|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
8. CHIA RẺ Trong Kinh Phật thứ tám: ngài đă phán cùng Trưởng Lăo Ānanda (āyasmantaṃ Ānandaṃ etad avoca): ngài đưa ra lời khẳng định bắt đầu như sau, “Kể từ ngày hôm nay” với ngụ ư do không thể dùng cách mua chuộc những người gây hại Đức Phật bằng cách ra lệnh cho Nāḷāgiri lăn[1] một ḥn đá to (để đè nát ngài), hắn đă tạo ra cuộc “chia rẻ nơi những con ngỗng[2] hung đỏ” bằng cách gây chia rẽ Tăng đoàn. Ở cách nơi Đức Phật lưu lại khá xa (aññatr ’eva Bhagavatā): toàn bộ không dính líu ǵ đến Đức Phật, có nghĩa là không cần đến vị Đạo sư. Ở cách xa Tăng đoàn (aññatra[3] bhikkhusaṅghā): hoàn toàn Tăng đoàn các vị Tỳ khưu không hiện diện tại đó. Ta sẽ thực hiện nghi lễ trai giới và các hành sự chính thức nơi Tăng đoàn (Uposathaṃ karissāmi saṅghakammāni ca) có nghĩa là sau khi đă gây chia rẽ nơi Tăng đoàn các vị Tỳ khưu đó phù hợp với những lời động viên của Đức Phật là, cùng với các vị Tỳ khưu ngồi vây quanh ta, ta sẽ thực hiện nghi thức trai giới và các hành sự chính thức riêng biệt[4] trong Tăng đoàn, Devadatta muốn gây chia rẽ (chia rẻ) Tăng đoàn (Devadatto saṅghaṃ bhindissati): Devadatta ngày hôm nay chắc chắn sẽ rời khỏi Tăng đoàn, biến Tăng đoàn đó chia làm hai. Do thực chất là toàn bộ những ǵ khiến cho cuộc chia rẻ[5] xảy ra như vậy đều do chính Devadatta dàn xếp[6] trước; v́ Tăng đoàn sẽ bị chia làm hai khi hành sự chính thức đă được thực hiện một cách riêng rẽ, v́ lư do này lư do kia[7], sau khi đă tán đồng[8] bằng cách thực hiện như vậy nói rằng, “Hăy chọn[9] lấy người này người nọ”, sau khi đă lưu ư đến một điểm nổi bật trên bất kỳ điều nào[10] , trong số mười tám điều, bắt đầu với “đó chẳng phải là chánh Pháp ”[11] và khiến điều đó gây ra cuộc chia rẻ. Về[12] vấn đề này có lời nói rằng, “Hỡi Upāli, trong năm cách đây chính là chia rẻ Tăng đoàn” (năm cách nào vậy?) bằng một hành sự (chính thức), bằng một bài tụng kinh, bằng cuộc bàn thảo, bằng một lời tuyên bố và bằng cách lựa chọn” (Vin v 201[13]). Về điểm này: Bằng một hành sự (chính thức) (kammena): bằng bất kỳ hành sự chính thức đặc biệt nào trong số bốn hành sự chính thức bắt đầu với hành sự cần được đặt vấn đề[14]. Bằng việc tụng một bài Kinh (udesena): [317] bằng bất kỳ một bài kinh tụng đặc biệt nào trong số năm loại giới bổn (Pātimokkha)[15]. Bằng cách đàm phán trao đổi với nhau (voharanto[16]): bằng cách làm rơ, do nguyên nhân này nguyên nhân nọ, trong số mười tám điều căn bản, bắt đầu bằng “đó chẳng phải là chánh Pháp” nhằm tạo ra một cuộc chia rẻ như vậy. Bằng một lời tuyên bố (anussāvanena): bằng[17] một lời tuyên bố bằng cách thốt lên lời tuyên bố[18] vào tai nhau[19] theo cách như sau, “Nhà ngươi không biết ta đă xuất gia từ một ḍng tộc danh giá đă được nghe và biết rất nhiều chăng? Làm sao ta có thể chấp nhận điều đó phù hợp đại loại những ǵ nhà ngươi đă đưa ra, cho dù có nẩy ra ư định một người như ta lại phải chấp nhận điều ǵ đi ngược lại với Pháp, đi ngược lại với luật giống như giáo lư[20] của vị Đạo sư ? nhà ngươi có nghĩ rằng đối với ta hỏa ngục (Avīci) là nơi lạnh lẽo như khu rừng sen xanh chăng[21]? nhà ngươi dám nghĩ rằng ta không sợ khổ cảnh chăng?” v.v…bằng một cuộc lựa chọn (salākaggāhena): bằng cách tổ chức một cuộc lựa chọn nói rằng, “Hăy chọn lựa.” Sau khi đă quyết định bằng cách đưa ra lời tuyên bố, họ đă khiến các vị Tỳ khưu không thể lẩn trốn, hay rút lui[22] Và liên quan đến vấn đề này, chỉ bằng hành sự[23] (chính thức) hay tụng một bài kinh mới là điều đánh giá sự việc mà thôi, c̣n thảo luận, tuyên bố và tổ chức lựa chọn chỉ là những việc làm sơ khởi [24], v́ Tăng đoàn không bị chia rẻ chỉ bằng một cuộc tranh luận bàn thảo, cũng như thông qua lựa chọn những điểm quan trọng (cách này cách khác), trong số mười tám điều căn bản ngay cả khi, bằng lời tuyên bố nằm mục đích tạo ra lựa chọn theo một hướng nào đó, một sự lựa chọn quyết định phải được thực hiện; ngược lại Tăng đoàn vẫn sẽ bị chia rẻ[25]vào ngay thời điểm có bốn hay nhiều hơn nguyên nhân phải tổ chức lựa chọn và rồi tiếp theo sau đó là một cuộc tụng kinh hay một hành sự chính thức riêng biệt. Và Devadatta đă thốt lên lời tuyên bố như sau, “Bắt đầu từ ngày hôm nay” nghĩ rằng chắc chắn trong ngày hôm đó hắn có thể thực hiện nghi thức trai giới và một hành sự chính thức nơi Tăng đoàn một cách riêng biệt, và giờ đây hắn đă hoàn tất mọi công việc khởi đầu (cần thiết) để tạo chia rẻ nơi Tăng đoàn. Chính v́ lư do đó ngài Trưởng lăo Ānanda đă nói rằng,[26] “bạch Đức Thế Tôn[27], hôm nay Devadatta đă tạo ra chia rẻ nơi Tăng đoàn,” kết quả sự việc này chúng ta nói rằng, “Thực chất là toàn bộ những điều đó đă diễn ra khiến cho Tăng đoàn phải chia rẻ chính là do Devadatta đă dàn xếp trước.[28] Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định dưới mọi góc độ hành vi chia rẻ Tăng đoàn đó, (về điểm này) chính Devadatta đă tạo ra vấn đề này đă dẫn đến việc hắn phải tái sanh, không tránh khỏi trong suốt một giai đoạn khoảng độ một đại kiếp[29] trong đại hỏa ngục Avīci. Tập Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích rơ vấn đề này, tức là bằng những tu tập giống hoặc khác nhau tương ứng[30] liên quan đến những điều thiện và điều bất thiện lại chính là các sappurisa và không thuộc sappurisa, cả hai hạng người này đều hết sức khôn ngoan. Về điểm này: Những người thiện dễ dàng thực hiện điều công đức (sukaraṃ sādhunā sādhu) [318] v́ điều này ảnh hưởng (sādheti) đến hạnh phúc cho chính ḿnh và cho người khác nữa. Đó chính là điều công đức (sādhu), đó cũng là chánh nghiệp nữa. Đó chính là điều công đức[31], điều tuyệt mỹ, điều thích hợp[32], điều đem lại hạnh phúc và an lạc đến cho chính minh và cho tha nhân, ta có thể dễ dàng thực hiện được kể cả những người thiện, do những người công đức, cho dù một đồ đệ như Sāriputta chẳng hạn, hay một vị Độc Giác Phật[33], một vị Toàn Giác hay bất kỳ người công đức nào khác tuy vẫn c̣n là người phàm tục. Hạng người bất thiện rất khó thực hiện những việc công đức (sādhu pāpena dukkaraṃ): ngược lại cùng điều tốt lành đó, với những đặc tính như đă được khẳng định ở trên, những người bất thiện lại rất khó thực hiện được, nhất là loại người bất thiện như Devadatta. v.v… có nghĩa là ông ta khó ḷng có thể thực hiện được điều thiện đó.[34] Người bất thiện có thể dễ dàng thực hiện điều bất thiện (pāpaṃ pāpena sukaraṃ): điều bất thiện, xấu xa, gây thiệt hại cho chính ḿnh và cho người khác, những người bất thiện có thể thực hiện hay phải thực hiện một cách dễ dàng như đă nói đến ở trên. Những người nhân đức khó ḷng thực hiện được những điều bất thiện (pāpam ariyehi dukkaraṃ): ngược lại người công đức hay các Đức Phật v.v….khó ḷng có thể thực hiện được những điều bất thiện nọ kia, Đạo sư của chúng ta đă làm rơ đối với họ th́ cây cầu bắc qua sông đă bị găy[35] từ lâu. Việc diễn giải Kinh Phật thứ tám đến đây là kết thúc.
-ooOoo- [1]. Chú giải Ud-a 265; Devadatta đă chọn ba mươi mốt lính bắn cung ngài đă lựa chọn trong số năm trăm quân do nhà vua Ajātasattu tăng viện để hạ sát Đức Phật, nhưng ngài đă cảm hóa họ, và khiến tất cả bọn họ trở thành các vị nhập lưu; thế rồi Devadatta c̣n lăn một tảng đá khổng lồ từ đỉnh ngọn núi Vulture nhưng hai ngọn núi này đă chặn lại và khiến cho tảng đá vỡ tan tành, chỉ có một mảnh vụn đă làm chân Đức Phật bị chảy máu; trong khi đó trong số các lần khác Devadatta nhắm kết liễu sanh mạng Đức Phật, c̣n có một biến cố trong đó Devadatta đă xua chú voi Nāḷāgiri đă cho uống rượu xay ra tấn công Đức Phật nhưng ngài đă lấy từ tâm chinh phục con voi đó (Vin ii 191tt). Xin đọc cách giải thích trong chú giải Ap-a về những biến cố này trong tập chú giải Ud-a 264 ở trên. [2]. Chú giải Be Se giải thích là cakkabhedaṃ c̣n bản văn Ce ghi là vaggabhedaṃ; xin cũng đọc chú giải Vin ii 198, iii 171. Tự điển PED có khẳng định rằng mục từ này có nghĩa là “phá tan an tịnh và hoà thuận, gieo bất hoà” giống như Cô Horner chú thích trong B Disc 296 n 3 rằng đoạn văn Vin iii 251 chứa đựng một chú thích có ảnh hưởng với từ “cakkabhedaṃ” đầu tiên không c̣n nghi ngờ ǵ có nghĩa là “vương quyền, uy quyền” như với từ dhammacakka, cakkavatti, v.v…”có ghi thêm “Nhưng điều này cũng có nghĩa là đập tan chuyển luân, và một cách tượng trưng chính cakkabheda có nghĩa là “phá vỡ an tịnh, gieo mối bất hoà Nhưng SED có mục từ chỉ rơ rằng cakra c̣n có thể ám chỉ con ngỗng màu đỏ hồng (Anas Casarca) “sau tiếng gọi, vāka”,tiếp theo sau đó lại liệt kê từ cakrabhedinī, giải thích bằng các từ “chia rẽ các cặp Cakra(-vāka)”, lại thêm sv cakravāka, các cặp chim này h́nh như đă bị phân tán và hót suốt trong đêm. Chính v́ thế h́nh như từ cakkabhedaṃ có thể được hiểu như là một thành ngữ rất thông dụng cả dưới thời Đức Phật và trong giai đoạn thực hiện các tập chú giải. Nhưng những ư nghĩa tiếp theo sau đó đă bị thất lạc. Thay vào đó tự nhiên ta chỉ hiểu theo nghĩa thường mà thôi (đặc biệt đă tạo ra lộn xộn trong các mẫu tự Tích Lan (Sinhale) c/v) như từ vaggabhedaṃ, tách ra từ vaggas hay nơi các tập thể tu tŕ. (về điểm này xin đọc chú giải Ud-a 310 ở trên) [3]. Chú giải Be Se và Ud cũng giải thích tương tự như vậy c̣n về bản văn Ce lại ghi là ’ eva. [4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là āveṇikaṃ uposathaṃ c̣n bản văn ghi là āveṇika-uposathaṃ; xin đọc chú giải Ud-a 317 dưới đây. [5]. Bheda; hay là chia rẻ. Xin đọc chú giải Vin ii 204 trong đó khẳng định rằng chỉ cần chín vị Tỳ khưu hay hơn nữa để có thể tạo ra mối chia rẽ (rāji) để xuất hiện chia rẻ rồi. [6]. Sajjitattā; Devadatta rất vui sướng khi thấy rằng hắn không thể thuyết phục Đức Phật chấp nhận năm nguyên tắc hắn đưa ra (Vin ii 195tt) v́ điều này tạo cớ cho hắn đề nghị lựa chọn về vấn đề này, do chính hắn chủ động (Vin ii 198), và trong dịp lựa chọn này hắn muốn dụ dỗ năm trăm vị Tỳ khưu vừa mới thọ cụ túc giới về phe với hắn và như vây hắn có thể gây chia rẻ nơi Tăng đoàn. [7]. Be Se giải thích là tena tena c̣n bản văn Ce chỉ ghi có tena mà thôi. [8]. Về những ǵ Devadatta đă thực hiện, xin đọc chú giải Vin ii 199. [9]. Rocetha; chú giải B Disc 286 “lại đồng ư”. Xin đọc chú giải về rucijananatthaṃ dưới đây. [10]. Chú giải Be Se giải thích là ekam pi c̣n bản văn Ce ghi là ekaṃ. [11]. Chú giải Be Se giải thích là adhammaṃ dhammo (và xin đọc chú giải Ud-a 317 dưới đây), c̣n bản văn Ce ghi là dhammo adhammo; xin đọc chú giải Vin i 354, ii 204 và Vin-a 1278 để biết rơ mười tám căn bản này. [12]. Về những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó, xin đọc chú giải MA iv 108tt; AA ii 4. [13]. Xin đọc chú giải B Disc vi 323 và các chú thích tiếp theo. [14]. Xin đọc Vin ii 89 để biết rơ bốn điều này. [15]. Xin đọc chú giải Vin i 112; MQ ii 176 n 5. [16]. MA AA giải thích là kathayanto, có nghĩa là nói. [17]. Ngài Woodward chấm câu ở điểm này thật khó hiểu; tôi theo cách chấm câu của Be và MA. [18]. Vacībhedaṃ; xin đọc chú giải MR&I 3 n 6. [19]. Xin đọc Ud-a 60. [20]. MA AA ghi thêm Satthu sāsanaṃ. [21]. MA (AA) ghi thêm kiṃ mayhaṃ avīci nīluppalavanaṃ viya sītalo (sītalā). [22]. Anāvattidhamme katvā; chú giải MA AA và Vin-a về Vin v 201 giải thích là anivattidhamme katvā. CPD sv anivattidhamma, lại khẳng định rằng điều này có nghĩa là “không đáng tin cậy, thật như lời người đó (đă nói)” ở đây, cùng lúc đó lại đưa ra một tham khảo sai về MA là “Ps iii 517”; tham khảo này thực sự không tồn tại. [23]. Chú giải Be AA Vin-a giải thích là kammam eva c̣n bản văn Ce ghi là ekakammam eva. [24]. Chú giải Be Se giải thích là eggāhā pana pubbabhāgā (MA AA giải thích là ogāhā pana pubbabhāgā) c̣n bản văn Ce ogāhāpanaṃ pubbabhāge. [25]. Chú giải MA AA giờ đây lại quay trở lại với những vấn đề khác. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là’ āha; c̣n bản văn lại bỏ qua. [27]. Chú giải Be Se và Ud giải thích là bhante c̣n bản văn Ce ghi là Bhagavā. [28] Be Se và Ud-a 316 ở trên giải thích Devadattena; c̣n bản văn Ce lại bo qua. [29]. Xin đọc chú giải Vin ii 198 = 204. [30]. Ce Be Se giải thích là yathākkamaṃ c̣n bản văn ghi là yathākammaṃ. [31]. Be Se giải thích là sadhu c̣n bản văn Ce lại ghi là sadhuṃ. [32]. Chú giải Be giải thích là bhaddakaṃ; bản văn Ce Se giải thích laddhakaṃ, xin đọc chú giải Ud-a 250 ở trên. [33]. Chú giải Be giải thích là Paccekabuddhena c̣n bản văn Ce Se ghi là Paccekasambhuddhena. [34]. Chú giải Ce Be Se giải thích là taṃ; bản văn lại bỏ qua. [35]. Xin đọc chú giải Vin i 59, iii 6; Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 220, 261, ii 145tt, Dhs 299; cũng xin đọc chú giải Asl 219 để có được cách giải thích với các từ tà hạnh (misconduct).
|
|