NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. CON TRAI ĐỘC NHẤT

Trong Kinh Phật Thứ bảy: Con trai duy nhất : ekaputtako = eko putto  (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác); và cậu ta là “con trai độc nhất[1]” hiểu theo nghĩa cậu ta là đứa trẻ được nuông chiều[2], “yêu dấu” (piyo) hiểu theo nghĩa cậu ta được quí trọng, “duyên dáng yêu kiều” (manāpo)[3] hiểu theo nghĩa cậu ta có trí thông minh; hay nói cách khác cậu ta được “yêu qúi” (piyo) hiểu theo nghĩa là có thân h́nh lộng lẫy [4], “duyên dáng yêu kiều” (manāpo) liên quan đến vấn đề cậu ta là người có bản chất tự nhiên rất đáng yêu do những thành tựu giới hạnh[5]. V́ điều đó thôi thúc tiến lên phía trước (kaleti [6]) v́ nó tạo cho chúng sanh ốm yếu gầy ṃn đi (khepeti), thời điểm đă đến (kālo), và tử thần xuất hiện. Người nào đă hoàn tất và tiến đến gần giây phút này[7], chính là “người đă hoàn tất thời điểm của ḿnh” (kālakato); hay nói cách khác có nghĩa là qua đời; chính v́ đă đến thời điểm (kālena), đă đến lúc từ bỏ, mà con người sẽ đi đến điểm kết thúc (kato) (cuộc sống), đă tàn lụi đi, biến vào cơi vô h́nh, người đó “đă kết thúc đời ḿnh trên thế gian này” (kālakato), có nghĩa là chết. Một số đông những cận sự nam (sambahulā upāsakā): rất nhiều Phật tử là những cư dân thành Sāvatthi, vẫn c̣n mặc đồ giống như những thứ họ vẫn c̣n mặc[8] khi quay trở về sau khi đă đưa tiễn, than văn[9] đám tang, theo sau người cận sự nam đưa người con trai đến tận nghĩa trang, và ở đó họ phải thực hiện điều cần thiết đối với người chết, họ đă đi xuống nước, gội đầu[10], giặt giũ[11] quần áo và ngay khi quần áo c̣n ướt. [120] Họ mặc vào lại, dẫn người cận sự nam đó[12] đến trước mặt họ và rồi đi đến gặp Đức Phật nghĩ rằng, “Chúng ta sẽ nghe Phật Pháp của Bậc đạo sư giúp đẩy lùi sầu khổ”, v́ lư do đó người ta nói rằng “với tóc vẫn c̣n ướt” v.v… về điểm này:

Với quần áo c̣n ướt sũng (allavatthā): với quần áo vẫn c̣n ướt v́ đă nhúng nước. Vào ban ngày, vào lúc trời c̣n sáng: divādivassa = divasassa pi divā [13]( thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới dạng ngữ pháp khác), nghĩa là lúc giữa ngọ, v́ các vị Như Lai, dù cho có biết cũng vẫn cứ hỏi, cho dù không có biết, vẫn hỏi sau khi đă thẩm định xem đă đến thời gian chưa[14], Ngài không hỏi thêm ǵ sau khi đă thẩm định xem đă đến thời điểm chưa, chính v́ thế giống như người đă am hiểu[15] vấn đề Đức Thế Tôn lên tiếng,“Tại sao giờ đây các ngươi vẫn chỉ là cận sự nam” v.v…Ngài lên tiếng hỏi như vậy với mục đích khởi động một cuộc vấn đáp, đây là ư nghĩa câu hỏi trên: “hỡi các cận sự nam, khi các ngươi đến gặp ta vào những ngày khác, các ngươi tới vào ban chiều mặc quần áo sạch sẽ, khô ráo; nhưng hôm nay các ngươi lại đến nơi đây vào giữa trưa, mặc đồ ướt, đầu tóc cũng ướt sũng nước, v́ lư do ǵ vậy?” Chính kết quả của điều này mà chúng tôi (tena mayaṃ): chính do việc sầu khổ nơi tâm do chúng tôi phải chia tay với người con trai duy nhất, thực tế là như vậy nên chúng tôi phải vượt qua đau khổ day dứt, thế nên chúng tôi đến gặp Ngài tại nơi này.

 Thẩm định vấn đề này (etam attha viditvā):  t́m hiểu vấn đề này dưới mọi góc độ, tức là nỗi buồn đó, đau khổ đó và nỗi thất vọng đó v.v…đă phát sanh nơi những đối tượng yêu quí (và) khi không xuất hiện những đối tượng yêu quí như vậy th́ chính những điều vừa nêu trên cũng chẳng tồn tại, là Phật Tự Thuyết này đă làm thể hiện vấn đề đó. Về điểm này:

Gắn bó với sắc khả ái, khả hỷ (piyarūpāsātagadhitāse [16]): gắn bó với,[17] lấy những cảnh làm đối tượng khiến ḷng ḿnh bị lệ thuộc, nhờ những hương vị ngọt ngào của thọ lạc đem lại. Các sắc uẩn v.v…bản chất lại là những người ta yêu mến; v́ từ gadhitāse (gắn bó với) cũng có cùng ư nghĩa như từ gadhitā [18], bằng không se chỉ là một tiểu từ mà thôi, chính con mắt v.v…vợ và con cái v.v… được biết đến như là “sắc khả ái hay những ǵ ta tỏ ḷng yêu mến”[19]; v́ lư do đó[20] có lời nói rằng:“Và sắc khả ái, sắc khả hỷ trên thế gian này là ǵ. ? Con mắt trên thế gian này…ái dục cảnh pháp[21] diễn ra trên thế gian này chính là sắc khả ái, sắc khả hỷ ( [22] ); và[23] “bất kỳ người nào ham muốn có đồng ruộng, của cải, hay vàng ṿng, trâu ḅ và ngựa,[24] có nhiều tôi tớ đàn ông đàn bà, có người thân thuộc họ hàng và đủ thứ ước muốn dục lạc khác.” (Sn 769)

Chính v́ thế ư nghĩa khát ái, sững sờ[25] do, thu hút bởi những sắc khả ái, liên quan đến những hương vị ngọt ngào chúng đem lại; hơn thế nữa, do muốn biết ai là những người đă gắn bó với hương vị ngọt ngào nơi những sắc khả ái đó[26], Ngài đă vạch ra những nhân vật sau đây, tức là. [121] một số lớn các vị chư thiên và rất đông chúng sanh (devakāyā puthumanussā ca): không chỉ có những đoàn thể lớn các vị chư thiên [27] như Tứ Đại Thiên Vương v.v…nhưng cũng có rất nhiều con người nữa[28] như những cư dân sống trong đất nước Ấn Độ (Jambudīpa) v.v…[29]phải khốn khổ (aghāvino): phải chịu sầu khổ (dukkhitā [30]): do những đau khổ thân và tâm. Suy tàn (parijunnā [31]): bị héo ṃn khỏi những thành tựu như tuổi trẻ, sức khoẻ v.v…do kết quả những thất bại đem lại như tuổi già, sức khỏe, đau yếu v.v…[32]; hay do chính của cải dồi dào đem lại, cũng là ư nghĩa ta nên hiểu[33] ở đây. Đó là v́ cả các vị chư thiên lẫn con người đều quan tâm đến; hay nói cách khác, giả dụ rằng đang khi các vị chư thiên không phải đau khổ, không bị tuổi già và bệnh tật ảnh hưởng…họ đă đạt được hạnh phúc đặc biệt, ấy vậy người ta vẫn cho là: các vị chư thiên này cũng bị “sầu khổ” và “suy tàn đi”[34]thực tế là chính bản chất của họ cũng không thể vượt qua những điều đó; hay nói cách khác, chính các ngài cũng phải chịu đau khổ và suy tàn nữa, qua việc ṿng hoa héo tàn và tâm bệnh do khởi sanh (năm) điềm báo[35] về cái chết[36] là điều ta nên hiểu. Họ phải đắm ch́m dưới tay của tử thần.(maccurājassa vasaṃ gacchanti): qua việc họ liên tục phải tái tái sanh trong bụng mẹ, thực tế là do ái dục, mà đối tượng nhắm đến là đối tượng yêu dấu, vẫn chưa thể diệt trừ được, họ đang phải đắm ch́m trong ách thống trị, trong chính bàn tay ma vương, được coi như là thần chết, do tính chất thống trị trên tam giới [37] này. Sau khi đă biểu thị bóng gió như vậy về ṿng luân hồi, tiếp theo đó Ngài chỉ ra cho thấy cách phá bỏ ṿng luân hồi này bằng cách nói rằng, “Tuy nhiên ngày cũng như  đêm” v.v… Về điểm này[38]:

Tuy nhiên người nào ngày cũng như đêm đều tỏ ra không dễ duôi (ye ve divā ca ratto ca appamattā): (người nào) ngày đêm luôn tinh tấn[39] thực hiện theo những ǵ đă được khẳng định ở trên,“Vào ban ngày, đang khi đi kinh hành, đang khi ngồi thiền,[40] người đó liên tục thanh lọc[41] tâm khỏi các pháp[42] triền cái v.v…chu toàn[43] việc tu luyện tính tinh tấn. Từ bỏ những sắc khả ái (jahanti piyarūpa): khước từ, xuất phát từ kết quả đạt đến thánh đạo sau khi đă hăng hái tu luyện đề mục thiền dưới dạng tứ chân đế và các sắc khả ái, các đối tượng yêu quí [44]như mắt v.v…thuộc những sắc khả ái, bằng cách khước từ những tham dục [45] và khát ái làm đối tượng yêu thích. Tuy nhiên, họ đào xới tận gốc sầu khổ, bới tung mồi bả thần chết để vượt thắng (te ve khaṇanti aghamūla maccuno āmisa durativatta): với chiếc xẻng chính là trí tuệ tương ưng với thánh đạo, các Bậc thánh nhân này đă đào xới, đánh bật tận gốc rễ, không để bất kỳ điều ǵ xót lại,[46] ngay cả những dấu vết[47] của chúng là ái dục, cùng với vô minh, làm thành gốc rễ sầu khổ, đau khổ nơi ṿng luân hồi, lại chính là bẫy mồi tử thần vậy (āmisa), V́ ta phải coi chính những điều vừa đề cập đến là những ǵ tiêu biểu (āmasitabbato) [48] dẫn đến sự chết và cũng là những điều khó ḷng vượt qua được, liên quan đến nỗi bất lực về phía bất kỳ vị sa môn hay bà la môn nào ngoài họ ra khó ḷng có thể quay đầu lại với cùng những điểm tiêu biểu vừa liệt kê ở đây[49] vậy.

Ta phải triển khai chi tiết ư nghĩa này [122] bằng những đoạn Kinh Phật như sau: “Tinh tấn là thánh đạo dẫn đến bất tử, dễ duôi là con đường dẫn đến tử thần; người tinh tấn sẽ không giáp[50] mặt với tử thần, bất kỳ người nào dễ duôi th́ kể như ḿnh đă chết rồi vậy (Dhp 21[51]) v.v…

Việc diễn giải Kinh Phật thứ bảy được kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

 

[1]. Ce Be Se giải thích là ekaputtako c̣n bản văn th́ ghi là ekaputta ko. 

[2]. Anukampitabbaṭṭhena; nghĩa đen hơn, ta tỏ ra thương hại. Xin đọc chú giải J iv 463 đối với cùng một t́nh cảm đó.

[3]. Ce Be Se giải thích là manāpo // Sarīrao c̣n bản văn ghi là manasarīrao

[4]. Ce Be Se giải thích là sarīrasobhāsampattiyā c̣n bản văn ghi là (mana) sarīrasobhāsasampattiyā.

[5]. Ce Be Se giải thích là sīlācārasampattiyā c̣n bản văn ghi là sadācārasampattiyā, tuy nhiên ư nghĩa có hơi ảnh hưởng đôi chút; sadācāra không thấy được liệt kê trong tự điển PED, nhưng xin đọc  chú giải Childers, SED sv.

[6]. Kaleti; không thấy liệt kê trong tự điển Childers hay PED, nhưng xin đọc chú giải SED sv kalayati

[7]. Ce Be Se giải thích maraṇaṃ//Taṃ kato c̣n bản văn ghi là maraṇantagato

[8]. Be giải thích là yathānivatthā c̣n bản văn ghi là yathā nivattā. Ce Se giải thích là yathānivattā.

[9]. Ce Be Se giải thích là sahasokībhāvena bản văn ghi là saha sokībhāvena.

[10]. Ce Be Se giải thích là sīsanahātā  c̣n bản văn ghi là nahātvā.

[11].  Giống như quần áo được giặt giũ ở phương đông.

[12]. Taṃ; Be bỏ qua.

[13].  Xin đọc chú giải SA i 159, AA ii 320, iii 312, iv 97 cũng tương tự như vậy. PED, sv divā, khẳng định rằng divādivassa có nghĩa là “vào lúc sáng sớm, vào lúc mặt trời lặn, vào một giờ sớm” là điều đa số các dịch giả thường theo. Woodward (VofU 18) đa số đă không để ư đến câu này trong lúc dịch. Cũng như trong Ud-a 159 dưới đây.

[14]. Xin đọc chú giải  Trung Bộ Kinh (M) i 395.

[15]. Bản văn chèn thêm pi; Ce Be Se đă bỏ qua.

[16]. Be giải thích là piyarūpassādagadhitāse (và cả Ud Be Se) c̣n bản văn ghi là piyarūpāsātagathitāse, Ce ghi piyarūpā sātagadhitāse, Se pīyarūpasātagadhitāse; xin đọc  chú giải Ud

[17]. Ce Be Se giải thích là gadhitā c̣n bản văn ghi là gathitā.

[18]. Ce Be Se giải thích là gadhitāse ti hi gadhitā’ eva attho c̣n bản văn th́ ghi ’ eva attho.

[19]. Ce Be giải thích piyarūpā (Se ghi pīyarūpā) c̣n bản văn th́ ghi piyarūpa.

[20]. Ce giải thích kiñca loke piyarūpa sātarūpa - pe - dhammatahā loke piyarūpa sātarūpan ti. Be lại ghi là kiñca loke piyarūpa sātarūpa cakkhu loke – pe - dhammatahā loke piyarūpa sātarūpan ti, Se lại ghi là kiñca loke pīyarūpa sātarūpa cakkhu loke pīyarūpa sātarūpa - pe - dhammatahā loke pīyarūpa sātarūpan ti, c̣n bản văn lại ghi kiñ ca loke piyarūpa sātarūpa? Cakkhu loke piyarūpa sātarūpa - pe – dhamma – pe - tahā (uppajjamānā) – pe - piyarūpa sātarūpa.

[21]. Dhammata; xin đọc  chú giải S ii 3.

[22]. Theo ngài Woodward, “S ii 108tt; Vibh 101tt”. một số điều rất giống nhau được t́m thấy ở cả hai vị trí, cho dù cả hai chẳng đề cập ǵ đến dhamma/ dhammatahā. Tôi cũng không thể tận dụng được Nd2 , ngài Woodward đă hướng chúng ta chú ư tới với một chú thích cuối trang. Theo Be, “Khu vii 127 (Be)”.

[23]. Ce Be Se giải thích với từ ca; c̣n bản văn th́ bỏ qua.

[24]. Ce Be Se giải thích là gavassaṃ c̣n bản văn lại ghi là gavāssa

[25]. Ce Be giải thích là ajjhāpannā bản văn lại ghi là ajjhopannā; xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 365 dưới đây để có một định nghĩa về ajjhopanna.

[26]. Be giải thích là piyarūpassādagadhitā, c̣n bản văn ghi là piyarūpasātagathitā, Ce ghi piyāsātagathitā, Se ghi pīyarūpasātagadhitā.

[27]. Ce Be Se giải thích là obahudevasamūhā c̣n bản văn th́ ghi bahū devasamūhā.

[28]. Ce Be giải thích là bahumanussā c̣n bản văn ghi là bahūmanussā, Se ghi bahū manussā

[29]. Ce Be giải thích Jambudīpakādikā  (Se ghi Jambūo) c̣n bản văn lại ghi là  Jambudīpakā;  tuy nhiên cũng c̣n có chúng sanh khác sống tại ba đại lục khác nữa. xin đọc chú giải Vv-a 18tt.

[30]. Xin đọc  chú giải Ud-a 60 ở trên.

[31]. Ce Be Se và Ud cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn ghi là parijiṇṇā (quá khứ phân từ của pari +jar – PED); không thấy liệt kê trong tự điển Childers hay PED, PED có ghi một mục từ cho pārijuñña người ta cho rằng từ này được rút ra từ parijuṇṇa, là quá khứ phân từ của pari+jur. Nhưng đối với từ này cũng không thấy có một mục từ nào xuất hiện trong các tự điển đó cả. 

[32]. Ce Be Se giải thích là jarārogādi c̣n bản văn ghi là rāgādio.

[33]. Ce Be giải thích là yathālābhavasena vāyam attho (Se ghi là yathālābhavasena tassam attho) c̣n bản văn lại ghi là yathā lā’ ’ ayam attho.

[34]. Ce Be Se ghi là parijunnā c̣n bản văn ghi là parijiṇṇā.

[35]. Những chiếc hoa của ngài tàn úa. Quần áo của ngài vấy bẩn, mồ hôi từ nách toát ra, toàn thân ngài toát ra một màu sắc mờ nhạt, và ngài chẳng c̣n chút hứng thú nào ngồi trên thiên ngai của ḿnh nữa. – It 76.

[36]. It-a ii 76.

[37]. Dhātuttaya; đây là ba đơn vị phân chia vũ trụ gồm có kāmadhātu (cơi dục giới) rūpadhātu (cơi sắc giới) arūpadhātu (cơi vô sắc giới) – td. Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 223.

[38]. Ce Be Se giải thích là tattha  c̣n bản văn ghi là tassa.

[39]. Ce Be Se giải thích là daha appamattā c̣n bản văn ghi là dahāppamattā.

[40].  Ce Be Se giải thích là nisajjāya c̣n bản văn ghi là nissajjāya.

[41]. Parisodheti:  Trung Bộ Kinh (M) ghi parisodhehi.

[42]. Xin đọc chú giải  Trung Bộ Kinh (M) iii 3.

[43]. Ce Be Se giải thích là pūrenti c̣n bản văn ghi là pūrentī ti.

[44]. Ce Be Se giải thích làovatthuṃ c̣n bản văn ghi là ovatthu.

[45].  Se giải thích là chanda, c̣n bản văn ghi là –cchanda-

[46]. Ce Be Se giải thích là anavasesantā c̣n bản văn lại ghi là anavasesato; avasesati không thấy được liệt kê trong tự điển Childers, PED hay CPD, tự điển Childers và CPD chỉ ghi từ avaseseti.

[47]. Lesamattaṃ: cũng như trong chú giải Ud-a 151 dưới đây. ư nghĩa này không mấy rơ ràng xuất phát từ mục từ trong PED, đă khẳng định lesa, như là “tiểu từ”, chỉ xuất hiện trong Dhtp 444 trong phần định nghĩa từ lisati.

[48]. Xin đọc chú giải Sv-pt i 162.

[49]. Ito bahiddhā; được giải thích như là phần ngoại lệ thuộc giáo lư của Đức Phật (imamhā sāsanā bahi) trong phần chú giải SA i 193. phần tham khảo về D i 157 do PED thực hiện, sv bahiddhā. H́nh lại tỏ ra không xác thực.

 [50]. Dhp-a i 229 chỉ ra cho thấy qui tŕnh họ trải qua sự chết. Nhưng điều này cho thấy v́ đối với họ ṿng (chu kỳ) luân hồi bị giới hạn ở mức độ nhất định, v́ họ đă thể hiện thánh đạo và thánh quả rất nhanh, và không tái xuất hiện sau lần tái sanh thứ nh́ hay thứ ba, trong khi đó ṿng luân hồi lại có qui mô bất tận ở nơi vị nào dễ duôi. 

[51]. Be giải thích là Kuṇḍikā  xuyên suốt cả tác phẩm.