NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

7. CHÚNG SANH ĐANG TRÊN LỘ TR̀NH

[425] Trong Kinh Phật thứ bảy: Ngài đă tham gia vào một cuộc hành tŕnh có nhiều người cùng tham dự (addhānamaggapaipanno): đang trên đường du hành Ngài đă tham gia một cuộc hành tŕnh dài được coi là một chuyến đi mở rộng[1] cho nhiều người tham gia. Cùng đi có Nāgasamāla (Nāgasamālena): với một vị trưởng lăo có tên gọi như vậy. Là vị sa môn đi theo sau Ngài (pacchāsamaena)vào thời điểm đó, vị trưởng lăo này chính là thị giả của Đức Phật; ngài đă tham gia vào cuộc hành tŕnh với Ngài sau khi đă trở thành vị sa môn đi theo sau Ngài. V́ trong suốt hai mươi năm sau khi ngài vừa được giác ngộ, Đức Phật chẳng có một người thị giả[2] thường xuyên nào; sau này trong suốt quá tŕnh hai mươi lăm năm cho tới khi Đức Phật chứng đắc vô dư níp bàn, th́ trưởng lăo Ānanda đă đi theo hầu Ngài, như thể hai người là bóng với h́nh. Nhưng điều này chỉ vào thời điểm Ngài không có một người thị giả thường xuyên. V́ lư do đó có lời nói rằng, “có vị trưởng lăo Nāgasamāla  là vị sa môn trưởng lăo đi theo hầu Ngài.” Một đoàn chúng sanh trên đường du hành với Ngài.(dvidhāpatha [3]) : con đường đông nghẹt với đoàn chúng sanh (đi theo Đức Phật); đoạn này cũng[4] được giải thích là dvedhāpatha [5]. Cũng chính v́ trước đó Ngài đă quen với địa điểm đó, và cũng do con đường rất ngay thẳng, mà trưởng lăo Nāgasamāla đă lên tiếng “Ôi Đức Thế Tôn đây quả là một con đường[6] tuyệt vời, bạch Đức Thế Tôn.” Nhưng ư thức được nỗi hiểm nguy vào dịp đó, v́ muốn dẫn đầu cuộc du hành từ đó để tới những con đường khác, Đức Phật đă nói “hỡi Nāgasamāla  đây quả là một con đường tuyệt vời” Ngài không đề cập đến t́nh trạng con đường này có nhiều hiểm nguy[7] v́ Ngài biết rơ vị trưởng lăo sẽ không tin Ngài, nếu như Ngài nói ra nỗi hiểm nguy đó, và thay vào đó ngài lại nói “bạch Đức Thế Tôn, chẳng có ǵ nguy hiểm trên con đường này cả,” chính là những trở ngại và đau khổ lâu dài ngài đă trải qua. Ngài nhắc lại đến ba lần, “đây quả là con đường tuyệt vời, nào chúng ta hăy cùng nhau tiến bước;” nhưng vào lần thứ tư ngài nghĩ, “Đức Phật đă không muốn chọn đi trên con đường này, tuy đây là con đường thẳng thắn duy nhất. Được rồi, ta sẽ đưa bát khất thực và y cà sa cho Đức Phật rồi lên đường.” Tuy nhiên cảm thấy chính ḿnh không thể đưa cho Đức Phật bát khất thực và y cà sa, ngài đă đặt chúng dưới đất (bhūmiya) và rồi, thôi thúc bằng hành vi dẫn đến đau khổ sẵn sàng bày ra trước mắt, ngài đă ra đi mà không chú ư tới lời khuyên can của Đức Phật, v́ lư do đó có lời nói rằng, “Thế rồi vị trưởng lăo Nāgasamāla đă đặt xuống đất bát khất thực và y cà sa của ngài (chamāyaṃ) rồi ra đi.” Về điểm này:

Bát khất thực và y cà sa của Đức Phật (Bhagavato pattacīvara): ngài đang cầm bát khất thực và y cà sa trong tay. Ngay tại đó (’eva): trưởng lăo đă đặt xuống đất, ngay trên lối đi đó và rồi ngài đă bỏ đi [8], với ư nghĩ trong tâm, “bạch Đức Thế Tôn, đây là bát khất thực và y cà sa của Ngài; hăy cầm lấy, nếu Ngài muốn, nếu Ngài vẫn muốn tiếp tục cuộc hành tŕnh trên cùng một con đường đó.” Hơn thế nữa[9], chính Đức Phật đă cầm lấy bát khất thực và y cà sa và rồi tham gia vào cuộc hành tŕnh ngay trên con đường Ngài đă hoạch định trước. Một số tên cướp đă xuất hiện trên đường đi (antarāmagge corā nikkhamitvā): người ta kể lại rằng vào lúc đó có năm trăm người đàn ông [426] rất hung bạo,[10] khát máu, là những người kiếm sống bằng cách thực hiện những vụ cướp bóc sau khi đă chạy trốn vào rừng vừa khi trở thành những người chống đối lại với nhà vua, họ dừng chân trong vùng phụ cận con đường Đức Phật đang tiến bước nghĩ rằng, “chúng ta hăy ngăn cản con đường nhà vua đang du hành bằng cách dựng lên một chướng ngại vật[11].” Sau khi nhận ra có một vị trưởng lăo đang đi trên con đường đó, bọn cướp rất bực ḿnh với vị trưởng lăo này nghĩ rằng, “vị sa môn đang du hành trên con đường này, ngài đang sử dụng con đường lẽ ra chẳng được đi trên đó, do không biết chúng ta đang có mặt tại đây; được rồi, tốt hơn hết chúng ta phải làm cho lăo biết thế nào là lễ độ.[12] Xuất hiện một cách hung dữ khỏi khu rừng rậm, nhanh chóng làm cho vị truởng lăo té sóng xoài trên đường đi, đấm tới tấp ngài bằng những cú đấm, cú đá tàn bạo, và rồi đập nát chiếc bát khất thực làm bằng gốm của ngài, xé nát y cà sa của ngài thành từng mảnh và rồi, liên quan đến vấn đề ngài là người xuất gia, chúng đuổi ngài đi nói rằng, “chúng ta sẽ không lấy mạng nhà ngươi, nhưng từ nay trở đi hăy biết rơ t́nh trạng nguy hiểm trên đoạn đường này nghe chưa![13]” V́ lư do đó có lời nói rằng, “thế rồi, vị trưởng lăo Nāgasamāla đă tiến bước trên con đường đó, một số tên cướp xuất hiện, đấm đá ngài túi bụi, đập vỡ bát khất thực của ngài, và xé nát y cà sa của ngài thành từng mảnh.”

Hơn thế nữa, sau khi biết được những ǵ đă xảy ra, v́ Ngài cũng đang du hành trên đoạn đường đó, Đức Phật đă bị các tên cướp mai phục, và ngay lúc đó bọn cướp đă t́m kiếm Ngài, đi thêm một quăng đường ngắn, Ngài đă rẽ ra khỏi con đường đó và rồi ngồi thiền ngay dưới gốc một cây bên vệ đường. Vừa quay trở lại, vị trưởng lăo Nāgasamāla cũng đi theo con đường Đức Phật đang đi, khi ngài vừa nh́n thấy Đức Phật đang ngồi thiền dưới gốc cây, đi đến gặp Ngài, đảnh lễ Ngài, và rồi bạch cho Đức Phật nghe về biến cố vừa xảy ra trên đường đi, v́ lư do đó có lời nói rằng, “thế rồi vị trưởng lăo Nāgasamāla… (ngay tức khắc, bạch Đức Thế Tôn … bọn cướp đă xé nát y cà sa của con thành từng mảnh[14]”. 

Thẩm định lại vấn đề này, (etam atthaṃ viditvā): Thẩm tra lại việc di chuyển trên con đường đầy nguy hiểm không an toàn về phía vị trưởng lăo Nāgasamāla  sau khi đă không tuân thủ lời khuyên của chính ḿnh, và việc tiến hành cuộc hành tŕnh trên con đường an toàn, đă khiến cho Tập  Phật Tự Thuyết khởi sanh nhằm làm rơ vấn đề đó. Về điểm này:

Đang khi du hành đi kèm theo với (saddhiṃ caraṃ): đang khi du hành cùng với. Sống chung với nhau (ekato vasaṃ): đây là từ đồng nghĩa với cùng một đoạn văn trên có nghĩa là thực hiện cuộc sống chung với nhau. Những người theo đuổi Phệ đà đă trở nên pha tạp với chúng sanh vô minh (misso aññajanena vedagū): Người đi theo Phệ Đà “đi theo Phệ Đà” do việc người đó đă xuất gia, liên quan đến việc người đó đă chứng đắc, (níp bàn) bằng cách dùng trí liên kết với tứ diệu đế và bát thánh đạo[15], điều này được coi như là “Phệ Đà hiểu theo nghĩa là những pháp ta nên t́m hiểu rơ ràng (veditabbaṭṭhena), hay nói cách khác liên quan đến người nào đă vượt đến bến bờ bên kia của Phệ Đà,về toàn bộ những ǵ có thể biết được.[16] Một người được coi là “ngu dốt” (añño) chính là điều người đó không biết được (na jānāti) đó lại chính là hạnh phúc của chính ḿnh cũng như những tổn hại xảy đến cho chính ḿnh[17]. Có nghĩa là thiếu hiểu biết (không có khả năng trí) ngu dốt, với hạng chúng sanh vô minh này ngài bị pha trộn trong đó, người đó trở nên pha trộn[18] chỉ bằng cách du hành chung với hạng người này. Người nào thẩm định lại điều này th́ loại bỏ được điều bất thiện (vidvā pajahāti pāpaka): người nào thẩm định lại được điều này, người nào biết rơ điều này, kết quả là người đó chứng đắc pháp đi theo Phệ Đà, loại bỏ được điều ǵ là bất thiện, điều ǵ là bất hạnh điều ǵ đem lại đau khổ cho chính ḿnh, hay nói cách khác xa lánh được những người xấu và những người không thân thiện, như thể điều ǵ vậy[19]? như thể điều ǵ vậy?[20]- giống như thể con diệc uống sữa đi vào chỗ trống rỗng (koñco khīrapako ’va ninnaga): [427] chính v́ giống như loài diệc, là loài chim “chỉ uống sữa” liên quan đến việc chúng chỉ có thể uống sữa mà thôi, mà không uống nước, khi sữa được pha lẫn với nước được đem đến cho chúng, th́ nó từ bỏ, tránh không dùng nước, điều đó được coi như là “đi vào nơi trống rỗng” liên quan đến việc đi vào nơi trống rỗng, cũng vậy, có lời nói rằng,“người trí, vừa khi tự khám phá ra chính ḿnh cùng với những người thiếu trí, khi đứng và ngồi v.v…chắc chắn sẽ từ bỏ điều này, - chẳng có bất kỳ lúc nào người đó lại ḥa nhập với họ cả.

Việc diễn giải Kinh Phật thứ bảy kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-

[1]. Xin đọc chú giải DA 35.

[2]. Xin đọc chú giải  Ud-a 217 ở trên.

[3]. Chú giải Be giải thích là dvidhāpatha c̣n bản văn Ce Se ghi là dvedhāpatha. Xin đọc chỉ một chú thích tiếp theo.

[4]. Pi; bản văn lại bỏ qua.

[5].  Chú giải Be cũng giải thích giống như vậy; c̣n bản văn Ce Se ghi là dvidhāpatha; cách giải thích như vậy được ghi lại như là một vl do chú giải Ud Be Se.

[6].  Chú giải Be và Ud giải thích là pantho, ngay tại đây và dưới này, c̣n bản văn Ce Se ghi là maggo, có nghĩa là thánh đạo. 

[7].  Ce Be Se giải thích là saparissayo ti; c̣n bản văn lại bỏ qua.

[8]. Chú giải Be Se giải thích là nikkhipitvā pakkāmi c̣n bản văn Ce ghi là nikkhipi.

[9].  Chú giải Ce Be Se giải thích là pi c̣n bản văn ghi là hi.

[10]. Luddā; “giống như  Rudra” là một vị thần Phệ đà khó tiên đoán và hung dữ sau này đă nhập vào h́nh dáng của thần Siva.

[11]. Chú giải Be Se giải thích là āyapatha c̣n bản văn Ce ghi là āāpatha; xin đọc chú giải Ud-a 421 ở trên để t́m thấy nhiều điểm tương đồng.

[12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là jānāpessāma c̣n bản văn ghi là jānāpessāmi.

[13]. Ce Be giải thích là imassa maggassa parissayabhāva (Se imassa maggassa sappaibhayabhāva) c̣n bản văn ghi là imaṃ maggaṃ sappaṭibhayaṃ

[14].  Chú giải Ce Be Se và Ud giải thích là vipphālesu c̣n bản văn ghi là vipphalesuṃ; ngài Woodward lại ghi thêm một chú thích “St. vipphālesu có nghĩa là ở dưới” tuy nhiên, là nơi tái diễn cùng một cách giải thích như vipphalesuṃ.

[15].Vedasakhātena catusacca-ariyamaggañāena gatattā adhigatattā; tôi đoán chừng trên cơ sở giải thích khác trong Ud-a 119 ở trên, ta có thể hiểu Níp bàn ở đây là ǵ. Đối với định nghĩa tương tự như vedagū, xin xem MA ii 324, SA i 207. ii 386; Sn-a 330” ( Woodward đă dự kiến điều này trong “Sn. 330” trong Ud-a 426 n 6); và It-a ii 33, 119, 173. Woodward c̣n tham khảo (n 6) Sn 330 quả thật rất có thể là sai liên quan đến Sn-a 330.

[16]. Xin đọc đoạn kệ mở đầu về bài tường tŕnh khởi đầu việc biên soạn ( Ud-a 1), trong đó Dhammapāla đă chào “người đă vượt qua đến bến bờ bên kia những pháp khả tri” (ñeyyasāgarapāragu). Bản văn Ce chèn thêm từ ngoại lệ vā sau từ ñeyyassa, trong khi đó chúng ta nên giải thích: liên quan đến người đă vượt đến bến bờ Phệ đà bên kia, hoặc giả toàn bộ những ǵ khả tri.

[17].  Ce Be Se giải thích là hitāhita, c̣n bản văn ghi là hitaṃ.

[18].  Missito;  chú giải Be giải thích là  misso.

[19].  Ce Be Se giải thích là yathā ki c̣n bản văn ghi là ’ āha.

[20]. Sahabhūto; xin đọc chú giải  Ud-a 333 ở trên.