|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. CỦA BỐ THÍ Trong Kinh Phật thứ tám: tiếp theo sau bữa ăn trưa (pacchābhattaṃ): v́[1] ai chỉ dùng một bữa ăn duy nhất trong ngày, và người từ chối vật thực dâng cúng sau bữa ăn đó[2] người đó ăn rất sớm, ngay cả bữa trưa tiếp theo sau bữa ăn giữa ngày; nhưng điều này nên được hiểu đơn giản là tiếp theo sau bữa ăn trưa b́nh thường. Vào khoảng vừa kết thúc chuyến đi khất thực trở về: piṇḍapāta paṭikkantānaṃ = piṇḍapātato paṭikkantānaṃ (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài); vừa mới khi quay trở về từ cuộc khất thực, bằng cách đó ngài kết thúc công việc sửa soạn bữa ăn sau khi đi khất thực. Trong khuôn viên khu vực vây quanh kareri (karerimaṇḍalamāḷe [3]: về điểm này, “kareri” là tên của cây varaṇa[4] người ta kể lại rằng[5] chính ở giữa hương pḥng dưới lùm cây[6] toả hương thơm với toà đại sảnh. V́ lư do đó [203] hương pḥng cũng được gọi là “căn cḥi kareri nhỏ nhắn”(karerikuṭikā), cũng như lùm cây và ṭa đại sảnh (được gọi là) “khuôn viên vây quanh kareri” (karerimaṇḍalamāḷo): chính v́ thế[7] trong khuôn viên vây quanh, được cho là pḥng thiền, được xây dựng không cách xa cây kareri là bao. Người ta kể lại rằng “mái khuôn viên vây quanh” (maṇḍalamāḷo) được che phủ[8] (lợp) bằng cỏ khô và lá cây để giữ sảnh đường không bị ướt khi trời mưa gió, khác với “khuôn viên vây quanh” (maṇḍalamālo [9]) lại là những lùm cây do các cây leo tạo nên như cây atimuttaka[10] v.v…[11] Thỉnh thoảng (kālenakālaṃ): vào những khoảng thời gian này nọ[12] nghĩa là vào những dịp này dịp kia. Dễ chịu (manyāpike): hồ hởi tâm can, nghĩa là tạo thích thú cho những vị nào mong ước được, và những cảnh thiên nhiên đáng mơ ước cũng như không ước muốn, cũng phải được sắp xếp do từng cá nhân và[13] nhờ vào quyền, v́ điều ǵ được coi là thích hợp đối với người này, không nhất thiết cũng thích hợp với người khác. Cũng chính những ǵ được coi là không đáng ước ao đối với người này lại tỏ ra rất đáng ước ao đối với người khác. Cũng tương tự như vậy, điều ǵ đáng ước ao đối với quyền của người này, lại không đáng ước ao đối với người khác. Nhưng về điểm này, cách phân biệt rơ ràng cần phải được hiểu Quả dị thục, v́ dị thục của điều thiện th́ dứt khoát là đáng ước muốn, c̣n dị thục bất thiện th́ ắt là không đáng ước ao chút nào. Thấy sắc qua con mắt (cakkhunā rūpe passituṃ): để thấy nhờ tâm nhăn môn, những vật hấp dẫn được coi như là h́nh dáng[14] tỏa ra với nhiều màu sắc đa dạng, và rất nhiều h́nh dạng đầy sinh động[15] khi những cận sự nam đă đưa ngài vào trong nhà, khi ngài đă vào ngôi làng để khất thực, chỗ ngồi và vải bạt đă sẵn sàng với mục đích để tỏ ḷng kính lễ và sùng bái. Âm thanh (sadde): được nghe thấy khi cùng lúc ngài đi vào nhà các vị quí tộc, những tiếng hát và nhạc cụ đă nổi lên chào đón ngài. Hương thơm (gandhe): ngửi hương thơm như hoa và hương nhang v.v…[16]điều này cũng đă tŕnh bày bằng cách kính lễ, sùng kính và tỏ ḷng kính trọng. Hương vị (rase): nếm được các hương vị tuyệt vời nơi thức ăn dọn ra để thiết đăi. Các cảnh xúc (phoṭṭhabbe): đụng chạm tới được vào lúc các ngài ngồi trên ghế với màn che hảo hạng, các đồ vật đụng tới được lại chính là xúc, đem lại thoải mái[17] và sau khi đă khen ngợi các đối tượng đáng mong ước đối với ngũ môn. “Được kính trọng” v.v… được nói đến tiếp theo sau đó để làm rơ việc đạt được các đồ vật đáng mong ước đó đối với ư môn. Điều này cũng có cùng ư nghĩa như đă khẳng định[18] ở trên. Nhưng tại sao phương pháp này lại không được áp dụng trong trường hợp những vị không phải đi khất thực? Cũng được áp dụng vậy[19], v́ vào thời điểm đó khi họ đi đến từng làng, với mục đích đi mời hay được bửa ăn bắt thăm v.v…[20] những cận sự nam có tài sản lớn vẫn thường tỏ ḷng kính trọng và kính lễ, theo cách thức đó đối với các vị này. Cho dù điều này không mấy bảo đảm. Tuy nhiên do tác ư không đúng phương pháp mà các vị Tỳ khưu này đă nói theo cách đó. Sau khi đă được thiết lập thánh đạo, là không chạy theo kính lễ và sùng kính,[21] khi thường xuyên t́m kiếm kính lễ và sùng kính được dành cho các vị đi khất thực tại đó vào thời điểm đó. V́ lư do đó có lời nói rằng: “Rồi vào lúc này, hỡi các chư huynh, cả chúng ta nữa cũng là những người khất thực[22]v.v… Về điểm này: Giờ đây (handa) chỉ là một tiểu từ[23] hiểu theo nghĩa cam chịu nhẫn nhục. Sẽ được: lacchāma = labhissāma): vừa mới nghe câu chuyện đàm thoại giữa họ khi c̣n ngồi ngay tại lối dẫn vào hương pḥng, các vị đó đă tiến lại gần khuôn viên vây quanh nghĩ rằng, “Các vị Tỳ khưu này, [204] cho dù đang qui tụ lại với nhau trong cùng một thiền viện, sau khi đă xuất gia theo lời dạy của một Đức Phật. Như vậy lại bị thúc đẩy bằng những lời nói theo cách tác ư, thiếu phương pháp như vậy chắc chắn đă không thể duy tŕ được hiệu quả. Giờ đây ta phải ngăn cản[24] họ khỏi phạm phải điều này, và thúc dục họ sống làm sau cho có hiệu quả.” Điều c̣n lại giống hệt như những ǵ đă đưa ra ở trên[25]. Thẩm định lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): thẩm định lại vấn đề, tức là, ngay cả[26] các chư thiên, cũng đang nghĩ ḿnh tu luyện để có thể làm xua tan phiền năo, bằng cách tự hạn chế với thiểu dục, tri túc và đem lại hiệu quả, để có thể tạo cho khát ái hao ṃn đi, chỉ muốn trở thành người khất thực đích thực[27] mà thôi, tự cho ḿnh là quí hóa trong lúc tỏ ra quan tâm với những tu luyện của ḿnh, và những sự việc đó chẳng là ǵ khác hơn những điều này cả. Đó là tạo khởi sanh Phật Tự Thuyết, để làm rơ vấn đề này. Cho dù không phụ thuộc vào những lời nói khiến ta nổi tiếng (no ce saddasilokanissito) có nghĩa là cho dù không có ai phải lệ thuộc, do khát ái nổi tiếng được coi như là những lời đó, có nghĩa nhờ đó những người khác tôn vinh khen ngợi ngài, như thể “ta ư! vị xứng đáng phải là người thiểu dục, tri túc, và phải là người đó có cuộc sống đem lại hiệu quả cao nhất!”v.v…Hay nói cách khác[28] saddo (từ) chính là lời kêu khen ngợi nói lên lời khen ngợi trước sự hiện diện của ngài, silokaṃ (nổi tiếng) lời khen ngợi diễn ra khi người đó không có mặt, hay tiếng tốt được phổ biến khắp nơi. Điều c̣n lại giống như những ǵ đă tŕnh bày trong Kinh Phật ở trên. Đến đây kết thúc diễn giải Kinh Phật thứ tám.
-ooOoo-
[1]. Về những ǵ tiếp theo sau đó, xin cũng đọc DA 407. [2]. Liên quan đến những người chỉ dùng có một bữa duy nhất xin đọc Thanh Tịnh Đạo 69; liên quan đến những người từ chối dùng đồ ăn sau đó, xin đọc Thanh Tịnh Đạo 61, 71. Hai điểm này tạo thành cách tu đầu đà tuỳ chọn thứ năm và thứ bảy (dhutaṅga) về điểm này xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 161 ở trên. [3]. Chú giải Be Se DA cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn Se ghi là omāle. [4]. Chú giải Ce Be Se DA giải thích là varuṇa ở đây; theo tự điển PED và SED sv, cây Cratava roxburghi, SED đang khi cho biết thêm là cây này được sử dụng làm thuốc và được coi như cây có các đặc tính ma thuật. Về cây kareri, xin cũng đọc thêm Dial ii 4 n 1-2 và Brethren 363 n.2 [5]. Theo tập chú giải DA 407: “Lùm cây kareri được trồng ngay cửa căn cḥi nhỏ đó(kuṭikā) chính v́ thế ta gọi là cây Karerikuṭikā, cũng giống như cây Kosambakuṭikā (được gọi như vậy) có liên quan đến cây Kosamba được trồng ngay tại cửa nhà. Người ta kể lại rằng có bốn ngôi nhà rộng bên trong khu rừng Jeta, tức là. Karerikuṭi, Kosambakuṭi, Gandhakuṭi (hương pḥng) và ngôi nhà Salaḷa mỗi căn nhà đó đều do hàng ngàn cận sự dâng cúng. Đối với các căn nhà này, căn nhà Salaḷa do nhà vua Pasenadi xây cất, các ngôi nhà khác đều do các chủ nhà Anāthapiṇḍika xây dựng. Chính v́ thế, Đức Phật đă lưu lại tại ngôi nhà Karerikuṭikā, được trang hoàng giống như Thiên Cung của chư thiên vậy, được xây trên những chiếc cột trụ do chủ nhà Anāthapiṇḍika trong nội cung vây quanh kareri (karerimaṇḍalamāḷe): trong sảnh đường được xây cất không xa lùm cây kareri đó là bao. Người ta kể lại rằng lùm cây kareri ở vào khoảng giữa hương pḥng và sảnh đường này: chính v́ thế hương pḥng Karerikuṭikā và sảnh đường mọi người đều gọi là “nội cung vây quanh kareri”. Sv-pṭ không thêm bất kỳ ư nghĩa nào cả, trong khi đó Sn-a 403 lại đưa ra các tên thay vào đó là Mahāgandhakuṭi, Karerimaṇḍalamāḷa, Kosambakuṭi và Candanamāḷa. [6]. Bản văn lại ghi là Ca ở đây; Ce Be Se bỏ qua. Theo Sed sv mandapa, trong khi tiếp hậu tố của những tên gọi về thực vật, có nghĩa là một lùm cây hay nhà ở, tương tự như DA 407 (cp ghi chú cuối cùng) giải thích rằng lùm cây kareti (mandapa) đứng ở cửa tịnh thất kareti mà chính nó đă xây dựng trên đỉnh cột, như vậy chúng ta cho rằng mandapa là h́nh thể của lùm cây do cành cây cung cấp, đứng ở cửa. Chú giải cũng Ud-a 419 [7]. Tasma; Ce Be giải thích kasmā, v́ lư do nào đó. [8]. Chadanaṃ; hay là mái che. [9]. Ce Be Se cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là maṇḍalo-mālo. [10]. Theo như SED, atimukta và atimuktaka (nghĩa đen là “các hạt chân châu có màu trắng vượt trội”) chính là tên một số lùm cây; trong khi đó theo tự điển PED, atimuttaka chính là cây Gaertnera Racemosa, Childers gọi đó là tên một cây, và đối với CPD đó lại là cây leo Dalbergia Ujjenensis, cũng giống như atimutta, không thấy ghi trong tự điển PED, cũng theo Childers là một cây leo, và đối với CPD, là cây gỗ (được khẳng định là một lọại gỗ giáng hương) Gaertnera Racemosa. [11]. Chú giải DA 43 định nghĩa cây maṇḍalamāla như sau: “Đôi khi maṇḍalamāla là ngôi nhà có đầu hồi trên nóc đậu đầy thiên nga và chim cút. (xin đọc chú giải Ud-a 184 ở trên) có hai tháp nhọn; đôi khi maṇḍalamāla lại là một sảnh đường hội họp vây quanh một hàng cột chỉ có một ngôi tháp cao duy nhất, trong khi đó ở đây (nơi khác với cánh rừng Jeta) maṇḍalamāla lại là một sảnh đường. Nhưng như đă chú thích trong VS 267 n 34. Geiger lại cho là mālaka là một khoảng trống được lựa chọn để cử hành những nhiệm vụ linh thiêng, cũng chính Jayawickrama lại đưa ra tương quan khả dĩ có giữa mālaka và maluva của người Tích Lan (Sinhale), hay là phần sân gần vây quanh các ṭa nhà tu viện. Về điểm này ta có thể so sánh cách thức trong đó Bodhimaṇḍa (eg.Thanh Tịnh Đạo 203) vây quanh cây bồ đề là như thế nào. Ở đây rất có thể karerimaṇḍalamāla chính là một khu đất có hàng rào vây quanh là cây kareri rất có thể với cành cây đó đă che phủ bên trên tạo thành một nơi ở trong đó các Tỳ khưu ngồi nghỉ đang khi được nhận huấn thị, điều này được tư điển SED xác thực cho là māla là một cánh rừng hay là một khu rừng nhỏ gần làng, và thêm vào đó, mālaka lại chính là chỗ nghỉ mát hay một lùm cây vậy. [12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là antarantarā c̣n bản văn ghi là antarantaro. [13]. Ce Be Se giải thích là puggalavasena ca c̣n bản văn ghi làpuggalavasena [14]. vaṇṇa. [15]. Ce Be Se giải thích là saviññāṇakarūpe c̣n bản văn ghi là saviññāṇarūpe. [16]. Chú giải Vv-a 173 trong đó các cận sự dâng hương, hoa, nhang và đèn. [17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sukhasamphasse c̣n bản văn ghi là sukhasamphassa; chú giải Dhs 648, sửa soạn kỹ lưỡng trong Asl 333 trong đó có nhiều ví dụ cụ thể được đưa ra, như thể quạt mát trong khí trời oi ả. [18]. Ce Be Se giải thích là vuttattham eva c̣n bản văn ghi là vuttam eva. [19]. Giải thích là na labbhatī ti? chú giải Ce Be Se giải thích là labbhati c̣n bản văn ghi là na labbhatī ti labbhati. Chú giải Ud-a 212 cũng tương tự như vậy. [20]. Hai trong số mười bốn loại thức ăn cấm những người khất thực không được nhận, chú giải Thanh Tịnh Đạo 66. [21]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sakkāragarutāya c̣n bản văn ghi là sakkāragarukāratāya. [22] . Chú giải Be giải thích là ’ āvuso mayam pi c̣n bản văn Ce Se ghi là ’ āvuso mayaṃ, chú giải Be do đó chỉ một ḿnh là phù hợp với chính bản dịch của Udāna, hăy đọc chú thích trong đó. [23]. C̣n bản văn Ce chèn thêm ’va; chú giải Be Se lại bỏ qua. [24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là nivāretvā c̣n bản văn ghi là nīharitvā [25]. Chú giải Ud-a 102-109. [26]. Pi; chú giải Be bỏ qua. [27]. Sato; tôi cho là vấn đề này ở sở hữu cách sant. [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vā c̣n bản văn ghi là va; đoạn này trong tập Udāna trở thành, “Cho dù nếu như con người ta không phụ thuộc vào lời nói và danh tiếng. |
|