|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
9. DABBA (1) Trong Kinh Phật thứ chín: Trưởng lăo (Đại đức) (āyasmā) là một từ biểu lộ ḷng yêu mến. Dabba (Dabbo) là tên vị trưởng lăo[1] đó. Con trai của ngài Malla (Mallaputto): con trai (hoàng tử) của nhà vua Malla. V́ chính vị trưởng lăo này là người đă thực hiện nguyện vọng[2] ngay dưới chân Đức Phật Padumuttara, và là người đă thực hiện được rất nhiều công đức tích tụ một trăm ngàn đại kiếp kappas, ngài đă tái sanh trong cung ḷng hoàng hậu của nhà vua Malla dưới thời Đức Phật của chúng ta, và rồi, liên quan đến một thực chất là sau khi ngài đă hoàn tất[3] việc phục dịch của ngài, ngài đă đi đến gặp cha mẹ ḿnh[4] đang lúc mới chỉ lên bảy tuổi và cầu xin các ngài cho phép xuất gia. Thế rồi cha mẹ ngài đă đồng ư nói rằng, “hăy thực hiện xuất gia và tu luyện ân đức thích hợp; nhưng con phải quay trở về nhà ngay nếu như con không thích thú cuộc sống xuất gia đó.” Vị Hoàng tử đi đến gặp Đạo sư và xin phép được xuất gia. Kết quả là với lời động viên nhắn nhủ ngài nhận được nhân dịp xuất gia, tam đề tái sanh[5] (hiện sinh-triad) đă xuất hiện nơi ngài như một luồng sáng chói chan. Ngài thiết lập thiền minh sát và, đang khi vẫn c̣n trong sảnh đường xuống tóc, ngài đă chứng đắc bậc A-la-hán[6]. Ngài đă chứng đắc được bất kỳ điều ǵ một đồ đệ đích thực đă chứng đắc – như thể tam minh, bốn đạt thông, lục thần thông, chín pháp thánh, v.v… sau khi đă chứng đắc toàn bộ những điều trên, vị hoàng tử đă trở thành đệ tử trong số tám mươi đại đệ tử[7]. V́ lư do đó chính vị trưởng lăo đă nói rằng, “ta đă chứng đắc A-la-hán vào lúc bảy tuổi; bất luận điều ǵ một đồ đệ đích thực phải chứng đắc, chính ta đă chứng đắc hết. (Vin iii 158) v.v… Đi đến gặp Đức Phật (yena Bhagavā ’ upasaṅkhami): người ta kể lại rằng, vị trưởng lăo, vừa khi quay trở về nhà sau cuộc du hành khất thực tiếp theo sau bữa ăn trưa, sau khi đă du hành nguyên một ngày t́m kiếm của khất thực trong thành phố Rājagaha, đă quay trở lại trú xứ nghỉ ngơi trong ngày sau khi muốn có ư định đến gặp Đức Phật, [431] ngài liền lấy một chút nước từ chiếc b́nh đựng sẵn nước, rửa chân, làm mát thân, và rồi ngồi thiền trên một chiếc nệm da đă được trải ra, trước tiên sau khi đă ấn định thời gian hành thiền đă chứng đắc thiền chứng. Thế rồi sau khi đă khởi xuất khỏi các thiền chứng đó khi thời gian ấn định đă măn, vị trưởng lăo đă nh́n rơ chính các thọ hành của ḿnh, các thọ hành này đă hoàn toàn cạn kiệt, tự xuất hiện trước mặt vị trưởng lăo[8] như đă được định đoạt thêm một vài giây phút nữa[9]. Vị trưởng lăo nghĩ rằng: “ H́nh như đối với tôi chưa phải là thời gian để thực hiện vô dư níp bàn đang khi c̣n ngồi thiền tại đây như thế này mà chưa thông báo cho Đạo sư cũng như các đồng phạm hạnh của ḿnh. Điều ǵ sẽ xảy ra, nếu như tôi đi đến gặp đạo sư, để xin ngài cho phép tôi nhập vô dư níp bàn chăng[10] và rồi sau khi đă làm rơ mối ưu tư của ta cho vị đạo sư, ngài đă ngồi thiền trên không tỏ rơ oai lực sức mạnh của ta[11] với mục đích làm rơ bản chất của giáo lư Đức Phật là điều hiện hữu[12], nhập thiền chứng hỏa đại và rồi nhập vô dư níp bàn? điều này đă diễn ra y hệt như vậy. Niềm thành kính khởi sanh cho dù đối với cả những người thiếu niềm tin nơi ta[13], đó là điều đem lại hạnh phúc và sung sướng lâu dài cho họ,” và sau khi suy nghĩ như vậy, vị trưởng lăo đó đă đi đến gặp Đức Phật và thực hiện tất cả những ǵ ngài đă dự định[14], v́ lư do đó có lời nói rằng “Vị Trưởng lăo Dabba, con trai của ngài Malla, đă đi đến gặp Đức Phật” v.v…Về điểm này. Đă đến lúc ta phải nhập Vô dư níp bàn (parinibbānakālo me): ngài cho biết: “bạch Đức Thế Tôn , đă đến lúc con phải nhập vô dư níp bàn thông qua đại níp bàn chẳng c̣n bất kỳ tàn dư sanh y nào xuất hiện nữa; con muốn chứng đắc vô dư níp bàn, một khi ngài đă bạch với Đức Phật điều này” Tuy nhiên một số người lại nói rằng vị trưởng lăo[15] này cầu khẩn Đức Phật để từ giă[16] giáo lư của ngài nhằm mục đích chứng đắc vô dư níp bàn. Cho dù có một thực tế là ngài chẳng phải là già yếu cũng chẳng ốm đau ǵ, đây chính là lư do của điều này[17]; ngài yêu cầu được từ giă vị đạo sư sau khi đă đi đến kết luận là “các vị Tỳ khưu Mettiya và Bhummajaka trước đó đă buộc tội ta với một thất bại [18] đó là điều vô cớ [19], ấy vậy mà họ vẫn cứ nguyền rủa tôi ngay cả sự việc đă được giải quyết; trong khi đó những phàn phu khác; v́ tin họ lại đối sử với tôi với ḷng thất kính và khinh miệt; tôi có điều ǵ mà cứ phải mang đi khắp nơi cái gánh nặng vô dụng của đau khổ này? chính v́ thế, ta phải nhập vô dư níp bàn ngay lập tức”. Nhưng đây quả là điều vô lư. Đối với người nào mọi phiền năo đă bị diệt trừ cho đến khi nào các thọ hành của họ chưa đi đến chỗ cạn kiệt vẫn hướng cả tâm họ về vô dư níp bàn lại ứng dụng và[20] tập luyện nhằm mục đích đạt đến đó. V́ sợ bị khiển trách và v.v…về phía những người khác.; tuy nhiên [432] chính họ cũng không thể tồn tại lâu dài nhằm mục đích được khen ngợi v.v…về phía những người khác; hơn thế nữa họ chỉ chờ đợi các thọ hành của họ đạt đến cạn kiệt hoàn toàn duy chỉ do kết quả của quy tŕnh vận hành[21] của họ cho phù hợp với điều[22]: được nói như sau: “Ta không c̣n chờ đợi sự chết đâu, ta không c̣n chờ đợi sự sống nữa; ấy vậy ta chỉ chờ đợi thọ hành của ta kết thúc, như người làm thuê đợi tiền lương của ḿnh vậy.” (Thag 606) Đức Phật cũng đă quán xét thọ hành của vị ấy, và được biết chúng đă đến thời cạn kiệt hoàn toàn, đă lên tiếng nói rằng: “ hỡi Dabba, nhà ngươi phải thực hiện điều ǵ nhà ngươi phải làm vào lúc này v́ thọ hành của nhà ngươi đă điểm.” Bay lên[23] trên không trung (vehāsaṃ abbhuggantvā): hăy bay lên (abhi-uggantvā, một dạng ngữ pháp khác) trời, ư nghĩa ở đây là tiến vào (gantvā) không trung (vehāsaṃ); v́ đây (vehāsaṃ) chính là đối cách liên quan đến việc có sử dụng một tiếp đầu ngữ abhi. Tuy nhiên ta nên hiểu ư nghĩa ở đây là định sở cách (nếu như được hỏi) ngài làm ǵ sau khi bay lên không trung, ngài nói, “Ngồi kiết già trên không trung” v.v…Về điểm này: nhập thiền chứng hỏa đại (tejodhātuṃ samāpajjitvā): chứng đắc thiền chứng bao gồm đệ tứ thiền Jhanas nơi hỏa xứ đề mục kasiṇa[24] . C̣n đối với vị Trưởng lăo, vào thời điểm đó ngài đă đứng ngay sát bên, sau khi đă từ giă Đức Phật và đi ṿng quanh Ngài ba ṿng về phía bên phải, nói rằng: “hơn một trăm ngàn đại kiếp Kappas qua, ôi Đức Thế Tôn con đă sống và thực hiện những hành vi công đức tại nơi này nơi nọ cùng với ngài, con đă hành động nhắm tới một mục tiêu duy nhất mà thôi; cũng chính nhắm tới cùng một mục tiêu đó mà ngày hôm nay con đă chứng đắc tột đỉnh, đây là lần cuối cùng Ngài nh́n thấy con” đối với một số người trong số những người hiện diện ở đó họ là những vị Tỳ khưu phàm phu hay các vị nhập lưu, và các vị nhất lai đă nổi lên ḷng thương xót vô hạn, (trong khi đó) một số trong họ đă phải rơi lệ. Thế rồi sau khi Đức Phật đă khẳng định tâm [25] trọn vẹn của vị trưởng lăo, ngài nói rằng:“Tốt lắm, hỡi Dabba, trong trường hợp này hăy thị hiện phép thần thông uy lực của con[26] cho ta và Tăng đoàn được chứng kiến”. Ngay lập tức toàn bộ Tăng đoàn các vị Tỳ khưu tụ tập lại; thế rồi vị trưởng lăo Dabba đă thực hiện toàn bộ các phép thần thông cho các vị đồng phạm hạnh chia sẻ, được truyền lại theo phương pháp như “một ḿnh ngài biến thành nhiều người.” v.v…[27]một lần nữa ngài lại đănh lễ Đức Phật, bay lên trên không trung, tạo thành mặt đất trên không trung[28] và rồi ngài ngồi thiền[29] trong tư thế kiết già trên đó. Thực hiện công việc sơ khởi liên quan đến thiền chứng đó ngay trong đề mục thiền hoả biến xứ (fire-kasina). Chứng đắc thiền chứng đó, khởi xuất khỏi đó, rồi ngài hướng tâm về thân, một lần nữa ngài lại chứng đắc thiền chứng đó[30], chuyển hỏa đại đó phải tiêu huỷ thân xác ngài[31], và rồi cuối cùng ngài chứng đắc vô dư níp bàn. Toàn bộ thân xác ngài rực sáng chói lên với ngọn lửa tiếp theo sau quyết tâm đó, và thông qua sức mạnh của quyết định đó, ngọn lửa đó, như thể với lửa dẫn tới kết thúc một đại kiếp kappa,[32] ngay tức khắc đă thiêu ruị bất kỳ điều ǵ đă được tạo h́nh, ngay cả với kích cỡ một hạt cát, không để lại bất kỳ một dấu vết tàn dư nào[33], ngay cả chỉ một chút bồ hóng, và rồi ngọn lửa tắt ngấm. V́ lư do đó có lời nói rằng “Thế rồi vị trưởng lăo Dabba, hoàng tử của nhà vua Malla” v.v…Về điểm này: Khởi xuất từ đó, thế rồi ngài chứng đắc vô dư níp bàn (vuṭṭhahitvā parinibbāyi): khởi xuất khỏi thần thông [433] và thế rồi ngài chứng đắc vô dư níp bàn thông qua tâm hộ kiếp (bhavaṅga consciousness). Lửa nổi lên (jhāyamānassa) cũng là từ đồng nghĩa với chính từ này. Đang bốc cháy (ḍayhamānassa) cũng là từ đồng nghĩa với chính từ này, hay nói cách khác “đang bốc cháy” được đề cập đến có liên quan đến khoảnh khắc trong đó có những ngọn lửa bốc lên “đang cháy” ngay trong khoảnh khắc đó những cục than hồng đỏ rực lên sau khi những ngọn lửa đă tàn lụi. Những đám tro (chārikā): là tro tàn (bhasmaṃ). Bồ hóng (tro đèn màu đen). Chẳng nh́n thấy…(na paññāyittha): cũng chẳng…thực chứng thấy, ư nghĩa ở đây là thông qua sức mạnh quyết định của ngài, chỉ trong nháy mắt mọi sự đều biến mất hết. Nhưng tại sao vị trưởng lăo lại thực hiện phép thần thông đầy uy lực này đó là một pháp siêu nhân[34]? chẳng phải chính Đức Phật đă không tán thán việc thực hiện phép thần thông này hay sao? Loại phản đối này chẳng nên đặt ra làm ǵ, liên quan đến một thực chất là chính việc thực hiện những phép thần thông[35] trước sự hiện diện của các cận sự nam cũng đă bị bác bỏ[36] trong khi đó việc ngăn cấm này chắc chắn (liên quan đến việc thị hiện phép thần thông) bằng cách hóa thân[37] hơn là những phép thần thông liên quan đến sức mạnh quyết định. Hơn thế nữa, vị trưởng lăo này đă thị hiện thần thông chỉ[38] do Đức Phật cho phép mà thôi.[39] Thẩm tra lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại nơi toàn bộ pháp vô dư níp bàn này thông qua không chấp thủ về phía vị trưởng lăo Dabba, hoàng tử của nhà vua Malla đă khiến nổi lên tập Phật Tự Thuyết này đă giải thích toàn bộ vấn đề này.[40]Về vấn đề này.[41] Thân xác đă bị phân hoá (abhedikāyo): toàn bộ[42] thân xác của ngài bao gồm các sắc y sinh xuất phát từ bốn tương tục tính[43] chấp nhận phân loại thành sắc đại hiển và sắc y sinh[44] đă bị phân hóa (bhijji, một dạng ngữ pháp khác), đă bị thiêu rụi, đă bị hủy hoại[45], biến mất không dư sót bất kỳ điều ǵ, đă thâm nhập vào trạng thái bất khởi sanh. Tưởng đă diệt (nirodhi saññā): toàn bộ tưởng, được phân loại thành sắc tưởng (rūpasaññā) v.v…[46] liên quan đến hành xứ thuộc sắc xứ (rūpāyatana) v.v…[47] đă bị diệt thông qua diệt bất liên kết. Mọi cảm thọ đều trở thành giá lạnh (vedanā sītibhaviṃsu sabbā): toàn bộ mọi cảm thọ, tức là mọi cảm thọ đă trở thành hành vi dị thục và cảm thọ gồm nghiệp chướng xả, đă trở thành băng giá (sītibhūtā ahesuṃ) do thiếu vắng nhấn mạnh, ngay cả chỉ bằng kích cỡ một hạt cát liên kết với những cảm thọ do đă bị diệt thông qua diệt bất liên kết trong khi đó các cảm thọ[48] thiện và bất thiện cũng đă bị diệt ngay tại sát na đạt đến thánh quả A-la-hán[49]. Người ta cũng giải thích là sītirahiṃsu [50], có nghĩa là đă biến thành an tịnh[51] và diệt. Các hành đă lắng dịu đi (vūpasamiṃsu saṅkhārā): toàn bộ các trạng thái liên kết với hành uẩn[52], như thể các xúc v.v….chấp nhận cách phân loại thành những ǵ là dị thục (hành vi) và những ǵ là nghiệp chướng xả, đă hoàn toàn lắng dịu xuống liên quan đến t́nh trạng chúng đă diệt do kết quả là chính diệt bất liên kết đó. Thức đă đi đến kết thúc (viññāṇaṃ attham āgamā): cả thức nữa cũng vậy[53], cũng chấp nhận cách phân loại[54] thành dị thục các hành vi và thành điều nghiệp chướng xả, toàn bộ đă đi đến (agamā, agacchi [55], một dạng ngữ pháp khác) chỗ kết thúc, đến chỗ huỷ diệt, đến chỗ bị phá huỷ. Do kết quả của chính cùng một t́nh trạng diệt bất liên kết đó. Chính v́ thế Đức Phật đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này, đó chính là một người đă xuất gia thông qua niềm vui phỉ lạc dựa trên pháp diệt thấy nơi ngũ uẩn của trưởng lăo Dabba, con trai của nhà vua Malla (pháp này đă được diễn ra) giống như trường hợp ngọn lửa[56] do thiếu nhiên liệu, mà kết quả dẫn đến diệt bất liên kết, do có liên quan đến các phiền năo và những tích luỹ lại chính là nhiên liệu đă diệt trước[57] đó không dư sót bất kỳ điều ǵ. [434] Việc diễn giải Kinh Phật thứ chín kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Xin cũng đọc chú giải Vin ii 74tt = iii158tt, ii 124tt; cũng như AA i 272tt, lời tố cáo sai trái (xin đọc chú giải dưới đây) ghi lại trong Vin ii 124tt đă khiến cho các vị Tỳ khưu lật úp bát khất thực” của vị Licchavi Vaḍḍha, như vậy hành vi này đă tước mất khỏi ngài cơ hội thực hiện việc công đức, và như vậy có dạng tuyệt thông được áp dụng với họ. Có điều khá hấp dẫn lưu ư rằng sự kiện nguyên tắc Phật giáo này cũng đă được áp dụng cho tới 1990, trong Tăng đoàn các vị Tỳ khưu Miến Điện chống lại các thành viên thuộc quân đội. [2]. Xin đọc chú giải Ud-a 244 ở trên. [3]. Xin đọc chú giải Ud-a 78, 123, 348 ở trên. [4]. Mātāpitaro; tuy nhiên, theo chú giải AA i 274 mẹ của ngài đă chết ngay khi bà sắp hạ sanh em bé và thân của bà đă được hoả táng, bụng của bà tách ra làm hai và Dabba bay lên không thông qua các việc công đức của ngài, rơi xuống một cây cột bằng gỗ (dabba) ngay trên dàn thiêu người mẹ theo như DPPN i 1060) kết quả là bà nội của ngài đă đặt tên cho ngài là Dabba, và người ta đă chuyển ngài cho bà nội nuôi dưỡng. Khi ngài lên bảy tuổi, Đức Phật đă đến thăm khu vực này và vừa khi nh́n thấy Đức Phật, Dabba đă cầu khẩn bà nội cho phép cậu được xuất gia. xin đọc chú giải Dhp-a ii 240 (được trích trong Thanh Tịnh Đạo 379) cũng có một chuyện kể tương tự về chi tiết Trưởng lăo Saṅkicca giáng lâm. [5]. Xin đọc chú giải Ud-a 321 ở trên. [6]. Theo chú giải AA i 274tt, ngài đă thiết lập thánh quả nhập lưu khi xuống tóc đợt nhất, thiết lập thánh quả nhất lưu trong lần xuống tóc thứ hai, thiết lập thánh quả bất lưu trong lần xuống tóc thứ ba và thiết lập A-la-hán khi ngài xuống tóc toàn bộ. [7]. Được ban cho địa vị tối thượng liên quan những người được chỉ định trú xứ – xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 24. Khi những vị Tỳ khưu nào đến thiền viện vào những giờ không thuận tiện ngài có thể thắp đèn đến gặp họ soi sáng đường đi cho họ trong bóng tối được bật lên ngay bằng đầu ngón tay toả sáng của ngài. Vin ii 76 = iii 159; AA i 275. [8]. Chú giải Be Se giải thích là tassa c̣n bản văn Ce ghi là tattha. [9]. Chú giải Be Se giải thích là katipayamuhuttikā c̣n bản văn Ce ghi là katipayamuhuttakālā. [10]. Xin đọc chú giải Vv-a 158 để biết thêm những chi tiết tương đồng liên quan đến Sāriputta [11]. Ce giải thích là iddhānubhāvaṃ pakāsento (Be Se giải thích là iddhānubhāvaṃ vibhāvento) c̣n bản văn ghi là iddhānubhāvattā. [12]. Sāsanassa niyyānikabhāvadassanatthaṃ; theo Childers sv, niyyānika, là thoát ra khỏi là một tính ngữ của Sāsana. [13]. Rất có thể một cách tham khảo về những đệ tử của Mettiya và Bhummajaka là những người đă thuyết phục Licchavi Vaḍḍha tố cáo sai (cậu bé bảy tuổi) Dabba đă dụ dỗ vợ của ông ta. (Vin ii 124tt) và cũng thuyết phục Tỳ khưu ni Mettiyā tố cáo sai lạc là đă tấn công nàng (Vin ii 78tt). [14]. Ce Be Se giải thích là ’ eva c̣n bản văn ghi là tath' evam. [15]. Như vậy; xét cho cùng ngài chỉ là đứa trẻ bảy tuổi và vừa mới được thọ cụ túc giới. Xin đọc chú giải Ud-a 98 ở trên trong đó đề cập đến Bāhiya không thọ cụ túc giới đă được gọi là Trưởng lăo và chú giải Ud-a 297 trong đó một vị Tỳ khưu đă bị thối nát đến tận xương tủy cũng đă được đề cập đến một cách tương tự như vậy. [16]. Ce Be Se giải thích là āpucchati c̣n bản văn ghi là āpucchā ti. [17]. Chú giải Ce Se giải thích là ’ idaṃ kāraṇaṃ c̣n bản văn ghi là ’ ’ idaṃ kāraṇaṃ , Be giải thích là kiṃ tattha kāraṇaṃ. [18]. Xin đọc chú giải Ud-a 226 ở trên. [19]. Amūlakena; theo nghĩa đen, là vô cớ. [20]. Chú giải Be giải thích là ghaṭayanti c̣n bản văn ghi là ghaṭanti; chú giải Ce Se lại bỏ qua. [21]. Sarasen’ eva; nói cách khác họ chỉ đơn giản khiến cho các hành này đi theo chiều hướng của chúng cho đến khi nào chúng cạn kiệt hoàn toàn. Xin đọc chú giải Ud-a 177 ở trên để biết thêm những chi tiết tương đồng liên quan đến các phiền năo. [22]. Cũng được trích trong chú giải Ud-a 167, xin đọc chú thích trong đó. [23]. Xin đọc chú giải Ud-a 200 để biết thêm những chi tiết tương đồng. [24]. Tejokasiṇacatutthajjhānasamāpattiṃ samāpajjitvā; xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo 374: pathavīkasiṇe pana paṭhamaṃ jhānaṃ samāpajjitvā, cả hai ngài Pe Maung Tin và Ñāṇamoli đều cho là “trong đề mục đất” và “nơi biến xứ (kasiṇa) đất”. Tejokasiṇa chính là lửa biến xứ hiểu theo nghĩa đen. [25]. Cittācāraṃ. [26]. Xin đọc chú giải Ud-a 10 ở trên; được giải thích trong AA ii 268 là iddhi yeva pāṭihāriyaṃ iddhipātihāriyaṃ. [27]. Cách mô tả đủ về cách biểu lộ uy lực thần thông (iddhi) – xin đọc D i 78, v.v… [28]. Giống như cách giải thích trong Thanh Tịnh Đạo 396tt. [29]. Ce Be Se giải thích là nisinno; c̣n bản văn lại bỏ qua. [30]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vuṭṭhāya sarīraṃ āvajjitvā puna samāpattiṃ samāpajjitvā; c̣n bản văn lại bỏ qua. [31]. Sarīrajhāpanatejodhātuṃ adhiṭṭhahitvā parinibbāyi; toàn bộ qui tŕnh này có thể được so sánh với chuyện kể trong Thanh Tịnh Đạo 387, trong đó vị Tỳ khưu, ước ao biến thành nhiều h́nh dạng (i) trước tiên phải nhập thiền jhāna; (ii) khởi xuất khỏi thiền Jhana đó; (iii) thực hiện công việc sơ đẳng để đạt đến mục tiêu đă định; (iv) lại nhập thiền Jhana trở lại; (v) xuất khởi khỏi thiền jhana đó trở lại; (vi) quyết tâm, trên cơ sở nào sẽ biến thành nhiều h́nh dạng đồng thời với quyết tâm đó. Tuy nhiên ở đây Dhammapāla h́nh như lại gợi ư rằng quyết tâm được thực hiện đang lúc hăy c̣n nhập thiền Jhana, hơn là sau khi đă khởi xuất khỏi đó, đây cũng là trường hợp xảy ra trong Thanh Tịnh Đạo 402 trong đó có người sắp đến thăm cơi Phạm Thiên. Có quan điểm cho rằng quyết tâm như vậy ở đây được thực hiện ngay trong khi vẫn c̣n đang hành thiền Jhana quan điểm này h́nh như được lời tuyên bố dưới đây hậu thuẫn đó là tiếp theo sau khi khởi xuất khỏi tâm uy lực thần thông này (iddhicittato) và rồi chứng đắc vô dư níp bàn thông qua tâm hộ kiếp(bhavaṅga). [32]. Một cách ám chỉ trong Thanh Tịnh Đạo 416tt trong đó cho rằng nguồn lửa này giống như thứ đă thiêu rụi bơ và dầu, chẳng để lại một chút tro tàn nào; xin đọc chú giải Ud trong đó đă xuất hiện cùng một cách so sánh này. [33]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anavasesento c̣n bản văn ghi là anavasesato; từ avaseseti không được liệt kê trong PED. Như đă được chú thích trong Ud, ngọn lửa tiêu hủy thân xác ngài Dabba được mô tả như là xuất hiện ở mọi góc độ cũng giống như ngọn lửa đă thiêu huỷ thân xác của Đức Phật khi ngài chứng đắc vô dư níp bàn, và với cùng những kết quả đó, ngoại trừ một thực tế là trong trường hợp Đức Phật th́ xương cốt /di cốt (sarīraṃ) của ngài không bị huỷ diệt (D ii 164) Liên quan đến những khác biệt này th́ các nhà chú giải đă không lên tiếng; thực chất là xá lợi của ngài giống hệt như xá lợi của các vị A-la-hán thường được kính thờ trong các điện thờ – và Trưởng lăo Dabba cũng là một vị A-la-hán – chúng ta phải giả định rằng hoặc là xương cốt của ngài trưởng lăo Dabba vẫn c̣n tồn tại, hoặc giả không do kết quả của sự khác biệt theo cách ưu tiên phải suy xét trong bất kỳ trường hợp nào. [34] Chú giải Be giải thích là uttarimanussadhammaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là uttarimanussadhammā. [35]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pāṭihāriyakaraṇassa c̣n bản văn ghi là pāṭihāriyakaraṇena. [36]. Trong Vin ii 112; tuy nhiên những ân đức tiếp theo chỉ được t́m thấy trong tập chú giải đó mà thôi (Vin-a 1203). [37]. Xin đọc Ud-a 141 ở trên. [38]. Be Se giải thích là āṇatto va c̣n bản văn ghi là āṇatto. [39]. Dhammasāminā; xin cũng đọc trong chú giải Vv-a 155. [40]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tadatthaparidīpanaṃ c̣n bản văn ghi là tadatthadīpanaṃ. [41]. Một điều rất hữu ích nếu những ǵ xảy ra tiếp theo sau đó lại được giải thích liên quan đến những biểu mẫu được gắn kèm theo bản dịch của Thanh Tịnh Đạo của ngài Ñāṇamoli. [42]. Bản văn Ce chèn thêm yo…so; chú giải Be Se bỏ qua. [43]. Catusantatirūpakāyo; người ta giải thích trong bản tóm lược 161tt (Thủ Bản Vi Diệu Pháp, tr 301) và Asl 82tt. [44]. Xin đọc Thanh Tịnh Đạo 443tt. [45]. Ḍayhi nassi; chú giải Se bỏ qua ḍayhi. Be giải thích là nassi, từ sau này ghi lại điều này như là một vl ḍayhi [46]. Xin đọc D iii 244 nói về sáu loại tưởng. [47]. Có nghĩa là, ngoại xứ tạo thành tưởng– xin đọc chú giải D iii 243tt. [48]. Chú giải Be Se giải thích là kusalākusalavedanā c̣n bản văn ghi là kusalākusalavedanādi sabbā pi vedanā. [49]. Đây h́nh như là một việc soạn thảo tỷ mỉ về ba loại cảm thọ, tức là cảm thọ thiện (kusala) cảm thọ bất thiện (akusala) và cảm thọ vô kư (avyākata) trong e.g Thanh Tịnh Đạo 460 v́ trong vi diệu Pháp, có khẳng định rằng chính những cảm thọ đó là dị thục (vipāka) của những hành vi thực hiện trước đó và là duy tác (kiriya) cả hai thứ đều được xếp loại thành cảm thọ vô kư, xin đọc chú giải Nārada Mahā Thera, Thủ bản về Vi Diệu Pháp (the manual of Abhidhamma, Kandy, 1968 tr 22. Chính v́ thế Dabba được giải thoát khỏi những cảm thọ thiện và bất thiện vừa khi chứng đắc bậc A-la-hán (v́ toàn bộ những hành vi của Đức Phật và các vị A-la-hán đều thuộc hạng duy tác – loc. cit. ) chính lúc đó ngài cũng được giải thoát khỏi những hành xả, tức là cảm thọ lại chính là dị thục các hành vi và những cảm thọ duy tác, vừa khi ngài chứng đắc vô dư níp bàn. [50]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là vītirahiṃsu; chú thích của ngài Woodward trong đó ngài khẳng định “A, và St, vl Sīti; C. vīti-rahiṃsu” thật khó có thể thẩm định được v́ không có bất kỳ vl nào được ghi lại trong st (= Ud Ee) trong khi đó vl được mô tả trong “C” cũng giống hệt như cách giải thích được in trong thân bản văn. [51]. Chú giải Be Se giải thích là santā c̣n bản văn Ce ghi là asantā, không tồn tại. [52]. Xin đọc Thanh Tịnh Đạo 462tt. [53]. Be Se giải thích là viññāṇam pi c̣n bản văn Ce ghi là viññāṇaṃ. [54]. Chú giải Ce Be Se giải thích là oppabhedaṃ c̣n bản văn ghi là oappabhedam. [55]. Chú giải Ce Be cũng giải thích giống như vậy (Se giải thích là agamā agañchi) c̣n bản văn ghi là āgamā āgacchi. [56]. Ce Be Se giải thích là jātavedo c̣n bản văn ghi là jātavedaso. [57]. Pubbe yeva; h́nh như vào thời điểm phiền năo của ngài ngược lại ở đây chúng ta đang xử lư với ngũ uẩn níp bàn. |
|