NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

5. CUNDA

Trong Kinh Phật thứ năm[1]:Trong số những người Mallas (Mallesu): nơi quốc gia có tên gọi như vậy. Thông qua một Tăng đoàn rất lớn (mahatā bhikkhusaghena): nhờ có một Tăng đoàn vĩ đại[2], không những vĩ đại do những ân đức tốt nơi các vị Tỳ khưu nhưng c̣n vĩ đại do cả số đông các vị Tỳ khưu qui tụ lại nữa. V́ Tăng đoàn các vị Tỳ khưu đó không những chỉ vĩ đại qua việc liên kết với những ân đức thiện nổi bật như thế giới, liên quan đến một thực chất là người thấp nhất trong toàn bộ[3] các vị Tỳ khưu đó cũng đă đạt đến bậc nhập lưu; nhưng cũng vĩ đại nơi số đông các vị Tỳ khưu tham dự, liên quan đến việc không giới hạn số lượng[4] người tham dự. V́ các vị Tỳ khưu này một khi đă tới gia nhập Tăng đoàn, từ lúc đẩy lùi được hành[5] nơi cuộc sống của ḿnh trở đi, đều không thể rời khỏi Tăng đoàn này. Về ngài Cunda (cundassa): nói về con người có tên gọi như vậy. Con trai của bác thợ rèn (kammāraputtassa): con trai của một người thợ kim hoàn. Người ta kể lại rằng ông ta là một người giàu sang có rất nhiều của cải, đă trở thành mọt vị nhập lưu ngay từ lần đầu tiên được gặp Đức Phật, cuộc gặp gỡ diễn ra trong cánh rừng xoài của ḿnh, ông đă cho xây một thiền viện, vây quanh là tường rào và trang trí bằng những cổng ra vào, sau khi công việc xây dựng kết thúc bằng cách thêm vào một hương pḥng rất lớn đó là nơi cư trú thích hợp dành cho  Đức Phật, và cũng gồm có những nơi dành cho các vị Tỳ khưu sử dụng vào ban ngày và ban đêm, một pḥng chăm sóc, một pḥng hội, các căn cḥi, các sảnh đường và những dăy hành lang v.v…[6] dành cho Tăng đoàn, sau này ông ta đă dâng cho Tăng Đoàn có Đức Phật đứng đầu, liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng, “và ở đó, ngay tại Pāvā[7] Đức Phật đă lưu lại trong khu vườn xoài của ngài Cunda, con trai của người thợ bạc.” Đă sửa soạn xong (paiyādāpetvā): đă kết thúc thành công việc dọn bữa, ư nghĩa ở đây là đă nấu nướng[8] xong. Trong quyển  đại chú giải có cho rằng sūkaramaddava là một loại thịt [9] heo đă có sẵn đă ninh mền và rất bổ dưỡng[10]; tuy nhiên một số người lại cho rằng sūkaramaddava không phải là thịt heo (nhưng h́nh như) là một loại măng tre mà heo đă dẫm nát tại một chỗ những con heo (sūkarehi) thường hay đi lại dẫm đạp lên (maddita), cũng có một số người khác cho rằng đây chỉ là một loại nấm đă mọc lên tại những địa điểm heo (sūkarehi) thường lui tới và dẫm đạp lên (maddita), trong khi đó cũng có người lại tuyên bố[11] rằng sūkaramaddava là tên để gọi một số loại cây thuốc tiên[12] (elixer) [400] chính v́ vậy họ cho rằng, ngài Cunda, con bác thợ bạc, đă bày tỏ ước muốn để Đức Phật sống trong một thời gian dài, hy vọng rằng, “ chắc chắn là Đức Phật sẽ ở lại đây trong một thời gian lâu hơn một khi ngài đă sử dụng thức ăn này[13]”, sau khi được biết Đức Phật phải chứng đắc vô dư Níp Bàn trong cùng ngày đó. Ta đă được dùng thứ đồ ăn đó (tena maṃ parivisa): ta đă thọ thức ăn loại đó. Tại sao Đức Phật lại nói như vậy? xuất phát từ sự suy nghĩ đến tha nhân, và đây là lư do duy nhất được đưa ra trong Kinh pāli điều này làm rơ cho thấy ta được phép nói đến một cách tương tự như vậy về của bố thí được dọn lên, và về những ǵ không thích hợp cho những người khác[14] để sử dụng. Người ta kể lại rằng các chư thiên đang cư trú trên bốn châu, vây quanh với hai ngàn ḥn đảo,[15] đă tẩm chất dinh dưỡng[16] đặc biệt vào món sūkaramaddava này; chính v́ thế chẳng có người nào khác có khả năng tiêu hóa được món ăn này, để làm rơ điểm này vị Đạo sư đă rống lên tiếng rống sư tử, “hỡi Cunda, ta đă không nh́n thấy nhà ngươi” v.v… với mục đích làm cho Cunda thoát khỏi lời trách móc của người khác; v́ ngài rống lên giọng sư tử của ngài với mục đích khiến cho Cunda thoát khỏi lời chỉ trích của người khác hy vọng sẽ không c̣n cơ hội cho bất kỳ lời khẳng định nào về phía những nguời khác có thể trách móc ông ta cách này cách khác, nói rằng ông ta đă không bố thí phần đồ ăn c̣n lại của ông cho các vị Tỳ khưu hay cho người khác, nhưng tốt hơn là đem chôn trong hố sâu” Về điểm này:

Liên quan đến “với các chư thiên” v.v…[17]chính v́ với “các chư thiên” (sadevako) trong đó chính cùng với các chư thiên (saha devehi), cùng với “ma vương” (samārako) trong đó chính v́ cùng với ma-vương (saha Mārena) “cùng với vị Phạm Thiên” (sabrahmako) trong đó cùng với vị Phạm Thiên (saha Brahmunā), “cùng với (thế hệ các vị sa môn và các vị phạm thiên (sassamaabrāhmaī) là một “thế hệ”(pajā) được như vậy do việc thế hệ[18] này đă được sản sinh ra như vậy,“với thế hệ các chư thiên và chúng sanh” (sadevamanussā [19]) trong đó có cả các chư thiên và con người (saha devamanussehi) trong cơi đó các chư thiên…với thế hệ các chư thiên và con người. Về điểm này, bằng cách diễn tả “cùng với chư thiên”, gồm các chư thiên thuộc năm cơi, đầu tiên nơi cơi dục giới, bằng cách diễn tả “với  ma vương” gồm các chư thiên thuộc cơi thứ sáu nơi cơi dục giới, bằng cách diễn tả “cùng với Phạm Thiên” gồm các vị Phạm Thiên thuộc các cơi Brahmakāyika[20] v.v…, bằng cách diễn tả “với thế hệ các sa môn và bà la môn” gồm các vị sa môn và các bà la môn đang là ngoại giáo và kẻ thù với giáo lư cũng như gồm cả các vị sa môn đó nhờ họ mà điều bất thiện đă được làm dịu đi và các bà la môn nhờ họ mà điều bất thiện đă được diệt trừ đi hết[21], bằng cách diễn tả “cùng với thế hệ này” bao gồm cả cơi chúng sanh, bằng cách diễn tả “cùng với các chư thiên và con người”, bao gồm các chư thiên cơi dục[22] và các nhân loại c̣n sót lại”; v́ vậy, liên quan đến vấn đề này ta nên hiểu cơi chúng sanh  được gom lại trong ba đoạn đầu tiên bằng cách thông qua các cơi hiện hữu[23] thông qua hai đoạn sau bằng từ “các thế hệ (chúng sanh)” [401]có một phương pháp khác nữa: chính là cơi trời (thiên)[24] lại thuộc cơi vô sắc giới là điều ta nên hiểu như được gộp lại[25] trong cách diễn tả[26] “cùng với Chư thiên” theo cách giải thích là sáu cơi trời thuộc cơi dục giới. “Cùng với ma-vương” (một phần) cơi Phạm Thiên sở hữu sắc giới được diễn tả bằng thành ngữ “với cơi Phạm Thiên” trong khi đó, hoặc diễn tả bằng bốn đoàn thể[27], tức là cơi nhân loại cùng với những chư thiên dục giới, hoặc giả các cơi nhân loại[28] c̣n lại (là điều ta cần hiểu) ở đây như được gộp lại bằng những cách diễn tả “với thế hệ các vị sa môn và các thầy bà la môn”v.v…[29] Như thể người nào đă cùng hưởng : bhuttāvissa[30] = bhuttavato (một dạng ngữ pháp khác). Chà xát[31]: thô nhám. Đau buồn  (ābādho): sức khỏe kém dưới dạng các yếu tố thân không đồng đều.[32] Rất mănh liệt ( [33]: mạnh mẽ. Điều để chứng tỏ đă tới số: māraantikā = māraantā [34](một dạng ngữ pháp khác), có khả năng đem hắn tới tử thần môn[35]. Chánh niệm, tỉnh giác, nhẫn nại (sato sampajāno adhivāsesi): quyết tâm[36] thực hiện cùng một điều đó sau khi đă tạo chánh niệm thuần thục hoàn toàn, nhẫn nại như vậy. Không phải chịu khổ cực (avihaññamāno): không phải đẫm ḿnh trong đau khổ[37] liên tục bằng cách theo đuổi điều đau khổ như người nào đó không lưu ư đến[38] pháp môn, chịu đựng điều đó như thể không bị ép buộc, không bị  buồn phiền[39] chi cả; đối với những người nào đau khổ đă khởi sanh đối với Đức Phật đang khi Ngài lưu lại ngôi làng Beuva[40]; nhưng lại diệt được nhờ vào sức mạnh thiền chứng, th́ những đau khổ đó sẽ chẳng nổi lên trở lại nữa, cho đến khi người đó thành tựu vô dư níp bàn, liên quan đến việc họ được lùi lại hàng ngày do kết quả những thiền chứng của người đó đă đạt được. Nhưng vào ngày đó Đức Phật lại muốn nhập vô dư níp bàn, lại không đạt đến được chứng đắc đó chính v́ thế ngài đă tạo ra hiện trạng động tâm nơi chúng sanh về hiệu quả của điều: “những đau khổ dưới dạng như vậy có thể phát sanh[41] ngay cả khi việc tái sanh đang nói tới ở đây thuôc những người đă tích luỹ được biết bao nhiêu thành tố công đức trong một khoảng thời gian vô tận (và) thân họ tỏa hào quang giống như những tia kim cương sáng chói[42] lại có thể so sánh với sức mạnh hàng ngàn kotis chàng voi -  thế nên c̣n biết bao nhiêu mà người đối với những người khác nữa?” Do kết quả đó mang lại việc nghiền nát đau khổ một lần nữa) lại phát sanh. Đi nào (āyāma): tiến lên nào, hăy đi nào, đoạn kệ bắt đầu bằng câu “sau khi đă thọ vật thực của Cunda” đoạn này được chèn vào giai đoạn sau do vị duyệt xét Phật Pháp sau này. Về điểm này:

Và cùng với sūkaramaddava, đối với người nào đă tham gia vào (bữa ăn đó) (bhuttassa ca sūkaramaddavena): đă nổi lên nơi người nào đă tham dự vào bữa ăn đó, tuy nhiên không phải lấy việc tham gia vào đó làm nguyên nhân[43] v́ nếu cơn bệnh đó nổi lên nơi người đó mà không tham dự vào đó,  th́ quả thật không cần ǵ phải khó chịu (grating); ngược lại do việc đă sử dụng loại đồ ăn ngon bổ đó, th́ đau đớn đă giảm, và kết quả đem lại là người đó đă có thể tiếp tục đi bộ. Theo cách này đă làm rơ ư nghĩa[44] chính tiếng sư tử rống như đă nói đến ở trên, tức là “v́ người nào đă sử dụng thứ vật thực đó có thể tiêu hóa tốt, trừ trường hợp đối với vị Như Lai[45] v́ chẳng có lời công bố nào về Đức Phật liên quan đến điều ǵ không diễn ra[46], v́ người nào sử dụng đă không làm nổi lên bất kỳ sự sút giảm giá trị nào về phía Đức Phật, nhưng c̣n làm tăng thêm nữa là đàng khác, bằng cách làm dịu bớt, do kết quả từ tính chuyên cần, việc giảm giá trị đó như đă nổi lên do một số hành vi khác đă có được cơ hội, [402] làm tăng thêm sức khoẻ nơi thân bằng cách đó ngài có thể hoàn tất được ba công vịêc trong thời điểm ta nói đến,  chính v́ thế đồ ăn đă được tiêu hóa thích hợp; nhưng điều này đă không được biết rơ ràng,[47]đă không được phổ biến chính thức, liên quan đến một thực tế là những đau khổ rất có thể trở thành chết người. Vừa mới được tẩy rửa (viriccamāno): vừa trở thành một người bị rớm máu[48] đă được làm sạch. Đă nói (avoca): nói lên như sau nhằm mục đích chứng đắc vô dư níp bàn tại nơi nào Ngài muốn[49]? Nhưng tại sao khi bệnh tật đó xuất hiện, Đức Phật lại tiếp tục đi tới thành phố Kusinārā? Tuy nhiên, thật[50] không thể đạt đến vô dư níp bàn đang khi người đó c̣n đang di chuyển đâu đó (một cách đặc biệt)[51]; hơn thế nữa ngài suy nghĩ như sau: khi ta đă đến thành phố Kusinārā, lại có nhu cầu diễn giải kinh Phật Mahāsudassanasutta nổi lên[52] (D ii169tt) trong khi đó, được trang điểm với hai đoạn kệ được tụng lên ta sẽ có thể diễn giải thiền chứng ta đă cảm nghiệm thấy được nơi cơi nhân loại, cũng tương tự như những ǵ cảm nghiệm được nơi cơi thiên giới, vừa được biết có vô số chúng sanh[53] cứ tưởng rằng điều thiện chính là những ǵ chúng ta cần phải thực hiện. Cả Subhadda[54] nữa, cũng đi tới gặp ta để đặt câu hỏi và sẽ đạt đến qui y Phật tới mức tột đỉnh về câu trả lời của ta, đă xuất gia và rồi là người đă thọ cụ túc giới , sẽ tu luyện đề mục thiền, và đạt đến bậc A-la-hán đang lúc ta vẫn c̣n lưu lại trên đời này, và được biết đến như là người đồ đệ cuối cùng của ta. Nếu ta chứng đắc vô dư níp bàn ở nơi nào khác sẽ xảy ra bàn căi lớn về xá lợi (relics) của ta, và máu sẽ chảy[55] giống như sông. Nhưng mặt khác ta lại chọn vô dư níp bàn tại thành Kusinārā, th́ vị bà la môn Doa sẽ dập tắt cuộc căi vă đó[56] và rồi phân chia xá lợi của ta phân tán đi hết[57]” chính v́ cứu xét đến ba lư do trên, mà Đức Phật với cố gắng lớn đă đến thành Kusinārā.

Hăy đến đây (iṅgha) là một tiểu từ hiểu theo nghĩa thôi thúc động viên. Ta đă mệt mỏi (kilanto ’smi): ta mệt mỏi; theo đó ngài chỉ ra cho thấy một thực chất là những đau đớn đă nói đến ở trên vẫn c̣n rất mạnh, v́ thông qua chính vẻ oai lực của Đức Phật mà ngài đă tiếp tục lên đường đi bộ vào thời điểm đó; trong khi đó đau đớn đă xảy ra sau đó quả thật rất gay gắt, nghiến răng (grate), đau nhói; quả thật đối với người khác có thể không c̣n khả năng nhấc chân lên được. Chính v́ lư do đó ngài đă nói rằng: “Ta cần phải ngồi xuống đây”. Chính giờ  đây (idāni): vừa mới đây. Khuấy động lên (luḷitaṃ): lẫn lộn như thể ngài đă bị chà đạp lên. Bị xáo trộn (āvila): bị xoáy lên.[58] Có nước trong (acchodakā): có nước lạnh (salila) loăng và tinh khiết.[59] Nước dễ chịu (sātodakā [60]): nước ngọt (toya)[61]. Nước lạnh (sītodakā): nước lạnh (sītala, một dạng ngữ pháp khác)  nước (jala). Nước tinh khiết (setodakā[62]): không bị vẩn đục[63]; [403] v́ nước (udakaṃ), tự bản chất đều có màu trắng trong, lại xuất hiện với màu khác đi là do ḷng sông và do nước đă bị vẩn đục và bị khuấy động lên cho dù ḍng sông Kakudhā[64] chảy qua vùng cát trắng, nước chảy ra có màu trắng trong, v́ lư do đó có lời nói rằng “nước trắng trong”. Những bờ sông rất đẹp (supatitthā [65]): là những nơi qua sông[66] rất đẹp. Thật quá thú vị (ramaīyā): thật là thú vị do bản chất một phần cơi đời[67] này qúa quyến rũ hấp dẫn và làm thoả măn tâm ta liên quan đến loại nước tuyệt vời chúng ta vừa nói đến ở trên. Hỡi Cundaka[68] ta rất mệt và cần nằm nghỉ một chút (kilanto ’smi Cundaka nipajjissāmi): do sức mạnh thân của vị Như Lai, được sánh với sức mạnh của cả trăm ngàn kotis cỗ voi[69] b́nh thường cộng lại bằng cách nhân lên cấp số nhân mười[70], tức là sức mạnh của voi Gaṅgeyya bằng sức mạnh của mười con voi b́nh thường, (con voi vừa nêu) nằm trong số voi Kāāvaka trong số mười giống voi được kể đến như sau[71]:

“Kāāvaka, Gageyya, Paṇḍara. Tamba và Piṅgala, Gandha, Maṅgala, Hema, Uposatha, và Chanddanta, đây là tên mười[72] giống voi.”

Tuy nhiên toàn bộ sức mạnh đó, vào ngày đó, kể từ sau bữa ăn trưa đă bị cạn kiệt hoàn toàn, giống như nước đổ vào cái sàng (rây) gạo[73]. Thành phố Kusinārā chỉ cách xa Pāvā có ba gāvutas[74]  và chính nhằm làm rơ thực chất bệnh tật xuất hiện đă nghiền nát toàn bộ sức khoẻ của Ngài là như thế nào, trong khi tiếp tục cuộc hành tŕnh Ngài đă phải cố gắng đến mức độ nào sau nhiều lần Ngài đă phải ngồi nghỉ tại khoảng hai mươi lăm chỗ giữa hai thành phố đó.  Ngài chỉ đến được thành phố Kusinārā sau khi mặt trời đă lặn, rồi  Đức Phật lên tiếng nói rằng, “hỡi Cundaka, ta mệt quá, và ta cần nằm nghỉ” việc tuyên bố (như vậy) đă gây náo động khắp cơi các chư thiên.

Dáng nằm sư tử (sīhaseyya): liên quan đến vấn đề này có bốn tư thế nằm đó là : tư thế nằm của người đắm ch́m trong dục lạc, tư thế nằm của loài ngạ quỷ (peta),[75] tư thế nằm của vị Như Lai (và) tư thế nằm của sư tử. Về điểm này, “hỡi các vị Tỳ khưu, đa phần người nào đắm ch́m trong ái dục[76] chấp nhận tư thế [77] nằm nghiêng sang bên trái” (xin đọc chú giải  Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 244t[78]) đây chính là tư thế nằm của những người ch́m đắm trong tham dục. [404] “Hỡi các vị Tỳ khưu thân mến, đa phần các ngạ quỷ (peta) đều nằm trong tư thế nằm ngửa”, đây là cách nằm của loài quỉ đói[79], “nhập thiền thứ tư chính là tư thế nằm của vị Như Lai. “Hỡi các vị Tỳ khưu, sư tử chúa sơn lâm, lại chọn tư thế nằm nghiêng sang bên phải.”, đây chính là cách nằm của loài sư tử,[80] v́ ta biết đây là cách nằm tuyệt hảo nhất, v́ do đó là một tư thế liên kết với đặc tính toả sáng[81] vượt trội; v́ lư do đó có lời nói rằng: “Ngài đă chấp nhận tư thế nằm sư tử, nằm xuống với tư thế nghiêng sang bên phải.” Chân nọ gác lên chân kia (pāde pāda): chân trái[82] gác lên chân phải. Hơi gối lên nhau một chút: acchādhāya = ati ādhāya (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) gác (chân này lên chân kia) gần vị trí ở trên mắt cá một chút, v́ khi mắt cá chân gác ép lên nhau, đầu gối này ép lên đầu gối kia, th́  đau đớn xuất hiện liên tục, nằm trong tư thế đó không thoải mái chút nào; nhưng khi mắt cá và đầu gối được đặt chếch lên một chút, như vậy không ép chồng lên nhau, th́ đau đớn không xuất hiện, tư thế nằm tỏ ra thoải mái hơn; chính v́ thế Ngài đă chọn tư thế nằm như vậy.“Vừa khi đi tới bờ sông Kakudhā, có ḍng nước trong veo, một thứ nước thoải mái như thế, (thoải mái tuyệt đối) th́ Đức Phật”; các vị trùng tụng Phật Pháp đă chèn đoạn kệ[83] này vào giai đoạn sau này (tại đại hội thứ I). Về vấn đề này:

Đến con sông: nadikaṃ [84] = nadiṃ (một dạng ngữ pháp khác). Vô song trên cơi đời này (appaṭimo ’dha loke [85]): không có địch thủ[86] ở đây nơi cơi chư thiên. Sau khi đă tắm và uống nước, Ngài đă bước ra khỏi (nahātvā ca pivitvā ’udatāri): sau khi đă tắm bằng cách làm mát chân tay và sau khi đă uống nước, Ngài đă rời khỏi (uttari, một dạng ngữ pháp khác) ḍng sông và bước lên bờ. Người ta kể lại rằng, vào dịp đó khi Đức Phật c̣n đang tắm, mọi vật đều ngả sang màu vàng[87], tức là các con cá và rùa đang bơi lội trong sông, nước sông, cánh rừng rậm quanh đó trên hai bờ sông, cũng như toàn bộ phần cảnh vật quanh đó. Được thọ nhận địa vị tối thượng đoàn chúng sanh (purakkhato): được đề cử làm thủ lănh bằng cách các cơi chư thiên đă đến kính lễ và chúc tụng Ngài v́ chính Ngài là thầy guru dành cho chúng sanh thông qua chói sáng với những ân đức[88] đặc biệt của ngài. Giữa một hội chúng các vị Tỳ khưu rất đông đảo (bhikkhugaṇassa majjhe): ở giữa Tăng đoàn các vị Tỳ khưu; vào thời điểm đó, sau khi đă nhận ra Đức Phật đang phải chịu đựng đau đớn rất nhiều, các vị Tỳ khưu đă vây quanh Ngài từ tứ phía. Vị Đạo sư (Satthā): ngài là vị Đạo sư[89] (Satthā) do việc ngài giảng dạy chúng sanh (sattāna anusāsanato) nhờ đó mà họ gắn liền với những nguyên nhân hữu h́nh này hay bằng cách đó họ đă gắn liền với cơi đời sau, hay bằng cách đó họ đă gắn liền với mục tiêu tuyệt đối[90]. Đức Phật là người đă khởi động Phật Pháp ngay tại cơi đời này (pavattā [91] Bhagavā idha dhamme): ngài là “Đức Thế Tôn”[92] (Bhagavā) do ngài đạt được những điều tạo ra hạnh phúc v.v… (bhāgyavantatādīhi), một người đă khởi động Phật Pháp ngay tại đây dưới dạng một giáo lư với cách phân loại thành giới v.v…, hay nói cách khác là người khởi động,[93] là người giữ chức vụ làm nhân duyên khởi động (ngay tại nơi đây) tám mươi tư ngàn pháp môn[94]. Cánh rừng xoài (ambavanaṃ): cánh rừng xoài trên hai bên bờ sông. Nói với Cundaka (Āmantayi Cundaka): người ta kể lại rằng vào thời điểm đó vị Trưởng lăo Ānanda đang đứng sau Ngài và đang vắt nước bộ y ngài đang giặt; chính v́ trưởng lăo Cundaka cũng đang đứng cạnh đó, [405] chính v́ thế mà Đức Phật đă nói với ngài trưởng lăo. Ngồi đối diện với ngài (pamukhe nisīdī): ngài đang ngồi trước vị đạo sư quay mặt nh́n vào ngài[95] đang muốn biết xem vị đạo sư sẽ ra lệnh cho ngài thực hiện điều ǵ nữa, ở điểm nào vị thủ khố chánh pháp muốn cắt lời họ, và khi ngài đă đuổi kịp họ “thế rồi Đức Phật đă nói với trưởng lăo Ānanda”.

Người nào có thể nổi lên (upadaheyya[96]): người nào có thể nổi lên: rất có thể phải có một nhân vật nào đó[97] có thể làm nổi lên một lương tâm bối rối. Không lợi lộc ǵ (alābhā): bất kỳ lợi lộc nào cũng được coi như là những lợi thế xuất phát từ của bố thí cho người khác khi họ đang thực hiện bố thí, đều chẳng đem lại lợi lộc nào cho các ngươi cả[98]. Việc đó chẳng đem lại lợi lộc ǵ (dulladdhaṃ): trạng thái chúng sánh, ngay cả khi được lợi lộc thông qua những việc công đức nổi bật, đều là những ǵ chẳng đem lại lợi lộc ǵ cả. Các ngươi là người : yassa te = yassa tava (một dạng ngữ pháp khác). Ai biết được đây chỉ là điều khó tiêu, hay lại quá lỏng, hay thuộc bất kỳ loại nào, ngay cả cuộc bố thí cuối cùng dành cho vị Như Lai, sau khi đă sử dụng cùng một thứ vật bố thí, rồi chứng đắc vô dư níp bàn. Chính v́ thế bất kỳ vật ǵ bố thí cho ngài. Lợi lộc (lābhā): những lợi lộc được coi như là các lợi thế xuất phát từ việc bố thí thuộc về những hiện tại, và cả cho cơi đời sau nữa. Một điều đem lại lợi ích to lớn. (suladdhaṃ): hiện trạng chúng sanh của nhà ngươi chính là một điều đem lại lợi ích to lớn. Đây là điều diễn ra nhăn tiền: sammukhā = sammukhato (một dạng ngữ pháp khác), ư nghĩa ở đây là không do những lời đồn thổi, cũng không thông qua truyền thống. (v.v…[99]). Chính do ta mà các ngươi được nghe: metaṃ [100] = me eta = mayā eta (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài). Đó chính do cùng một thánh quả đem lại (samasamaphalā [101]): cũng đem lại thánh quả ngang nhau dưới mọi t́nh huống; tuy nhiên chắc chắn rằng lần bố thí của nàng Sujātā đă thực hiện, sau khi đă dâng và điều khiến cho vị Như Lai chứng đắc giác ngộ, bao gồm một cuộc bố thí vào thời điểm các phiền năo cần được đoạn trừ[102], ngược lại cuộc bố thí này về phía Cunda lại được thực hiện vào chính thời điểm khi các phiền năo đă được diệt trừ hết[103]; chính v́ thế làm sao[104] hai cuộc bố thí này lại có thể đem lại cùng một thứ thánh quả, thông qua đặc tính giống hệt nhau liên quan đến chứng đắc vô dư níp bàn, thông qua đặc tính giống hệt nhau liên quan đến chứng đắc và liên quan đến đặc tính giống hệt nhau liên quan đến việc tuỳ niệm, v́[105] hai cuộc bố thí này lại bao hàm của bố thí đem lại cùng một loại thánh quả.[106] Thông qua cùng một đặc tính liên quan đến vô dư níp bàn. Trong đó Đức Phật chứng đắc vô dư níp bàn bằng chính hữu dư níp bàn giới đó cộng với tàn dư  sanh y sau khi đă dâng[107] vật thực của nàng Sujātā đă thực hiện (ngay khi) ngài chứng đắc vô dư níp bàn, thông qua vô dư níp bàn đó không c̣n bất kỳ tàn dư sanh y sau khi đă tham gia[108] vào cuộc bố thí Cunda đă tổ chức; cả hai đều đem lại cùng một loại kết quả[109] thông qua đặc tính giống hệt nhau do chứng đắc, vào chính ngày hôm đó ngài đă chứng đắc giác ngộ, Ngài đă chứng đắc thiền chứng lên tới con số hai mươi bốn ngàn kotis[110] lại thành nhân duyên của thánh đạo[111] cao siêu nhất; (cũng vào chính ngày Ngài) thành tựu vô dư níp bàn, th́ Ngài cũng chứng đắc hai thánh quả này nữa;[112] v́ lư do đó,v.v…  Đức Phật có nói rằng: [406] “Việc công đức đem lại vô số[113] kết quả, đem lại những điều thiện, cho người nào đă bố thí cho (vị Tỳ khưu[114]), sau khi đă sử dụng cùng một thứ vật bố thí đó, lại nhập thiền niệm trong tâm, đó là điều vô số lượng”[115] (/=/  Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 54, iii 51), và[116] hai việc bố thí đó đă đem lại cùng một kết quả do đặc tính duy nhất liên quan đến việc tuỳ niệm, trong đó nàng Sujātā vào một giai đoạn tiếp theo sau đó, đă nghe thấy rằng: “người ta nói rằng điều này không phải là thần cây, mà chính là vị Bồ Tát; người ta cũng nói rằng sau khi ngài đă sử dụng vật bố thí này[117]  ngài đă chứng đắc vô thượng Chánh Đẳng Giác; người ta cũng nói rằng, Ngài đă được hỗ trợ từ đó ngài đă kéo dài sanh mệnh thêm trong ṿng bảy lần bảy ngày”, sau khi đă nghe điều đó th́ niềm vui khôn tả và phỉ lạc đă nổi lên nơi nàng, khi nàng nhập tuỳ niệm như sau: những điều này quả thực đem lại phước báu đích thực cho ta”; (đối với Cunda cũng vậy, khi vừa nghe thấy vào giai đoạn sau này, “người ta nói rằng cuộc bố thí cuối cùng do ta thực hiện; người ta cũng nói rằng lănh tụ Phật Pháp cũng đă được an toàn do ta[118] đem lại; người ta cũng nói rằng sau khi đă sử dụng của bố thí do ta cúng dường th́ vị Đạo sư đă chứng đắc vô dư níp bàn, ngài đă t́m kiếm[119] trong một thời gian rất dài, thông qua níp bàn giới đó không vấn vương tàn dư sanh y nào” đă nổi lên niềm vui khôn tả và phỉ lạc khi ngài nhập tuỳ niệm mà rằng: “đây quả là phước báu đích thực đă đem lại cho ta.” Dẫn đến tuổi thọ (āyusavattanika) dẫn đến tuổi thọ cao. Đă tích luỹ được (upacitaṃ) đă theo đuổi, đă khiến nổi lên. Đă tích luỹ được (upacitaṃ): đă theo đuổi, đă khiến nổi lên. Dẫn đến tiếng tăm lừng lẫy (yasasaṃvattanikaṃ): dẫn đến một đoàn tuỳ tùng[120]. Dẫn đến địa vị tối thượng (ādhipateyyasavattanika):[121]  dẫn đến những ǵ tốt đẹp hơn[122].

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā) thẩm định vấn đề dưới mọi h́nh thức ta thấy có ba vấn đề nổi lên, tức là kết quả to lớn do bố thí đem lại, chính hiện trạng vượt trội của ngài xứng được nhận công đức cúng dường liên quan đến những giới đức đặc biệt v.v… và vô dư níp bàn của ngài do bất chấp thủ[123], cả ba vấn đề này đă khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này:

Công đức gia tăng khi ta bố thí (dadato puññaṃ pavaḍḍhati): công đức bao gồm bố thí được tích lũy cho người nào thực hiện bố thí thông qua những thành tích với tấm ḷng kính lễ[124] và thông qua chứng đắc thành công thuộc những ai xứng được cúng dường, ư nghĩa ở đây chính là ngay cả khi kết quả to lớn và lợi ích to lớn hơn, hay nói cách khác về vấn đề này[125] ta nên hiểu ư nghĩa như sau. Khi người nào ly tham[126] thực hiện công đức trong việc bố thí với niềm tin tuởng rằng, “công đức sẽ tăng thêm đối với người nào bố thí”, chính là đúng thời điểm, như là một người thường xuyên lỗi phạm[127] dưới mọi t́nh huống thông qua việc tác ư thuờng xuyên ư định ly tham đó, có thể bằng cách ǵn giữ giới được hoàn toàn thanh tịnh[128] nhằm phát triển chỉ tịnh và thiền minh sát, công đức của người đó, lại có ba loại bằng cách bố thí v.v…luôn gia tăng. [407] Đối với người nào đang thực hiện thu thúc (saṃyamato): đối với người nào đang thực hiện thu thúc (saṃyamantassa [129], một dạng ngữ pháp khác) thông qua thu thúc đó lại là giới. Ư nghĩa ở đây là đối với người nào kiên định trong việc thu thúc[130] . T́nh trạng thù địch không được

tích lũy (veraṃ na cīyati): năm loại thù địch[131] sẽ không tăng thêm[132]; nói cách khác liên quan đến t́nh trạng tiền thù địch không tạo ra sân hận trong giới đức, bằng cách thu thúc thân, khẩu và ư, người nào với giới được thanh tịnh, do ḷng nhẫn nại dồi dào không gây oan trái với bất kỳ ai, chính v́ thế do đâu việc tích lũy oan trái diễn ra với người ấy?[133] chính v́ thế đối với người nào luôn thu thúc (saṃyamato = saṃyamantassa [134], một dạng ngữ pháp khác) hay nói cách khác kết quả việc thu thúc đó (saṃyamato = saṃyamahetu [135]) \trang thái oan trái không được tích lũy. Đang khi người khôn ngoan từ bỏ không thực hiện điều bất thiện (kusalo ca [136]jahāti pāpaka): hơn thế nữa, người khôn ngoan[137] là những người có trí, được thiết lập nơi giới đă được thanh tịnh hoàn hảo, trong khi đó lại đắc chứng nơi thiền jhanas được phân thành cận hành định và  an chỉ định  sau khi đă chọn lựa, từ ba mươi tám đề mục[138], một đề mục thiền thích hợp với người đó, từ bỏ, là loại khỏi, bằng cách ngăn chận, đàn áp, những ǵ là bất thiện, những ǵ là ác pháp, những ǵ là bất thiện, như thể khao khát ái dục v.v… thế rồi vừa khi tinh tấn tu luyện thiền minh sát khi ngài thực hiện công việc liên kết với thiền minh sát[139] sau khi đă thiết lập được đoạn diệt và diệt[140] liên quan đến các hành một khi ngài đă thực chọn thiền jhanas làm nền tảng, chính ngài bằng thánh đạo đă diệt trừ [141] không dư sót bất kỳ điều ǵ , bằng cách diệt trừ đến tận gốc những ǵ là bất thiện, những ǵ là ác pháp, những ǵ thiếu khôn ngoan (bất thiện), thông qua diệt trừ tham dục, sân hận và si mê, Ngài đă trở thành người chứng đắc Níp bàn. (rāgadosamohakkhayā sa nibbuto): sau khi đă đoạn tận được những ǵ là bất thiện như vậy, thông qua diệt trừ ái dục v.v.. Ngài đă thành tựu níp bàn bằng phiền năo níp bàn (trong đó các phiền năo đă diệt)  không dư sót bất kỳ điều ǵ, và sau đó thông quan uẩn níp bàn, chính v́ thế mà  Đức Phật đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này,  đă toả ra[142] thông qua niềm an lạc dựa trên việc bố thí của Cunda và dựa trên chính tính chất tuyệt hảo của Ngài với tư cách là một người xứng được nhận cúng dường vậy.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ năm kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-