|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
4. CHẤP THỦ (2) Trong Kinh Phật thứ tư: Biến thành mù (andhīkatā): tham dục đă biến ngay cả người sáng mắt trở thành mù, theo đó người ta nói rằng: “Người tham lam không quan tâm ǵ đến hạnh phúc; người tham lam không nhận ra Phật Pháp; khi người tham lam đánh bại một người nào đó, cùng lúc đó bóng tối mù ḷa[1] cũng xuất hiện” (It 84) Như có lời nói rằng, chính v́ thế (họ đă trở nên) “biến thành mù loà (andhīkatā) v́ cho dù ngay cả[2] những người nào là người sáng mắt th́ tham dục cũng biến họ thành mù loà; điều c̣n lại cũng giống như những ǵ đă được khẳng định trong Kinh Phật tiếp theo sau đó, v́ các vị Tỳ khưu đă quán xét thấy[3] những ǵ diễn ra trong đó đối với hạng người này, các ngài đă thuật lại cho Đức Phật; (ngược lại) trong trường hợp này chính Đức Phật đă nhận ra điều đó, đây là lư tưởng duy nhất. Đang khi Đức Phật c̣n đang du hành tới khu rừng Jeta sau khi đă ra khỏi thành Sāvatthi, trên đường đi ngài đă nh́n thấy một số lớn những con cá không có khả năng thoát ra khỏi chiếc rọ chúng đă chui vào do những người đánh cá chặng lên trên ḍng sông Aciravati, sau đó [367] vào giai đoạn kế tiếp, ngài lại nh́n thấy một bê con đang bú sữa mẹ, bê con bị xua đuổi theo mẹ nó, luôn miệng kêu be be, cổ vươn dài ra[4] v́ đói sữa mẹ, chúi đầu vào hai đùi[5] ḅ mẹ. Thế rồi khi Đức Phật đă vào thiền viện, rửa chân đang khi lên ngồi vào chỗ tốt nhất đă được dọn sẵn dành riêng cho Đức Phật, ngài đă khiến tập Phật Tự Thuyết này khởi sanh, lấy hai sự kiện này làm một ẩn dụ[6] cho những ǵ ngài đă đề cập đến trước đó[7]. Về điểm này: Tham dục đă khiến cho mù loà (kāmandhā): bị biến thành mù loà, không nh́n thấy ǵ cả, khi ta lấy cảnh dục làm đối tượng, do dục lạc là các phiền năo dục. Chiếc lưới giăng ra khắp nơi (jālasañchannā): giăng ra khắp nơi, bao phủ lấy, nhận ch́m trong đó, giống như một chiếc lưới vô cùng tinh vi đă vây quanh toàn bộ chiếc hồ nước, do ái dục tạo thành chiếc lưới đó, do việc xuất hiện liên tục, từ đầu đến cuối (và ngược lại)[8], liên quan đến chính sự hiện hữu của chính ḿnh và của tha nhân[9] với các nội phần cũng như ngoại phần, và những ǵ lệ thuộc vào các xứ đó, đă được phân loại thành vô số kể bằng những ǵ đă diễn ra trong quá khứ v.v…và[10] (chính điều đó cũng biến thành một chiếc lưới) liên quan đến những ǵ đem lại những ǵ ngầm chứa trong đó,[11] đă gây ra những thiệt lại cho họ. Che phủ bởi lớp vỏ ái dục (taṇhāchadanachāditā): bị che phủ, giống như mặt nước bị các loại bèo tấm và lớp váng[12] màu xanh che phủ khắp, bằng lớp che phủ được coi như là ái dục, có nghĩa là che dấu, khuất lấp[13] (trong đó), hơn thế nữa, bằng cặp từ này[14] ngài muốn làm rơ một thực tế là việc tu luyện thích hợp nơi tâm thanh tịnh (thiện) đă bị ngăn cản bằng trở ngại đang tỏ ra khao khát dục lạc[15]. Trói buộc do người họ hàng dễ duôi (pamattabandhunā baddhā): do phiền năo ma và tử thần ma[16] trói buộc: v́ ở bất kỳ điểm nào phiền năo ma trói buộc họ, th́ ngay tại điểm đó tử thần ma cũng trói buộc họ vậy. Về điều này có lời nói rằng: “Với chiếc tḥng lọng tâm[17], và rong ruổi khắp[18] trên không, lạc lơng (đây kia) ta sẽ giăng bẫy nhà ngươi – hỡi vị sa môn[19], nhà ngươi sẽ không thể thoát khỏi tay ta!” (Vin i ’ S i 111); Namuci, người tối tăm, (và) người họ hàng và người dễ duôi là ba tên để gọi ma-vương. C̣n đối với tử thần ma, giống như phiền năo ma, cũng chính là người họ hàng dễ duôi; v́ nó trói buộc chúng sanh dễ duôi, với những ǵ sẽ gây đau khổ cho họ. Người ta cũng giải thích là pamattā bandhare baddhā[20] (người dễ duôi bị trói buộc bằng dục lạc). Về điểm này, bằng hệ phược (bandhane) có nghĩa là bằng kiết sử bao gồm các khuynh hướng dục lạc. Bị buộc (cột) lại (baddhā): bị chế ngự, bằng cách nào vậy? Giống như những con cá trước mảnh lưới (macchā’va kumināmukhe): tuy nhiên, giống như con cá đă vào miệng giỏ do những người đánh cá giăng khắp nơi vừa bị vướng vào lưới thế nên đă bị bắt[21], [368] theo đuổi[22], đi tới, chết ngay cả những chúng sanh này cũng đă bị trói buộc bao gồm những khuynh hướng dục lạc do ma vương, theo đuổi, tuổi già và chết. Giống như con bê bú sữa mẹ (vaccho khīrapako ’va mātaraṃ): cũng giống như việc bú sữa (khīrapāyī, là một dạng ngữ pháp khác) con bê một năm tuổi, theo đuổi, đi theo mẹ nó, và không ai hết ngoài bê con, chính v́ thế cũng giống vậy đối với chúng sanh do ma vương trói buộc, đang khi đau khổ trong ṿng luân hồi, đă theo đuổi, chỉ có đi theo cái chết, ư muốn làm rơ ở đây đó là họ không theo đuổi không đi theo những ǵ đem lại giải thoát cho tuổi già, những ǵ đem giải thoát khỏi thần chết tức là giải thoát khỏi luân hồi,[23] đó là Níp Bàn vậy. Việc diễn giải Kinh Phật thứ tư kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Be Se It (vl) It-a ii 97tt giải thích là andhatamaṃ c̣n bản văn It ghi là andhaṃ tamaṃ, Ce andhan tamaṃ. Chú giải It-a đă đưa ra nhiều cách giải thích cho đoạn kệ này, tôi chấp nhận cách giải thích đầu tiên. Bản dịch của Woodward (AIWS 176) giải thích là sahate (đánh bại), như vậy bỏ qua, chú giải It-a lại liên tục giải thích điều này là abhibhavati, chiến thắng, khuất phục, v.v… [2]. Chú giải Be giải thích là pi; c̣n bản văn Ce Se lại bỏ qua. [3]. Diṭṭhā; chú giải Ce Be Se giải thích là disvā. [4]. Ce Be Se giải thích là gīvaṃ c̣n bản văn ghi là jivhaṃ. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mātu antarasatthiyaṃ c̣n bản văn ghi là mātu antarasatthiṃ. [6]. Chú giải Be giải thích là upamānabhāvena c̣n bản văn Ce Se ghi là upamābhāvena. [7]. Be Se giải thích là purimassa c̣n bản văn Ce ghi là purimāya. [8]. Chú giải Be Thanh Tịnh Đạo 1 giải thích là heṭṭhupariyavasena (Ce Se ghi heṭṭhūpariyavasena) c̣n bản văn ghi là heṭṭhūparivasena. Theo ngài Ñāṇamoli (Ppn 1 n 1) “từ đầu tới cuối (và ngược lại)” có nghĩa là “từ một cảnh sắc đôi khi xuống tơi tận cảnh pháp, hay ngược lại theo thứ tự sáu loại đối tượng tâm như đă đưa ra trong giáo lư của Đức Phật (Pm. 5 xin đọc thêm Ch XV §1)” [9]. Chú giải Be Thanh Tịnh Đạo ghi sakattabhāvaparattabhāvesu (Ce Se giải thích là saka-attabhāvapara-attabhāvesu) c̣n bản văn ghi là para-attabhāvasaka-attabhāvesu. [10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ca c̣n bản văn ghi là ’va . [11]. Chú giải Ce Be Se giải thích là antogadhānaṃ c̣n bản văn ghi là antobhavānaṃ. [12]. Xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 187; chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 61; Thanh Tịnh Đạo 261; v.v… [13]. Pihita; hay là kiểm tra. V́ câu tiếp theo làm rơ nghĩa, điều này xảy ra do kết quả của pháp cái đầu tiên do tham dục – xin đọc chú giải Ud-a 283 ở trên trong đó có đề cập đến cùng một nguyên nhân là do trạo cử và hối hận, là pháp cái thứ tư trong năm pháp cái. [14]. “Lan rộng ra do một mạng lưới” và do vô minh bao trùm” [15]. Be giải thích kāmacchanda nīvaraṇanivāritakusalacittārataṃ (Ce giải thích là kāmacchandanīvaraṇena nivāritaṃ kusalacittācā rataṃ, c̣n bản văn ghi kāmacchandanīvaraṇena nīvaritaṃ kusalacittacaraṇaṃ, chú giải Se ghi kāmacchandanīvaraṇena nivāritaṃ kusalacittaharaṇaṃ. Từ Ācāratā không được liệt kê trong tự điển PED hay CPD. [16]. Xin đọc chú giải Ud-a 216 ở trên. [17]. SA i 177 lại cho là mānaso ở đây có nghĩa là mānasasampayutto (liên kết với tâm), và như vậy có khẳng định từ pāso, là mũi; xin đọc chú giải Asl 140 để biết thêm cách giải thích tương tự như vậy. Mặt khác, chú giải It-a i 61, cũng trích dẫn cùng một ví dụ về mānaso là một ví dụ điển h́nh về tham dục (rāga) [18]. Antalikkhacaro; có liệt kê trong tự điển CPD nhưng không đưa ra bất kỳ ư nghĩa nào cho từ này cả. SA i 177 có khẳng định điều này được gọi là như vậy v́ nó trói buộc ngay cả những người nào lang thang trên không; ngược lại Vin-a 966 lại giải thích người ta nói đến điều đó liên quan đến lỗ mũi đó chính là tham dục (rāgapāsaṃ) [19]. Được giải thích trong KS i 140 như sau: “chuyện kể về những xuất xứ được ví như cạm bẫy trên không, tạo lên những kiết sử khắp nơi. Hỡi vị sa môn, nhà ngươi chưa thoát khỏi tay ta đâu.”, cũng chính chuyện kể này cũng đă được theo sát trong B Disc iv 29 và Expos 185. [20]. Chú giải Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn Ce ghi là pamattabandhane baddhā. [21]. Baddhā; được giải thích giống như trên là “trói buộc”. [22]. Chú giải Be giải thích là anventi c̣n bản văn Ce Se ghi là enti, rất có thể đây là lời chú giải về vl trong tập Udāna về gacchanti. [23]. Chú giải Se giải thích là amaraṇaṃ amataṃ c̣n bản văn Ce ghi là amataṃ. Be ghi là amaraṇaṃ. |
|