thâm niên, mức độ vượt trội, mức độ gần gũi và sống cận kề với nhau, và do thực tế là họ đă tạo ra được một  chấp tri đặc biệt hoàn hảo với việc diễn giải Phật Pháp[7]. “Hỡi các vị Tỳ khưu” (bhikkhavo) chính là cách giải thích về những ǵ Ngài nói với họ, “ôi Đức Thế Tôn” (bhadante) cho thấy các vị Tỳ khưu đă nói một cách kính cẩn khi phải trả lời lại vị Đạo sư như thế nào. Về điểm này, khi Ngài phán, “hỡi các vị Tỳ khưu”,  Đức Phật đă nói với (ālapati) các vị Tỳ khưu đó; khi thốt lên,“bạch Đức Thế Tôn” là họ đáp lại (paccālapanti) lời Đức Phật, và hơn thế nữa, bằng cách thốt lên lời “hỡi các vị Tỳ khưu”, điều này đi kèm với tấm ḷng từ ái nhân hậu, và cặp mắt nh́n xuống tạo ra cách phát tán ḷng từ tâm.[8] Ngài đă hướng chú ư các vị Tỳ khưu này từ chỗ tác ư đến đề mục thiền và quán xét pháp v.v…và tạo cho họ nh́n thẳng vào mặt Ngài; đang khi đó bằng cách thốt lên “bạch Đức Thế Tôn” nhằm làm rơ ḷng quan tâm, ḷng kính trọng và kính lễ đối với vị Đạo sư, những vị Tỳ khưu đó đă thể hiện được ước muốn lắng nghe và với phong cách kính trọng nhờ đó họ đă trở thành những người chấp nhận lời động viên khích lệ của Đức Phật. Họ đă đồng ư với Đức Phật (Bhagavato paccassosuṃ): những vị Tỳ khưu đó đă tỏ rơ sự ưng thuận (paṭi-assosuṃ, một dạng ngữ pháp khác) đối với lời phát biểu của Đức Phật, đă tạo ra nơi họ ước muốn lắng nghe[9]. [435] Ngài đă nói lời này (etad avoca):  Đức Phật đă diễn đạt bằng lời nói[10] toàn bộ Kinh Phật ngay lúc này về những ǵ Ngài đă phán với họ. Hỡi các vị Tỳ khưu, khi (thân xác) trưởng lăo Dabba, con trai nhà vua Malla (Dabbassa bhikkhave Mallaputtasa) v.v…có cùng ư nghĩa như đă được khẳng định ngay trong Kinh Phật ở trên.

Nhưng, liên quan đến các đoạn kệ, do vậy đă dùng búa sắt mà nện (ayoghanahatassa): v́ ta chỉ lấy búa thép để nện (haññati) sắt thép (ayo)  đây phải là một “chiếc búa bằng thép” (ayoghanaṃ). “chiếc gậy tay bằng thép” (ayokūa) hay chiếc vồ bằng sắt (ayomuṭṭhi) của các người thợ rèn v́ họ dùng búa sắt để nện, để giáng xuống cục sắt nóng đỏ. Tuy nhiên, có một số người lại cho rằng ư nghĩa từ ayoghanahatassa phải được hiểu là ghana-ayopiṇḍaṃ hatassa (? Do những vật dùng để đập lên một cục thép cứng), và về vấn đề này, từ eva (không được dịch) chỉ có tác dụng là một tiểu từ mà thôi. Cho dù ngọn lửa vẫn tiếp tục lóe sáng (jalato jātavedaso): cho dù lửa (aggissa) vẫn tiếp tục loé lên[11], đây lại là sở hữu cách (hiểu theo nghĩa thiếu quan tâm[12] (không để ư tới). Điều ǵ đó vẫn liên tục tiêu tan đi (anupubbūpasantassa): những ǵ vào đúng thời gian qui định, đă chết đi, đă bị thiêu rụi đi, tiêu tan đi[13], đă diệt. Giống như sanh thú là điều không ai biết trước được (yathā na ñāyate gati): giống như sanh thú của mỗi người là điều không thể biết trước được (ñāyati, một dạng ngữ pháp khác), đây chính là điều được đề cập đến:  chính v́ điều đó đă phải nện, người ta đă nện liên tục[14] với chiếc búa[15] to tướng làm bằng thép, như thể chiếc vồ bằng thép hay chiếc gậy tầm bằng sắt v.v…. hay với ngọn lửa đang toả sáng trong một hỏa ḷ làm bằng đồng v.v…[16] hay cũng giống như vậy có một số tiếng động phát ra, đến đúng thời gian qui định cũng sẽ tắt lịm đi, hoàn toàn bị chế ngự. Một sanh thú cũng được biết tới khắp tứ phương thiên hạ, liên quan đến sanh thú đó bị diệt theo cách bất tương quan do các nguyên nhân (tạo ra điều đó) đă bị diệt, chính v́ thế đối với người nào đă được giải thoát hoàn toàn, v́ vậy[17] đối với người nào được giải thoát một cách thích hợp, liên quan đến việc giải thoát thích hợp và chính xác[18] đó, với nhân duyên thích đáng, giải thoát khỏi toàn bộ bốn chấp thủ[19], khỏi các phiền năo, bằng cách áp dụng thánh đạo tiếp theo sau giải thoát thông qua nhất thời và trấn áp[20] chỉ với điều đó họ mới trở thành những người đă vượt qua bộc lưu, cũng là hệ phược. Liên quan đến t́nh trạng họ rất kiên định sau khi đă vượt qua dục bộc lưu, được coi như một ḍng chảy tham dục[21] liên tục và những bộc lưu c̣n lại được phân thành hữu bộc lưu, v.v…[22] Đối với người nào đă vượt qua, đối với người nào đă diệt trừ được hết phiền năo nơi ḿnh, là người đă chứng đắc, niềm hạnh phúc, sung sướng[23], là người đă chết đi với các hành, được coi là Níp bàn vậy, quả thật níp bàn là điều chẳng c̣n vấn vương bất kỳ sanh y tồn tại nào, không gây dao động, mà dao động không c̣n khởi sanh được nữa do toàn bộ phiền năo tạo ra đă được an tịnh (diệt trừ) hoàn toàn và liên quan đến trạng thái không c̣n bất kỳ dao động nào do luồng gió phiền năo và các tích lũy bất thiện ảnh hưởng đến, chẳng cần biết đến làm ǵ, chẳng cần khám phá ra làm ǵ, do bởi chẳng ai có khả năng biết trước sanh thú đó đâu, những sanh thú đo ta lại phân thành sanh thú chư thiên và sanh thú nhân loại v.v…[24] bằng cách chỉ dùng làm “tên gọi như vậy”mà thôi, v́ giống như ngọn lửa[25] ta đă đề cập đến ở trên điều này cũng có trạng thái tương tự như đă được định nghĩa và mô tả[26] vậy. Đây chính là ư nghĩa muốn nói đến ở đây.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ mười kết thúc tại đây.

Và việc diễn giải chương tám[27] cũng kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

 

[1]. Chú giải Be giải thích là anukkamena…viharanto yeva c̣n bản văn Ce Se ghi là anukkame’ eva…viharanto.

[2].  Ce Be Se giải thích là tesaṃ taṃ c̣n bản văn ghi là tesaṃ

[3]. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 431 ở trên.

[4]. Những ǵ diễn ra tiếp theo sau đây có thể được so sánh với những giải thích có đôi lúc theo một thứ tự khác nhau đôi chút, được t́m thấy trong MA i 13tt, 20, 241; SA ii 1tt; AA i 16tt; It-a i 38tt; Sn-a 394tt.

[5]. Lời công bố chính là điều Ānanda đă thực hiện với các vị Tỳ khưu. chính trưởng lăo Ānanda đă kể lại Kinh Phật này.

[6].  Khi Ud (Phật Tự Thuyết) đă trở thành điều “trong đó thực sự Đức Phật đă nói với các vị Tỳ khưu bằng từ “hỡi các vị Tỳ khưu”.

[7]. Lời tuyên bố hầu như khó hiểu này t́m thấy cách giải thích trong các tập chú giải khác đă được trích dẫn, lời giải thích đó đă khẳng định rằng các vị Tỳ khưu đó đă tạo thành tăng đoàn các vị trưởng lăo và tăng đoàn của họ đă trở thành tăng đoàn đầu tiên xuất hiện. Họ đă trở thành vượt trội không những v́ họ đă hành động theo đúng với lối sống của vị Đạo sư thông qua cuộc sống vô gia cư nhưng cũng chính v́ họ đă là những người tiếp nhận toàn bộ giáo lư của Đức Phật, họ đă sống gần gũi với  Đức Phật do họ đă ngồi thiền vào thời điểm đó trước sự hiện diện của  Đức Phật chính v́ họ đă được hưởng t́nh trạng đẳng vô gián mọi lúc mọi nơi v́ họ đă là những thánh đệ tử của chính vị Đạo sư; hơn thế nữa chính họ c̣n là một chấp tri diễn giảng Phật Pháp v́  chính bản chất của họ lại là tu luyện thông qua giảng dạy cho người khác.

[8]. Ce Be giải thích là karuāvipphārasommahadayanissita-pubbagamena c̣n bản văn và toàn bộ các tập chú giải khác lại ghi là karuāvipphāra-sommahadayanayananipāta-pubbagamena, chú giải Se giải thích là karuūppāda-somahadayassa nissitapubbaṅgamena; xin đọc chú giải Pv-a 178 để biết thêm những chi tiết tương đồng được khẳng định về vị  Độc Giác Phật Sunetta.

[9]. Sotukāmata janesu; các tập chú giải khác đă khẳng định rằng  Đức Phật đă tạo ra nơi họ ước muốn nghe Phật Pháp (nesaṃ sotukamyataṃ janeti) thông qua đó mà cùng một lời tuyên bố ngài đă tạo cho họ nh́n thẳng vào Ngài.

[10].  Ce Be Se giải thích là abhāsi c̣n bản văn ghi là ahosi.

[11]. Jhāyamānassa; rất có thể trong câu thứ hai trong số hai ư nghĩa đă đưa ra trong chú giải  Ud-a 433 ở trên, và hiểu theo nghĩa đen là “tiếp tục bừng cháy.”

[12]. Có nghĩa là người bị đập bằng búa đó đang chết dần chết ṃn, mặc dù thực tế là ngọn lửa vẫn tiếp tục toả sáng. Tuy nhiên đây không phải bằng cách nào các tác phẩm Dhammapāla lại đề cập đến ngọn lửa trong lời diễn giải tiếp theo sau đó của ngài trong đó lửa h́nh như trở thành nét đặc trưng như là một trong số nhiều ví dụ trong việc các đối tượng biến mất.

[13]. Ce Be Se giải thích là vijjhātassa c̣n bản văn ghi là vighātassa.

[14]. Saṃhatassa; theo nghĩa đen “xung đột với” v.v…tôi cho là đoạn kệ và cách giải thích ở đây đang phải đương đầu với một t́nh huống một người thợ rèn đă đập một miếng kim loại nóng đỏ hay nguội (như thể móng sắt đóng vào chân ngựa) với chiếc búa kim loại của ông ta, chính v́ thế mà ông ta đă tạo ra một tia lửa lại dần dà tắt ngấm, trong khi đó nguồn của tia lửa đó, là miếng kim loại lại tiếp tục toé sáng. Nếu như vậy th́ việc tham khảo về “ngọn lửa” h́nh như có thể cho thấy rơ đó là miếng kim loại nóng, hơn là ngọn lửa của người thợ rèn đâu.

[15].  Ce Be Se giải thích là mahatā c̣n bản văn ghi là pahatassa.

[16]. Kasabhājanādigatassa vā jalamānassa aggissa.

[17].  Chú giải Be Se giải thích là evaṃ; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua.

[18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ñāyena c̣n bản văn ghi là nayena; xin đọc chú giải Ud-a 234 ở trên để biết thêm những chi tiết tương đồng.

[19]. Upādānehi; cùng một từ này cũng được giải thích là “nguyên liệu” khi văn cảnh đang đề cập đến lửa – xin đọc chú giải thí dụ như câu kết của tập chú giải về Kinh Phật trước đó. Đối với bốn chấp thủ, xin đọc  chú giải D iii 230.

[20]. Xin đọc chú giải  Ud-a 32 ở trên.

[21]. Kāmappabandha (chú giải Be giải thích là kāmapabandha); chú giải Se giải thích là kāmabandha.

[22].  Ce Be Se giải thích là kāmogha bhavoghādibheda c̣n bản văn ghi là kāmoghādibheda, rất có thể đây chỉ là một cách ám chỉ đến bốn bộc lưu được đề cập đến trong D iii 230, trong trường hợp đó những ǵ khác là tà kiến và vô minh.

[23].  Chú giải Ce Be Se giải thích là sukha pattāna c̣n bản văn ghi là sampattāna.

[24]. Xin đọc chú giải  Ud-a 140  ở trên.

[25]. Rất có thể ở cuối tập chú giải Kinh Phật trước đó.

[26]. Apaññattikabhāva; apaññattika chính là cùng một gốc với paññāpetu cần phải được làm rơ, được đề cập đến ngay lập tức ở trên. xin cũng đọc Ud-a 175, 216, 353 ở trên.

[27]. Aṭṭhama; chú giải Be giải thích là Pāaligāmiya, là những dân làng người Pāali.