|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. CÔ GÁI LÀNG CHƠI Trong Kinh Phật thứ tám: Hai băng nhóm (dve pūgā): hai nhóm. Một cô gái làng chơi nào đó (aññatarissā gaṇikā): một phụ nữ đẹp trong thành phố. Mê say: sāratta = suṭṭhu rattā (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài nơi dạng[1] ngữ pháp khác). Tâm họ đă bị mê hoặc (paṭibaddhacittā): thông qua áp lực nơi các phiền năo, tâm họ đă bị nô dịch hóa[2]. Người ta kể lại rằng trong ngày lễ hội diễn ra trong thành phố Rājagaha có một đám đông các chàng trai trác táng đi quanh quẩn đây đó thành từng nhóm, t́m kiếm các cô gái làng chơi,[3] dẫn vào công viên và rồi trụy lạc vào những thú tiêu khiển lễ hội. [350] Thế rồi, vào ngày hôm sau, lại có một số các chàng trai trác táng khác cũng đi kiếm các cô gái làng chơi với ước ao tham gia vào cuộc chơi lễ hội theo cùng một cách như thế, họ đă kiếm được một cô gái làng chơi,[4] nhóm thanh niên trác táng hôm trước đă bắt được cô gái này, những chàng trai hôm trước vừa nh́n thấy cô gái liền nói “cô gái này là sở hữu[5] của chúng tôi”; bọn sau này cũng nói y hệt[6] bọn trước, thế nên một cuộc tranh căi diễn ra, nói rằng “cô gái này là sở hữu của chúng tôi, cô chính là của[7] chúng tôi”, họ đă dùng tay chân đánh nhau kịch liệt, v́ lư do đó có lời nói rằng, “và vào thời điểm đó có hai băng nhóm trong thành Rājagaha” v.v…về điểm này: họ tấn công (upakkamanti): đánh nhau. Cả hai nhóm đều diễn ra án mạng (maraṇam pi nigacchanti): bắt gặp (upagacchanti) cái chết bằng sức tấn công của cả hai bên, điều c̣n lại kết thúc bằng đau khổ tương tự như cái chết (mattaṃ), trên phương diện ngang (pamāṇaṃ) với cái chết vậy. Thẩm tra lại vấn đề (etam atthaṃ viditvā): thẩm tra lại dưới mọi h́nh thức cho thấy rằng sự tham đắm dục lạc chính là nguyên nhân tranh căi , là nguyên nhân gây thiệt hại cho chính ḿnh. Tập Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khiến khởi sanh tập Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích[8] mối hiểm nguy nơi cặp thái cực và lợi ích trong việc thực hiện trung đạo. Về điểm này: Những ǵ chúng ta bắt gặp (yañ ca pattaṃ): bất kỳ điều ǵ liên kết với năm dục công đức, như cảnh sắc v.v…[9] ta đă bắt gặp và giờ đây ta đă có được là điều ta hiện đang cảm nghiệm, cho dù trước đó ta đă làm nổi bật quan điểm cho rằng, “Chẳng có lỗi lầm ǵ nơi dục lạc cả” (Trung Bộ Kinh (M) i 305). Và điều ta đă bắt gặp (yañ ca pattabbaṃ): và bất kỳ điều ǵ tương tự như vậy liên kết với dục công đức đó ta đă bắt gặp, ta phải cảm nghiệm[10] trong thời gian sắp tới là kết quả của hành vi ta đă thực hiện bằng cách căn cứ vào một quan điểm, không được diệt trừ một cách quyết liệt. “Những dục lạc ta thưởng thức, những dục lạc ta đă can dự vào, những dục lạc ta đă theo đuổi, những ái dục ta đă nuông chiều theo. Người nào cùng can dự vào những dục lạc cơi[11] thế gian; người nào đề cao thế gian sẽ tạo được công đức dồi dào.” Cả hai hạng người này đều bị vẩn đục do bụi bậm bám vào (ubhayam etaṃ rajānukiṇṇam): hai hạng người này – điều ta đă bắt gặp và điều ta sẽ bắt gặp – đều đă bị vẩn đục hoàn toàn do bụi bậm tham dục v.v…bám vào, v́ một khi dục lạc có căn làm đối tượng xuất hiện, người nào cảm nghiệm được cùng thứ đó sẽ bị tan tác do bụi tham ái đó tạo nên, ngược lại người đó trở thành tan tác do bụi sân hận khi tâm trạng chán nản[12] xuất hiện, trong tương lai khi kết quả nơi qui tŕnh tâm đó đă bị phiền năo ở góc độ [13] ta đă gặp phải, tuy nhiên trong khi đó người đó đă bị tan tác với bụi si mê trong cả hai trường hợp trên, sợ rằng chúng ta bị vặn lại: “nhưng đối với người nào đă bị vẩn đục hoàn toàn do bụi bậm như vậy”? Ngài cho biết “đối với người nào đă bị bệnh là do người nào đang theo đuổi.[14]” (ư nghĩa ở đây là) đối với những ai đă bị đau ốm do các phiền năo[15] thông qua tưởng theo đuổi những dục lạc, và thông qua hậu quả từ đó đem lại, cũng như đối với người nào đă bị ốm đau do đau khổ đem lại, cũng vậy, trong cả hai trường hợp, đối với người nào, thông qua ái dục là cách chữa trị[16] những căn bệnh đó, lại đang theo đuổi các thành quả[17] do các phiền năo đem lại, cũng tương tự như vậy[18], những ǵ ta đă bắt gặp (yañ ca pattaṃ): những đau khổ chính ḿnh ta đă bắt gặp thông qua[19] thái độ liên kết với các ẩn sĩ lơa thểà v.v… [351] và những ǵ ta phải bắt gặp (yañ ca pattabbaṃ): và kết quả là ta phải bắt gặp nơi những khổ cảnh do kết quả nghiệp chướng cũng là kết quả do tà kiến đem lại[20]. Cả hai điều này đă bị hoàn toàn vẩn đục (ubhayam etaṃ rajānukiṇṇaṃ): cả hai trường hợp này đều bị vẩn đục hoàn toàn với bụi bậm đau khổ. Đối với người nào đă bị đau ốm (āturassa): v́ người nào đă bị đau khổ làm gây bệnh hoạn do tự hành hạ thân. Đối với người nào đang theo đuổi (anusikkhato): đối với người nào đang theo đuổi tà kiến, và những người nào đang can dự vào chính những tà kiến đó. Và những người nào lấy học giới làm căn bản (ye ca sikhāsārā [21]): (và) những người nào nhờ học giới như vậy họ đă nắm giữ, học giới này chính là giới cấm thủ v.v…lại được thực hiện đến nơi đến chốn; th́ việc diễn giải[22] về thanh tịnh trong ṿng luân hồi[23] cũng được coi là điều tương tự như vậy; v́ lư do đó có lời nói rằng: “Đối với người nào coi việc tham gia vào giới cấm thủ, nuôi mệnh, cuộc sống phạm hạnh làm căn bản[24]”. Về điểm này: Giới là điều đă ngưng, nghĩ rằng “ta không thực hiện điều đó” tu luyện nghi thức hành khổ hạnh đó chính là độc hại v.v…[25] nuôi mệnh cuộc sống được duy tŕ bằng rau cỏ (đồ chay) v.v…[26] kiêng tránh không giao cấu t́nh dục nơi cuộc sống phạm hạnh, là việc đem ra thực hiện cùng những việc hầu hạ (trong đó), hay nói cách khác đó chính là việc thờ cúng chư thiên Skanda và thần Siva v.v… bằng cách dâng cúng những đồ ăn cho các thần linh[27] và trải thảm nền nhà[28] v.v…ư nghĩa ở đây chính sự hầu hạ phục dịch. Như vậy chính các vị sa môn bà la môn là những người kiên tŕ coi những việc kể trên là điều cốt yếu, tin tưởng rằng đó chính là điều thanh tịnh trong ṿng luân hồi bằng việc giới vừa đề cập đến ở trên v.v… là điều ta nêu hiểu ở đây với câu “(và người đó) lấy việc học giới là điều căn bản, người đó coi việc thực hiện giới cấm thủ, sanh mệnh, cuộc sống phạm hạnh là điều cơ bản”. Đây là một thái cực (ayam eko anto): đây chính là điều tạo thành tà đạo trong đó người nào theo đuổi trung đạo quan tâm, tức là đam mê thực hiện tự hành khổ hạnh do hiểu sai (điều tạo thành) giới cấm thủ, là một thái cực quá trớn, (cũng giống như thái cực khác) hiểu theo nghĩa ti tiện [29]. Đây lại chính là một thái cực khác nữa (ayaṃ dutiyo anto): việc đam mê ái dục, điều này nuốt chửng[30] các dục lạc được coi như là “những thành tựu”[31], cũng lại là một thái cực khác nữa, (cũng giống như đây cũng là một thái cực khác) theo cách đă được khẳng định ở trên[32]. Chính v́ thế, cả hai điều kể trên đều chỉ là các thái cực thái quá (’ete ubho antā)[33]: chính v́ thế cả hai vấn đề, đam mê ái dục và tự hành khổ hạnh đều là các thái cực cần phải tránh, và những điều này đă trở thành cực đoan hiểu theo cách chúng là những điều ty tiện và tạo ra tà đạo; do thực chất là những người đă tự gắn bó với dục công đức và tự hành khổ hạnh đă thực hiện điều đó. Cho dù ta có bắt gặp điều này ngay vào lúc này hay sẽ gặp phải trong tương lại cũng đều bị phủ đầy bụi bậm phiền năo và đau khổ – đang theo đuổi [34] (những người khác) do các phiền năo và đau khổ đang gây bệnh hoạn đau ốm, và những người đó tự ḿnh đă tự gây ra bệnh hoạn cho chính ḿnh với những phiền năo và đau khổ đó. Các băi tha ma chật cứng (kaṭasivaḍḍhanā): ái dục và vô minh ngày càng gia tăng được ví như các băi tha ma hiểu theo nghĩa những người phàm tục mù quáng đang theo đuổi điều đó. Các băi tha ma tạo gia tăng tà kiến (kaṭasiyo diṭṭhiṃ [35]vaḍḍhenti): [352] Hơn thế nữa, những băi tha ma đó lại tạo ra tà kiến đủ loại[36] gia tăng thêm, v́ sau khi đă có được trợ giúp nơi ái dục và vô minh người ta hưởng hương vị ngọt ngào nơi dục lạc là đối tượng, th́ không thể nào diệt trừ được chúng, khiến cho những người đó chấp nhận quan điểm vô hữu kiến (natthika), quan điểm vô hành kiến (akiriya) và quan điểm vô nhân kiến[37], bằng cách ghi khắc sâu ư nghĩ cho rằng “chẳng có bố thí ”[38]v.v… trong khi đó sau khi vô minh và ái dục nơi những người đă đam mê tự hành khổ hạnh sẵn sàng hỗ trợ, chúng tạo ra cho người đó thông qua ái dục tự thanh tịnh[39] chấp nhận quan điểm bao gồm việc hiểu sai lệch chính những việc làm đó sẽ tạo ra giới cấm thủ bằng cách in khắc sâu ư nghĩ cho rằng) “thanh tịnh có được thông qua việc giới; thanh tịnh có được là nhờ thực hiện các nghi lễ đó.”[40] v.v… Hơn thế nữa, họ có bản chất nguyên nhân là điều khá hiển nhiên xuất phát từ thực tế là cho rằng chúng đem lại quan điểm về thân được cụ thể hoá. Như vậy chúng ta nên hiểu vô minh và ái dục là nguyên nhân khiến cho tà kiến gia tăng thêm (phồng lên) với cặp thái cực là sự hỗ trợ quyết định,[41] tuy nhiên một số người cho rằng, “băi tha ma” lại là từ đồng nghĩa với ngũ uẩn, ư họ muốn nói rằng tại bất kỳ điểm nào không có thanh tịnh trong ṿng luân hồi xuất phát từ cặp thái cực[42] nêu trên th́ ngay tại điểm đó cặp thái cực này luôn gia tăng[43] một cách đáng kể ngũ thủ uẩn upādāna. Cũng c̣n có một số người khác cho rằng[44] ư nghĩa của đoạn văn, “các băi tha ma tăng trưởng” chính là cách gia tăng băi tha ma do lăo và tử[45] đă xảy ra một cách liên tục; bằng đoạn văn này chỉ có một điều được khẳng định đó là không hiểu cặp thái cực này có tạo ra[46] nhân duyên cho thanh tịnh trong ṿng luân hồi hay không; thực chất băi tha ma tạo tà kiến căng phồng lên vẫn c̣n là điều cần phải được bàn đến thêm[47]. Qua việc không thắng tri cả hai thái cực này (ete te ubho ante [48] anabhiññāya): do không biết rơ cả hai thái cực được đề cập đến ở trên, do việc không biết rơ, cũng có lư do khiến ta không biết rơ như vậy, “những mục tiêu này và những điều được cho là như vậy, được duy tŕ như thế, đă dẫn đến một sanh thú như vậy và dẫn đến một pháp tương lai như vậy.” ( [49] ) ư nghĩa nhân duyên của nó[50] nên được hiểu giống như những điều đă được khẳng định trong câu, “ và vừa khi quan sát qua tuệ giác, các phiền năo đă bị triệt phá hoàn toàn” (Tăng Chi Bộ Kinh (A) iv 418) v.v…[51] Một số người giữ lại (olīyanti eke): một số người lại chùn lại[52] dưới áp lực của thói đam mê ái dục. Một số người tự bỏ chạy (atidhāvanti eke): một số người lại dễ duôi dưới áp lực của thói đam mê tự hành khổ hạnh ḿnh; đối với những người nào đam mê dục lạc ta cho là chùn bước, do một thực chất là họ đă chùn bước không thực tu luyện chính đáng do tính biếng nhác là kết quả họ không tinh tấn vào việc tu luyện đó; ngược lại những người nào lại đam mê tự hành khổ hạnh là những người tham gia vào chánh tinh tấn khởi đầu một cách thiếu khôn ngoan sau khi đă diệt trừ được lười biếng, ta coi là hạng người tự bỏ chạy để khỏi phải liên lụy đến kết quả họ đă dễ duôi trong việc tu luyện chính đáng, trong khi đó cả hai hành động trên xét về phía đă hiện hữu, do họ không nhận ra mối hiểm nguy tiềm tàng trong đó; chính v́ lư do đó có lời nói rằng “cho dù không thắng tri cả hai thái cực này, một số người chùn bước lại, số người khác lại tự bỏ chạy thoát thân”; về vấn đề ta nên hiểu rằng họ chùn bước lại bằng cách tự hào với ái dục của ḿnh, tự bỏ trốn bằng cách tự hào về tà kiến của ḿnh; hay nói cách khác, một số người chùn bước lại bằng cách gắn kết với thường kiến, một số lại tự bỏ chạy bằng cách tự gắn kết chặt với đoạn kiến họ chủ trương. Đối với một số người, đam mê tự hành khổ hạnh ḿnh bằng cách gắn kết với việc “ngưu hành giả” (bovine-morality)[53]v.v…đang khi gắn kết với quan điểm thường kiến, nghĩ rằng, “do giới này, hay bằng cách thực hiện những nghi lễ nọ[54] hay tu luyện theo khổ hạnh này hay thực hành cuộc sống phạm hạnh nọ, [353] ta sẽ trở thành một chư thiên hay trở thành con người vào hạng chư thiên; tại đó ta sẽ trở nên gần giống như tồn tại vĩnh cửu vậy;[55] chính ta sẽ trở nên trường cửu, ổn định, vĩnh viễn, không c̣n bản chất hay thay đổi.” như đă được đề cập đến giống như những người tự chùn bước trong ṿng luân hồi; trong khi đó một số người v́ đam mê dục lạc, lại muốn thoả măn ngũ uẩn với bất luận điều ǵ có được, bằng cách gắn kết với quan điểm đoạn kiến có bản chất tương tự như vậy[56] họ là những người theo trường phái Lokāyata thường bảo vệ có liên quan đến việc họ t́m kiếm cách đoạn tận luân hồi thiếu khôn ngoan, hạng người này được mệnh danh là những người tự trốn chạy, chính v́ thế đây là điều ta nên hiểu về việc ḱm hăm và tự bỏ trốn một cách tương ứng, do thường kiến và đoạn kiến. Ngược lại những người nào am hiểu toàn bộ hai thái cực này (ye cakho te abhiññāya): ngược lại những thánh nhân biết rơ cả hai thái cực đă đề cập đến ở trên bằng trí của ḿnh (abhivisiṭṭhena ñāṇena[57]) nhờ tuệ giác liên kết với thánh đạo đi kèm theo với thiền minh sát, như thể “những thái cực này, được giữ vững như vậy th́ cũng được duy tŕ như thế đều dẫn đến sanh thú hạnh phúc dẫn đến pháp hạnh phúc tương lai;” họ đă tu luyện một cách đúng đắn trung đạo – thông qua việc tu luyện đúng đắn[58] này. Tiếp theo sau đó đă không (tatra ca ’āhesuṃ): đáp xuống [59] khỏi cặp thái cực này, có nghĩa là diệt trừ cặp thái cực này. Đă không nhận ra được, do kết quả của điều đó.(tena ca ’ āmaññiṃsu [60] nhận ra được bằng cách). Do kết quả việc diệt trừ đó[61] cặp thái cực này đă không nhận ra được thông qua kiêu mạn, ái dục, tà kiến và si mê, nghĩ rằng việc diệt trừ cặp cực đoan này là của chính ta; chính ta đă diệt trừ được hai điều cực đoan đó, do kết quả của việc diệt trừ cặp cực đoan này mà ta trở thành tốt hơn mọi người khác” v.v… do một thực chất là toàn bộ những kiêu mạn đó đă bị diệt trừ một cách phù hợp, và liên quan đến vấn đề này, giáo lư lại liên quan đến các thánh nhân [62] là những người đă thiết lập thánh quả[63] tột đỉnh từ trong thời điểm quá khứ, tức là “chẳng phải từ đó, là kết quả điều đó mang lại, song tôi đă không nhận ra được;” ngược lại đây chính là giai đoạn thánh đạo muốn ám chỉ đến ở đây, điều này chỉ được thốt lên qua cuộc sống hiện nay. Đối với những điều này chẳng có luân nào được mô tả cả (vaṭṭaṃ tesaṃ ’ atthi paññāpanāya): v́ những người nào đă chứng đắc níp bàn th́ chẳng c̣n chấp thủ nữa - họ là những người đă diệt trừ hết mọi kiêu mạn trong tâm, và đa số là nam giới - chẳng có ba luân nghiệp chướng, dị thục và phiền năo[64], bất kỳ điều ǵ cần được mô tả, ư nghĩa ở đây tiếp theo sau việc phá vỡ được các uẩn hiện hữu, họ sẽ tắt dần đi[65], giống như ngọn lửa thiếu dầu làm nguyên liệu tới pháp bất chấp mọi mô tả nào khác. Việc diễn giải Kinh Phật thứ tám kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Sāratta < saṃ + rattā, người ta dịch saṃ là suṭṭhu. [2]. Paṭibaddha (bị bắt) thường được dịch là “phải lệ thuộc”, baddha (nô dịch hoá) thành “bị trói buộc”. [3]. Vesiṃ, giống cái của từ vessa, từ tương đương Pāli là vaisya, giai cấp thứ ba trong xă hội Ấn Độ. [4]. Ce Be Se giải thích là vesiṃ c̣n bản văn ghi là vesiyaṃ. [5]. Pariggaho; xin đọc chú giải Ud-a 332 ở trên. [6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tath' eva c̣n bản văn ghi là’ eva. [7]. Chú giải Be Se giải thích là evaṃ amhākaṃ pariggaho amhākaṃ pariggaho, c̣n bản văn Ce ghi evaṃ amhākaṃ amhākaṃ pariggaho pariggaho. Bản văn mở ngoặc kép với từ amhākaṃ, c̣n chú giải Be với evaṃ, tôi chấp nhận cách này. [8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ovibhāvanaṃ c̣n bản văn ghi là obhāvanaṃ [9]. Chú giải Be giải thích là rūpādipañcao c̣n bản văn ce Se ghi là rūpādīsu pañcao những điều này được liệt kê trong chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 411. [10]. Chú giải Ce Be ghi thêm ca; bản văn Se lại bỏ qua. Sau khi cân nhắc kỹ, anubhavitabbaṃ rất có thể chỉ đơn giản là một chú thích về pattabaṃ mà thôi. [11]. Vaḍḍheti; hay tạo ra phát sáng, tiến triển, v.v… [12]. Chú giải Be Ce giải thích là domanassuppattiyā c̣n bản văn Se lại ghi là domanassuppattiyaṃ. [13]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tattha c̣n bản văn ghi là tassa. [14]. Anusikkhato; động từ này hầu như có nghĩa là bắt chước, theo đuổi, tu tập, học hỏi, v.v… [15]. Kilesāturassa; theo tự điển Childers, đây có thể là “ốm tương tư” điều này cũng phù hợp với văn cảnh hiện hành. [16]. Chú giải Be Se giải thích là paṭikārābhilāsāya c̣n bản văn Ce ghi là phātikaraṇābhilāsaya; cả hai tự điển PED lẫn CPD đều liệt kê abhilāsa ở giống đực, trong khi đó oabhilāsāya có thể được coi như ở chỉ định cách, tuy nhiên sv abhilāṣa, lại khẳng định rằng từ này có thể ở giống cái do thành tố cuối của từ ghép chỉ rơ, xin đọc chú giải Phật Tự Thuyết Kệ 358 để biết thêm chi tiết. [17]. Kilesaphale anusikkhato; ở đây h́nh như hiểu theo nghĩa học tập. [18]. Chú giải Ce Be Se giải thích là tathā c̣n bản văn ghi là tattha. [19]. Chú giải Be Se giải thích là ovasena pattaṃ c̣n bản văn Ce ghi là ovasenāturapattaṃ. [20]. Ce Be Se giải thích là micchādiṭṭhikammasamādānahetu c̣n bản văn ghi là micchādiṭṭhikammādānahetu. Xin đọc chú giải D i 80, Trung Bộ Kinh (M) i 22, It-a ii 39 về It 58; chú giải Ud-a 148 ở trên. [21]. Giải thích là anusikkhato. Chú giải Be Se giải thích là Ye ca sikkhāsārā ti; c̣n bản văn Ce ghi là anusikkhato yeva. Sikkhāsārā ti. [22]. Bản văn ghi thêm te; chú giải Ce Be Se lại bỏ qua. [23]. Chú giải Be giải thích là saṃsārasuddhi; c̣n bản văn Ce Se ghi là saṃsāre suddhi; chú giải D i 54 lại đề cập đến saṃsārasuddhi là một phần học thuyết của ngài Makkhali Gosāla (DA không b́nh luận ǵ về điều này), J vi 117 trong đó học thuyết saṃsārasuddhi lại được gán cho nhà vua Aṅgati, và Pv-a 67 lại đề cập đến bộ phận của ly giáo saṃsāramocaka trong bản dịch tôi lại chọn từ ghép này có nghĩa là “thanh tịnh xuyên suốt ṿng luân hồi”, cũng như trong chú giải Ud-a 75, 212 ở trên. [24]. Chú giải Ce Be Se và Ud giải thích là upaṭṭhānsārā c̣n bản văn ghi là upaṭṭhānam sāra. 504. Chú giải Ce Be giải thích là visabhojanakicchācaraṇādikaṃ (Se velabhojanao) c̣n bản văn ghi là yaṃ visabhojanakiccācaraṇādi taṃ. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là sākabhakkhatādijīvikā, c̣n bản văn ghi sākabhakkhatā, rất có thể đây chỉ là một cách ám chỉ về chú giải D iii 41, trong đó đây là điều được liệt kê với một trong số rất nhiều những việc tu tập hạnh đầu đà của các vị đương thời với Đức Phật. [27]. Bhūta; Siva chính là Bhūtapati, vị chúa tể các thần linh – xin đọc chú giải E Washburn Hopkins, Epic Mythology. Delhi 1974, tr. 37. Tuy nhiên Skanda chính là cách thể hiện của thần Siva. Ta cũng c̣n được biết với nhiều tên gọi khác nữa, như Murugan và Kataragama v.v… [28]. Paribhaṇḍaka; là từ không có ư nghĩa rơ ràng. Xin đọc chú giải Vv-a 92, 319. tuy nhiên xin đọc trong SOM 41, theo EVvP lại cho là “lau chùi bằng nước hoa” tự điển SED chỉ đưa ra một từ paribhāṇḍa, là đồ đạc trong nhà, dụng cụ nấu ăn. [29]. Xin đọc chú giải SA iii 296, trong đó người ta đề cập đến hai mục tiêu này là lāmakakoṭṭhāsā, các thành phần cấu thành những ǵ ti tiện. [30]. Pātabyatā; tôi chấp nhận cách của ngài Ñāṇamoli , Kho tàng lời Phật dạy i 252. (The Treasury of the Buddha Words, xin đọc chú giải MA ii 371, AA ii 369; cũng xin đọc MLS i 369 n 2 và GS i 244 n 2. [31]. Pattisaṅkhāto. [32]. Trong đó đây cũng là điều ti tiện. [33]. Bản văn ghi sai là anto. [34]. Anusikkhantehi; hay là theo gương, học hỏi dưới sự hướng dẫn của…v.v… [35]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy, c̣n bản văn ghi là diṭṭhī; xin đọc chú giải Ud. [36]. Chú giải Ce Be giải thích là nānappakāradiṭṭhiṃ (chú giải Se giải thích là nānappakāraṃ diṭṭhiṃ) c̣n bản văn ghi là nānappakārādiṭṭhī. [37]. Quan điểm vô hữu kiến natthika, qui cho Ajita Kesakambalin trong chú giải D i 55, bao gồm một phần trong việc chối bỏ hiệu quả việc bố thí; quan điểm vô hành kiến akiriya, qui cho Pūraṇa Kassapa trong chú giải D i 52 bao gồm một phần trong việc chối bỏ không có bất kỳ điều bất thiện nào (sự trừng phạt trong tương lai) gây ra cho người nào phạm phải những hành động bất thiện (karoto na karīyati pāpaṃ); trong khi đó quan điểm vô nhân kiến, được qui cho Makkhali Gosāla trong chú giải D i 53, ông là lănh tụ của những người Ājīvakas, gồm có một phần việc từ chối chẳng có bất kỳ nguyên nhân hay điều kiện ǵ gây ra việc thanh tịnh chúng sanh ( ’ atthi hetu ’ atthi paccayo sattānaṃ visuddhiyā). [38]. Theo chú giải Be, “Abhi i 241 (Be)”. [39]. Chú giải Ce Be Se giải thích là attasuddhi-abhilāsena c̣n bản văn ghi là attasuddhi abhilāpena. [40]. Theo chú giải Be, “Abhi ii 389 )Be)”. [41]. Upanissaya; là duyên thứ chín trong số hai mươi tư duyên (paccaya) - xin đọc chú giải Tự điển Phật Giáo, tr. 114ff. [42]. Ce Be Se giải thích là tato antadvayato c̣n bản văn ghi là antadvayato. [43]. Ce Be giải thích là abhivaḍḍheti c̣n bản văn Se ghi là abhivaḍḍhenti [44]. Ce Be Se giải thích là vadanti c̣n bản văn ghi là paṭhanti. [45]. Xin đọc chú giải S ii 178tt về một loạt những Kinh Phật theo chủ đề này. [46]. Ce giải thích là ohetubhāvo c̣n bản văn Be Se ghi là ohetubhāvābhāvo. [47]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vattabbo c̣n bản văn ghi là veditabbo. [48]. C̣n bản văn lại bỏ qua. [49]. Không được dịch; nhưng xin đọc chú giải D i 16 để biết thêm chi tiết tương tự. [50]. Đó chính là, ư nghĩa nguyên nhân, trong đoạn kinh đó, về anabhiññāya (không thắng tri) [51]. Xin đọc chú giải Ud-a 314. [52]. Saṅkocaṃ āpajjanti; xin đọc chú giải It-a i 177 để biết thêm chi tiết tương tự như vậy. [53]. Gosīla; xin đọc chú giải ví dụ về Puṇṇa trong Trung Bộ Kinh (M) i 387, về điều này MA iii 100 (được trích trong MLS ii 54 n 3) có ghi thêm: “gắn thêm một chiếc sừng lên đầu và cột thêm một cái đuôi, hắn đă ra đi khắp nơi coi đàn ḅ đang chăn thả. [54]. Be se giải thích là vatena vā; c̣n bản văn Ce lại bỏ qua. [55]. Xin đọc chú giải Vv-a 265. [56]. Anuguṇaṃ; không thấy liệt kê trong tự điển PED. [57]. Nguyên từ tương đương: abhiññāya (hiểu theo nghĩa nguyên nhân) được giải thích là abhivisiṭṭhena ñāṇena. [58]. Ngài Dhammapāla ở đây đang nói ám chỉ đến một thực chất là abhiññāya (thắng tri) ở đây có cùng ư nghĩa nguyên nhân giống như từ anabhiññāya (thông qua không thắng tri) như ở trên. [59]. Patitā na ahesuṃ; hiểu theo nghĩa đen, là không rơi vào nơi đó, (vào cặp thái cực đó) [60]. Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Ce ghi là te na ca amaññiṃsu; xin đọc chú giải Ud. [61]. Bản văn Ce ghi thêm te; c̣n chú giải Be Se lại bỏ qua. [62]. Ce Be Se giải thích là ariyapuggale c̣n bản văn ghi là ariyapuggalā. [63]. Chú giải Be Se giải thích là aggaphale c̣n bản văn Ce ghi là maggaphale, nơi các thánh đạo và thánh quả (các thánh đạo đó đem lại). [64]. Xin đọc chú giải Ud-a 165 ở trên. [65]. Chú giải Be giải thích là gacchati, rất có thể đây là một sai lầm, c̣n bản văn Ce Se ghi là gacchanti. |
|