|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
10. Cūḷapanthaka. Trong Kinh Phật thứ mười: Cūḷapanthaka (cuḷapanthako): do ngài có được danh hiệu này vào thời c̣n nhỏ, do thực chất ngài là em trai Trưởng lăo Mahāpanthaka[1] và cũng do thực tế nữa là mẹ ngài đă hạ sanh ngài ngay trên đường đi[2] (panthe) ngay cả sau này[3], người ta vẫn biết đến trưởng lăo (Mahāpanthaka) với tên gọi là “Cūḷapanthaka”, do ngài chứng đắc rất nhiều ân đức trổi vượt, hơn nữa v́ ngài c̣n thông thạo sáu phép thần thông, nơi ngài khả năng đạt thông[4] là điều nổi bật hơn cả, ngài là thành viên trong số tám mươi đại đệ tử, đă được chính Đức Phật xếp vào địa vị tối thượng do ngài chiếm lănh đến hai địa vị như vậy, tức là. “Hỡi các vị Tỳ khưu, trưởng lăo này quả là tối thượng trong các thinh văn đệ tử của ta, là những người đă tạo ra được ư hóa thân,[5] có nghĩa là thân của chính Cūḷapanthaka (cũng như) của những người hiền triết bằng cách trở về lại với tâm của ḿnh.[6] Đó chính là Cūḷapanthaka” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 24). [320] Một ngày kia, sau khi đă chứng đắc được biết bao nhiêu thiền chứng[7] trong thời gian ban ngày trong lúc ngài hành thiền tại trú xứ vừa lúc quay trở về thiền viện sau cuộc du hành khất thực sau bữa ăn trưa. Thế rồi, nhân cơ hội đặc biệt nọ vào buổi tối, đang lúc các cận sự nam đang muốn đến nghe diễn giải Phật Pháp, ngài vào bên trong thiền viện, trong khi đó, nhận ra rằng chưa phải lúc để phục dịch Đức Phật , v́ Ngài vẫn c̣n ngồi thiền tại hương pḥng, trong tư thế kiết già, v́ lư do đó có lời nói rằng, “ Và vào cơ hội đó, truởng lăo Cūḷapanthaka đang ngồi thiền cách Đức Phật không xa, chân trong tư thế kiết già, thân ḿnh thẳng đứng, trong tư thế đó ngài đă chánh niệm nhằm để được xuất hiện trước Đức Phật”. Chính v́ sau khi ngài đă chứng đắc thiền chứng đó, ngài đă ấn định giới hạn thời gian cho chính ḿnh, ngay tại thời đểm đó, thế nên ngài đă tự ngồi thiền như vậy. Thẩm định lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): biết rơ vấn đề này được cho là pháp được định hướng đúng đắn về cả thân lẫn tâm nơi trưởng lăo Cūḷapanthaka. Tập Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích việc xuất hiện thiền chứng đặc biệt vào những dịp như vậy, sau khi đă đạt hữu dư níp bàn bằng cách không c̣n chấp thủ là điểm tột đỉnh, đối với vị Tỳ khưu đó, cũng như đối với bất kỳ người nào khác có thân thanh tịnh, đối với người đó chánh niệm sẽ xuất hiện trong bất kỳ oai nghi thân nào khi họ đang nhập thiền định. Về điểm này. Với thân không dao động (ṭhitena kāyena): toàn bộ thân ngài luôn kiên định[8] do không bị quấy nhiễu, ta coi pháp đó là không bị dao động[9]- nói ngắn gọn, với thân sinh đông[10] hoạt bát, kiên định tuyệt đối bằng cách diệt trừ, bằng cách không thực hiện, không bị thu thúc liên quan với thân; cũng giống vậy đối với ngũ môn, thân cũng được kiên định một cách thích hợp bằng cách tạo ảnh hưởng nơi pháp không theo đuổi[11] những ǵ xuất hiện nơi nhăn căn v.v…; và với thân[12] kiên định bằng cách không bị kiềm chế do chân tay v.v…không thể ở yên[13] do bản chất kiên định được chân tay của ngài.[14]mang lại - theo cách thức này, ta làm rơ được việc thanh tịnh hoàn hảo giới đức [15] (giới = morality) của ngài. Với tâm kiên định (ṭhitena cetasā) : bằng cách làm rơ toàn bộ tính chất kiên định tâm của ngài[16], ngài giải thích làm rơ chứng đắc an chỉ định của ngài, chính v́ vậy nhập định cũng c̣n được gọi là “tâm kiên định”. Chính v́ thế, do trạng thái nhất tâm cảnh tính bằng chỉ tịnh, hoặc giả chỉ bằng thiền minh sát, mà chánh niệm được đề cập đến bằng các từ tâm kiên định thông qua cách tiếp cận với pháp vô tướng[17] làm đối tượng; nhưng không thể làm khác được; và để làm rơ việc làm kiên định này, tạo ra được pháp thân và tâm như đă nói ở trên quả thật là điều mơ ước trong mọi sát na, có liên quan đến mọi oai nghi thân, ngài cho biết “Cho dù trong oai nghi đứng, ngồi, hay nằm”[18] [321] Về điểm này: Từ vā (hay là) ở đây có ư nghĩa bất định, chính v́ lư do đó trong trường hợp này ta nên hiểu, cũng phải kể thêm hành động đi lên đi xuống, hiểu theo nghĩa được làm rơ đó chính là “Cho dù ngài đang đứng, hay đang ngồi hoặc đang nằm hay ở bất kỳ một oai nghi nào.” Hỡi vị Tỳ khưu, hăy chánh niệm kiên định (etaṃ satiṃ bhikkhu adhiṭṭhahāno): Hỡi vị Tỳ khưu, xuất phát từ ngay từ điểm khởi đầu, một người có phẩm hạnh thanh tịnh, đang khi giải thoát thân và tâm khỏi những hành động tâm nóng nẩy cả về thân lẫn tâm qua việc chế ngự các tŕ trệ[19] cả nơi thân và tâm bằng cách chánh niệm, từ đó ngài đă chứng đắc được, (chánh niệm như vậy) có nền tảng[20] là niềm hạnh phúc tột đỉnh, là vô tàm khiến tâm trở nên nhẹ nhàng, dễ uốn nắn và thích hợp với công việc[21] th́ thân cũng nhẹ nhàng[22] và tâm tạo ra, và rồi thông qua việc đặt tâm đúng nơi, thu thúc chính tâm đó, ngài chứng đắc đầy đủ đề mục thiền đó và tạo cho chính tâm đó đạt tới tột đỉnh – ư nghĩa muốn nói đến ở đây là vị Tỳ khưu đó, sau khi đă thanh tịnh giới của ḿnh (giới) ngay tại điểm khởi xuất, hăy quyết tâm theo đuổi chánh niệm, nhằm đem lại lợi ích to lớn[23] ngay từ lúc đầu, vào giai đoạn giữa và tiến tới tột đỉnh trong việc tu luyện đề mục thiền[24] của ngài, hăy cương quyết (adhiṭṭhahanto, một dạng ngữ pháp khác) (chánh niệm đó) ngay tại sát na này và sát na nọ[25] cho đến khi đạt đến thiền chứng phân định rơ ràng. Phải đạt được biện phân liên tục (labetha pubbāpariyaṃ visesaṃ): đang khi tăng thêm, xúc tiến, tạo phát triển[26] rộng khắp đề mục thiền ngay mỗi giai đoạn cao hơn với tâm luôn an trụ chánh niệm là điều cần thiết, ngài phải đạt được (labheyya, một dạng ngữ pháp khác) phân biện, chấp nhận cách phân loại ngày càng rộng ra[27] là điều cả người hiện tại lẫn người kế tục[28] đều có thể đạt đến được, điều này diễn ra ở những giai đoạn trước và tiếp theo sau đó. Về điểm này, “phân biện liên tục” lại có hai loại - thông qua chỉ tịnh và[29] thiền minh sát. Đối với hai loại phân biện này, những ǵ qua chỉ tịnh mở rộng, kể từ lúc khởi sanh h́nh tướng (nimitta), cho tới pháp thuần thục trong đó có liên quan đến phi tưởng phi phi tưởng xứ - tới một mức độ như vậy sẽ xuất hiện phân biện trong việc nhập thiền và đó chính là phân biện liên tục; ngược lại những phân biện nào có được bằng cách thiền minh sát cũng phát triển ra, kể từ lúc quán đối tượng thân đối với những ai gắn kết bằng cách mở ra với sắc pháp cho đến khi quán đối tượng tâm[30] và những ǵ c̣n lại cho tới khi chứng đắc A-la-hán được thành tựu. Với mức độ như vậy chắc chắn sẽ diễn ra phân biện khi nhập thiền là một trong số những phân biện đó. Và đây cũng chính[31] là điều được ám chỉ trong trường hợp này. Sau khi đă có được phân biện liên tục (laddhāna pubbāpariyaṃ visesaṃ): sau khi đă đạt được (babhitvā, là một dạng ngữ pháp khác) phân biện liên tục[32], lại là chứng đắc ba la mật cao thượng và A-la-hán vậy. Ngài nên tiến tới điều vượt quá tầm nh́n vua tử thần (adassanaṃ Maccurājassa gacche): ngài nên tiến tới (gaccheyy. là dạng ngữ pháp khác) điều vượt quá được tầm nh́n vượt quá khỏi hành xứ, liên quan đến pháp vượt quá tam hữu đă tạo ra quy luật tử đó, ta gọi là vua tử thần do nó vượt thắng được mọi chúng sanh, liên quan đến việc tử thần có thắng vượt được toàn bộ chúng sanh bằng cách gián đoạn mạng quyền[33] vậy. Những điều ǵ không được khẳng định liên quan đến chương này giống hệt như cách đă được đưa ra bàn thảo ở trên. Việc diễn giải Kinh Phật thứ mười đến đây là kết thúc. Và cũng là điểm kết thúc diễn giải toàn bộ[34] chương về Soṇa vậy.
-ooOoo-
[1]. Chuyện kể về các chư huynh được t́m thấy trong chú giải AA i 209tt; xin cũng đọc Thanh Tịnh Đạo 387tt. [2]. V́ cũng nhà người anh em của ngài – AA i 210 [3]. Aparabhāge; rất có thể tiếp theo sau khi ngài đă xuất gia (thọ cụ túc giới) [4]. Rất có thể là những ǵ đă đề cập đến trong chú giải Ud-a 135 ở trên. [5]. Lên tới một ngàn vị Tỳ khưu chỉ kể những vị đang ngồi thiền, chẳng có hai vị nào giống nhau cả. – AA i 210. [6]. Cetovivaṭṭa; liên quan đến khả năng thiền định của ngài v́ ngài đă trở thành A-la-hán vừa khi khởi xuất thiền Jhanas liên kết với cơi sắc giới – xin đọc chú giải AA i 210. Người anh của ngài, chính là Mahāpanthaka, đă được phong cho địa vị tối thượng do khả năng thiền saññāvivaṭṭa, quay đi khỏi do tưởng, chú giải AA i 210 cũng khẳng định tương tự như vậy liên quan đến khả năng thiền minh sát và v́ ngài đă trở thành A-la-hán ngay sau khi khởi xuất khỏi thiền Jhanas liên kết với cơi vô sắc giới. Xin đọc chú giải Pṭs i 108, ii 70 trong đó năm vivaṭṭas, tức là ta thảo luận về tưởng (saññā), sở hữu tâm (ceto), tâm (citta) trí (ñāṇa) và vimokkhavivaṭṭa. [7]. Nānā; chú giải Be lại bỏ qua. [8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ṭhitena c̣n bản văn lại bỏ qua. [9]. Giống như thể một bông sen đang nở – Thanh Tịnh Đạo 311. [10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là copanakāyena; c̣n bản văn ghi là dhopitakāyena; trong chú giải Asl 95tt là các h́nh thái thân hoạt động là một trong tám uẩn không thu thúc được, được phân biệt rơ ràng, mà không có bất kỳ việc làm công phu nào thêm nữa, xuất phát từ phía pasādakāya, hay là thân cảm xúc. Xin cũng đọc chú giải Ud-a 242 ở trên. [11]. Xin đọc chú giải Ud-a 87 ở trên. [12]. Karaja;? Thân khởi sanh do nghiệp chướng – Xin đọc chú giải Av 300; DA 113, 217tt; Asl 378; Thanh Tịnh Đạo 287, 404; và xin đọc chú thích trong tập Expos 485 khẳng định rằng vấn đề này cũng giống như kāyapasāda. (xin đọc chú giải chú thích cuối cùng) Ñāṇamoli đă giải thích là “thân trong thân” (Ppn 308) và ngài Pe Maung Tin giải thích là “thân vật chất” (Pp 441). Xin cũng đọc karajarūpaṃ trong Thanh Tịnh Đạo 326. [13]. Kukkucca; thường được dịch là “hối hận” [14]. Ce Be Se giải thích là saṃyatahatthapādatāya hatthakukkuccādīnaṃ c̣n bản văn ghi là asaṃyatahatthapādakāyakukkuccādīnaṃ. [15]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sīlapārisuddhi c̣n bản văn ghi là sīlaparisuddhi; là một trong số bốn cách thanh tịnh như vậy được t́m thấy trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) ii 194tt, những cách thanh tịnh khác gồm có thanh tịnh tâm, và tâm giải thóat. [16]. Giống như ngọn lửa của một chiếc đèn khi thiếu thông gió – Thanh Tịnh Đạo 464. [17]. Ekodibhāva; xin đọc chú giải Asl 169 = Thanh Tịnh Đạo 156 đối với những từ nguyên giải thích; h́nh như đây là điều thường phải được liên kết với thiền Jhana bậc hai. [18]. Đến điểm này, ngài Woodward lại chèn vào “(Sn. 193)” h́nh như muốn ám chỉ rằng những ǵ diễn ra trước đó chỉ là một trích dẫn từ Kinh Tạng mà thôi (Suttanipāta), hơn là chỉ có nghĩa là một cước chú từ Ud mà thôi. [19]. Chú giải Ce Be giải thích là kāyacittaduṭṭhullabhāvūpasamanena (Se kāyacittaduṭṭhullavūpasamanena) c̣n bản văn giải thích là kāyacittaduṭṭhullabhāvupasamānena. Nói về kāyaduṭṭhulla (tính lường biếng thân), xin đọc Thanh Tịnh Đạo 151; cũng đọc thêm Pm. Ta giải thích duṭṭhulla là kāyasāraddhata (kích thích thần kinh nơi thân) và là ālasiya (trạng thái hôn trầm) và đây là điều ngài Ñāṇamoli cho là một trong những pháp cái nơi sân độc (ill will) (Ppn 157 n 36). MA iv 202, 208 về Trung Bộ Kinh (M) iii 151, 159 cũng giải thích duṭṭhulla giống như ālasiya vậy. Ngược lại tự điển PED sv lại đưa ra ư nghĩa từ kāyaduṭṭhulla đơn giản chỉ là “tính dâm ô, dâm dật” mà thôi (đây là điều có thể có liên quan đến thực chất là từ này đă được giải thích trong chú giải MLS iii 196, là “dâm ô dâm dật” và từ duṭṭhulla lại được giải thích là “xấu xa độc ác, dâm đăng” (tuy nhiên trong MLS iii 204 lại được giải thích là “buồn khổ”) Mặt khác, ngài Ñāṇamoli trong cả hai nơi đă giải thích từ duṭṭhulla là “tính biếng nhác, không thay đổi” (Kho tàng các từ của Đức Phật ) (A Treasury of the ’s Words, ii 141 và132). Kāyaduṭṭhulla cũng được t́m thấy trong chú giải Thag 114, được giải thích là “tính thô bỉ, thô thiển nơi thân” (EV i 15 ) và c̣n là “thân xác ph́ nộn” (Brethren 102) [20]. Ce Be giải thích là ôdhiṭṭhāya c̣n bản văn Se ghi là oādhiṭṭhānāya. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kammaññañ ca c̣n bản văn ghi là kammaññatañ ca. [22]. Thân xác (kāya) ở đây chỉ rơ ba uẩn thọ uẩn, tưởng uẩn và hành uẩn – xin đọc chú giải Dhs 40tt và Thanh Tịnh Đạo 465; cũng xin đọc chú giải Ud-a 397tt dưới đây để hiểu rơ những điểm giống nhau. [23]. Be giải thích là bahūpakāraṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là bahukāraṃ. [24]. Chú giải Be giải thích là kammaṭṭhānānuyogassa c̣n bản văn Ce Se ghi là kammaṭṭhānānuyogāya. [25]. Ce Be Se giải thích là tattha tattha c̣n bản văn ghi là tadatthaṃ tattha. [26]. Phātiṃ karonto; nghĩa đen là vỗ béo (như trường hợp gia súc (trâu ḅ), và như vậy đạt đến trưởng thành, khiến sẵn sàng để đạt đến mục tiêu cuối cùng (trong trường hợp gia súc, là giết mổ). [27] Ce Be Se giải thích là uḷāruḷāratarādio c̣n bản văn ghi là uḷāruḷāratādio . [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pubbāpariyavantaṃ c̣n bản văn ghi là pubbāpariyantavantaṃ. Đây là điều không rơ ràng, liệu đây có giống hệt như những pháp nơi những nét độc đáo liên tiếp đă được đề cập đến trong chú giải Ud-a 242, trong đó xin đọc chú thích. [29]. Be Se giải thích là cā ti (Ce ca); c̣n bản văn lại bỏ qua. [30]. Chú giải Be giải thích là nāmadhammapariggahato c̣n bản văn Ce ghi là dhammao, Se ghi là itaradhammao. [31]. Be Se giải thích ayam eva ca c̣n bản văn Ce ghi là ayam ’attho. [32]. Chú giải Be giải thích là pubbāpariyavisesaṃ (Ce Se giải thích là pubbāpariyavisese, là những khác biệt trước và sau đó) c̣n bản văn ghi là pubbāpariyaviseso. [33]. Xin đọc chú giải Ud-a 293 ở trên. [34]. Chú giải Ce giải thích ở đây là chương Soṇa; xin đọc chú giải Ud.
|
|