|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
3. CHẤP THỦ (1) Trong Kinh Phật thứ ba: đối với dục lạc (kāmesu): đối với những dục có xứ làm đối tượng. Vượt quá giới hạn (ativelaṃ): vượt qua mọi giới hạn (velaṃ atikkamitvā). Chấp thủ (sattā): chấp thủ bằng cách tự gắn bó với tham dục – có nghĩa là bám lấy, dính vào (các tham dục đó) – sau khi đuổi[1] theo hương vị ngọt ngào đơn độc một ḿnh, sau khi không nhận ra mối nguy hiểm cận kề, ngay cả khi đă biết mối nguy hiểm vẫn c̣n tồn tại (trong đó), liên quan đến việc sung măn về phía họ bằng cách tác ư không đúng cách. Bị tham đắm (rattā) với, say mê, mê mẫn [2] do khao khát mong mỏi và ái dục làm cho biến đổi tâm[3], giống như một tấm vải bị biến màu do kết quả trải qua quá tŕnh nhuộm sấy. Khao khát, thèm muốn (giddhā): khao khát bằng cách ước muốn[4] mà chính bản chất của việc đó là chờ đợi mong mỏi[5] những sự việc như vậy chiếm đoạt bằng cách mong muốn theo sau đó (gedhaṃ) cùng những sự việc như vậy, đang bị cuốn hút vào ái dục giống như vậy (dehaṃ). Gắn chặt với (gadhitā [6]): phải lệ thuộc vào[7] liên quan đến một thực chất là đối với họ quả là điều cực kỳ khó khăn để có thể giái thoát được những ǵ hầu như đă cột chặt lại với họ (ganthitā)[8]. Phải kinh ngạc do (mucchitā): [365] thâm nhập vào t́nh trạng u tối,[9] si mê (trong đó có sự liên quan tích cực đến ái dục), giống như đối với những hạng người đă một lần tái sanh, bằng con đường phiền năo, như những người tưởng pháp một cách sai lầm[10], hay những người không có lấy bất kỳ điều ǵ khác làm đối tượng tham thiền. Bị cuốn hút vào (ajjhopannā): kiên định trải qua với những dục lạc như vậy bằng cách tóm gọn chúng, coi chúng như thể không ai khác[11] có thể chia sẻ được với họ. Sau khi đă thỏa thích hoàn toàn (sammattakajātā): sau khi đă hoàn toàn say đắm trong cảnh dục lạc đó (sammattā = suṭṭhu mattā [12], thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài dưới một dạng ngữ pháp khác), là do kết quả những cảm giác cực nhỏ xuất phát (từ những ái dục từ đó mà ra) đang khi lại tỏ ra nuông chiều trong việc thúc đẩy vào những dục lạc[13]. Sammodakajātā[14] (do bị cảm khoái tràn ngập) cũng là cách giải thích, ư nghĩa ở đây jātasammodanā[15] (một dạng ngữ pháp khác) trở nên vô cùng thích thú[16] (trong đó); ngài nói bằng toàn bộ những từ này duy chỉ do một thực chất duy nhất đó là họ đă trở thành nạn nhân của ái dục[17] vậy; và liên quan đến vấn đề này, tiếp theo sau lần đầu tiên nói về “dục lạc”, thành ngữ “dục lạc” lại xuất hiện trở lại với mục đích làm rơ một thực chất là những chúng sanh đó đă bị bố trí sẵn trong đó; bằng cách này, ngài làm rơ rằng các chúng sanh đó lưu lại vào thời điểm đó giống như những người được trang bị với những khuynh hướng dục lạc có liên quan đến toàn bộ bốn oai nghi thân. V́ trong trường hợp đó[18] toàn bộ những người nào là thần dân thành Sāvatthi, ngoại trừ những vị là thánh đệ tử, đă tổ chức một lễ hội và đă dọn sẵn một vùng để uống rượu chè chén say sưa[19] phù hợp với những phương tiện họ có được, lại đang nuông chiều thân uống đầy bụng với tham dục, ăn uống, linh đ́nh, tiêu khiển ch́m đắm trong dục lạc vừa công khai lẫn bí mật, (và) thoả măn dục lạc tối đa. Khi họ đang du hành trong thành Sāvatthi khất thực, các vị Tỳ khưu đă nh́n thấy những người đó tại chỗ này chỗ kia đang hành động theo kiểu đó, họ nhất quyết theo đuổi tham dục, sau khi đă chính thức tổ chức lễ hội; và tin tưởng rằng họ sẽ đạt được giáo lư Phật Pháp một cách êm ả và tinh tế[20], sau khi các vị Tỳ khưu đă quay trở lại thiền viện, tiếp theo sau đó họ đă bạch cho Đức Phật vấn đề này, v́ lư do đó có lời nói rằng “giờ đây một số đông các vị Tỳ khưu…họ đă cư trú…tham dục đă nhấn ch́m hoàn toàn vào những dục lạc đó”. Thẩm định lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): Thẩm định lại, dưới mọi góc độ, việc thất bại nơi chúng sanh không nhận ra được mối nguy hiểm nơi những khoái cảm liên kết với quán nhậu, nơi cơn sốt[21] to lớn, nơi những tham dục thật khủng khiếp, không kéo dài, kết quả cay đắng dưới dạng liên tiếp không gián đoạn, vô số những điều liên quan đến những thiệt hại[22] to lớn sẽ diễn ra với họ, đă khiến Phật Tự Thuyết này khởi sanh để làm rơ mối nguy hiểm liên quan đến ái dục, cũng như nơi những phiền năo đó. Về điểm này: Gắn kết với tham dục (kāmesu sattā): bị tham đắm với, [366] bị tiêm nhiễm say sưa, chấp thủ với, bám chặt vào, liên quan tới.[23] âu yếm vô cùng, dính cột với, dục lạc là những ǵ thuộc xứ đối tượng[24] nhờ tham dục lại chính là những phiền năo dục. Dính chặt bằng những kiết sử dục lạc (kāmasaṅgasattā [25]): gắn chặt vào, bám riết lấy, do kết quả của chính sức mạnh đó lại chính là ái dục mà ra. Đối với những tham dục này đă trở thành đối tượng không những chỉ bằng kiết sử tham dục nhưng c̣n thông qua những kiết sử tà kiến, ngă mạn, sân hận và vô minh nữa. Không nhận ra tội lỗi nơi kiết sử đó (saṃyojane vajjam apassamānā): Không nhận ra (apassantā, là dạng ngữ pháp khác), là kết quả do việc họ đă say đắm chiêm ngưỡng hương vị ngọt ngào nơi những ǵ có lợi cho những kiết sử đó,[26] tội lỗi, sai phạm, hiểm nguy, đă tạo thành nhân duyên đau khổ đó thuộc về ṿng luân hồi v.v… và những ǵ phát sanh từ phiền năo mà sanh ra = như thể ái dục v.v…. được gọi với tên là những kiết sử liên quan đến trạng thái họ bị xiềng xích lại, liên quan đến việc họ bị cột vào[27] nghiệp luân[28] cộng với dị thục quả luân, hay những ǵ hiện hữu nơi hiện tại vậy v.v… cộng với những tái sanh trong tương lai v.v…hay các chúng sanh với rất nhiều đau khổ. Chắc chắn những người nào gắn kết với kiết sử như vậy không thể vượt qua nổi bộc lưu, bao la rộng lớn (na hi jātu saṃdo tuaàn (yojanas)aṅgasattā oghaṃ tareyyuṃ vipulaṃ mahantaṃ): những người nào gắn kết với, liên quan đến một thực chất là như vậy họ không nhận ra mối hiểm nguy tồn tại trong đó, chính những kiết sử đó lại chính là bản chất là những ǵ ràng buộc xiềng xích ta lại, hay nói cách khác, thông qua những xiềng xích được cho là gông cùm, đối với những pháp liên kết với tam giới tạo thành những đối tượng cho chính những xiềng xích đó không thể vào vượt qua được dục bộc lưu v.v… hay chính bộc lưu luân hồi, là điều vô cùng trải rộng, to lớn rộng răi bao la do phạm vi trải rộng đó thuộc phạm vi đó và do đặc tính đă tồn tại từ thời điểm vô thuỷ nghĩa là họ không thể nào vượt qua nổi bộc lưu đó để đến bến bờ kia an toàn. Việc diễn giải Kinh Phật thứ ba kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Saritvā, tôi cho là <sṛ; hay, nếu < smṛ, chúng ta nên giải thích thay v́ là “sau khi đă chỉ chăm chú (chánh niệm) về hương vị ngọt ngào do đă không thể quan sát tỏ tường…” [2]. Sārattā; xin đọc chú giải Ud-a 349 ở trên. [3]. Cittassa viparināmakaraṇena; hay là một cách méo mó tâm (tâm), thay ḷng đổi tâm v.v… [4]. Ce Be Se giải thích abhijjhanena c̣n bản văn ghi là abhujjhāya. [5]. Chú giải Be Se giải thích là abhikaṅkhanasabhāvena c̣n bản văn Ce ghi là abhisaṅkharaṇasabhāvena. [6]. Chú giải Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Ce Be ghi là gathitā; xin đọc chú giải Ud-a 120 ở trên. [7]. Paṭibaddhā; từ này có những khái niệm nhấn mạnh về trói buộc lại, cột lại, v.v… [8]. Chú giải Se giải thích là gaṇṭhitā; chú giải Be giải thích là rāgamucchitā, (với) những người nào bị tham dục biến thành mê muội. [9]. Ce Be Se giải thích là mucchaṃ c̣n bản văn ghi là muyhaṃ. [10]. Visaññībhūtā; xin đọc chú giải Ud-a 325 [11]. Chính v́ thế ngài Dhammapāla h́nh như muốn hiểu từ ajjhopannā (< adhi + ava + pad) có nghĩa là “hạ chúng xuống bên trong nội tâm” [12]. Chú giải Be giải thích là sammattakā suṭṭhu mattakā. [13]. Xin đọc chú giải Ud-a 351 ở trên. [14]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn lại ghi là sammohakajātā. [15]. Chú giải Ce Be cũng giải thích như vậy c̣n bản văn lại ghi là jātasammohakā, Se ghi jātasammodakā. [16]. Chú giải Ce Be Se giải thích là uppannapahaṃsā c̣n bản văn ghi là uppannā pamūḷhā. [17]. Chú giải Be Se giải thích là taṇhādhipannataṃ c̣n bản văn Ce ghi là taṇhāvipannataṃ; xin đọc Sn 1123. [18]. Chú giải Ce Be giải thích là tasmiṃ hi samaye c̣n bản văn Se ghi là tasmiṃ kira samaye. [19]. Āpānabhūmiṃ; xin đọc chú giải Thanh Tịnh Đạo 399, trong đó ngài Ñāṇamoli cho là (Ppn 436) là một “nơi thiết tiệc”, nhưng rất có thể đây chỉ là một “quán bar” là ư nghĩa muốn đề cập đến ở đây. [20]. Xin đọc Ud-a 341 ở trên. [21]. Xin đọc chú giải Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 68 trong đó tham dục được ví như là một bệnh dịch. [22]. Chú giải Ce Be Se giải thích là anekānatthānubandhesu c̣n bản văn ghi là anekanatthānubhandesu. [23]. Chú giải Ce Be Se giải thích là laggā, c̣n bản văn th́ bỏ qua. [24]. Xin đọc chú giải Ud-a 108 ở trên. [25]. Chú giải Be Se cũng giải thích như vậy c̣n bản văn Ce ghi là kāmasaṅgā. [26]. Saṃyojanīyesu dhammesu assādānupassitāya một cách ám chỉ về Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 50. AA ii 95 giải thích là saṃyojanīyesu dhammesu (lại khẳng định tán thành các kết sử) giống như dasannaṃ saṃyojanānaṃ paccayabhūtesu tebhūmakadhammesu, các pháp liên kết với tam giới tạo thành những điều kiện cho các kiết sử này. Xin cũng đọc chú giải Dhs 1131 và Asl 48, cũng nên lưu ư bằng cách nào “các pháp liên kết với tam giới” (tebhūmakadhammesu) cũng đă trở thành nét đặc trưng trong cách giải thích dưới đây. [27]. Chú giải Ce Be Se giải thích là saṃyojanato bandhanato saṃyojananāmake c̣n đối với bản văn lại ghi là saṃyojanato bhandanato saṃyojanaṃ nāma. Te [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kammavaṭṭaṃ c̣n bản văn ghi là kāmavaṭṭaṃ |
|