|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
9. CÁI GIẾNG Trong Kinh Phật thứ chín[1]: Trong số các vị Mallas (Mallesu): “các vị Mallas” là tên gọi các vị hoàng tử sở hữu vương quốc này[2]; hiểu theo nghĩa rộng, nơi cư trú của họ, cho dù chỉ là một vương quốc duy nhất, chỉ đơn giản được đề cập đến là “Mallas”; trong số các vị Mallas đó, v́ nơi thế giới bên ngoài lănh thổ này,[3] (vương quốc đó) được gọi là “Malla”[4]. Hơn thế nữa một số (bản văn) lại giải thích là “Mālesu[5]”. Đang khi vẫn c̣n trên đường đi du hành (cārikaṃ caramāno): đang khi các vị đó đi du hành nơi các vương quốc tạo thành một nhóm[6] người rất đông đảo bằng cách du hành với điệu ung dung nhàn nhă[7]. Có một nhóm rất đông các vị Tỳ khưu (mahatā bhikkhusaṅghena): theo sau là một nhóm các vị sa môn rất đông đảo, họ là những người có những ân đức tối thượng. V́ vào thời đó Đức Phật có một hội chúng rất đông đi theo ngài. Có một ngôi làng Bà la môn gọi là Thūṇa (Thūṇaṃ nāma Mallānaṃ brāhmanagāmo): là một ngôi làng bà la môn v́ trong đó có rất nhiều các vị bà la môn cư ngụ, làng đó có tên là Thūṇa trong vùng lân cận với vương quốc Mallas[8] tọa lạc tại một địa điểm về phía cực[9] xa trung tâm, về phía đông nam lục địa (Ấn Độ). Ngài đă tới đó: tadavasari = taṃ avasari (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài) có nghĩa là ngài đă tới con đường dẫn vào ngôi làng Thūṇa[10] đó. Đă kéo đến nghe: assosuṃ = suniṃsu (một dạng ngữ pháp khác), có nghĩa là, biết được lời tuyên bố từ nhĩ môn. Kho (không được dịch) là một tiểu từ dùng làm từ lót các từ khác; hay nói cách khác đây chính là một tiểu từ hiểu theo nghĩa một lời khẳng định được nhấn mạnh[11]. Về điểm này (nếu kho) hiểu theo nghĩa nhằm nhấn mạnh lời khẳng định, (th́ chắc hẳn những lời khẳng định đó sẽ lọt đến tai, chẳng có bất kỳ trở ngại nào ngăn cản ta không thể nghe được những ǵ nói ra: (ngược lại nếu kho) chỉ là từ lót cho các từ khác th́ đây chỉ (nhằm tạo ra sự phối hợp[12] êm tai xảy ra trong việc tạo từ. Thūṇeyyan (Thūṇeyyakā): họ là những cư dân trong ngôi làng Thūṇa. Kể cả bà la môn lẫn chủ nhà (brāhmaṇagahapatikā): về việc này, họ là các vị bà la môn (brāhmaṇā) v́ đây chính là vị bà la môn được gói gọn trong âm (Brahman aṇanti [13]), có nghĩa là họ đang tụng các câu thần chú, v́ đây chính là cách giải thích theo từ nguyên[14] đối với những ai đă trở thành bà la môn bẩm sanh, [378] ngược lại những bậc thánh nhân cũng được gọi là “bà la môn” (brāhmaṇā) do thực tế là họ đă đoạn tận[15] (bāhitapāpattā) được hết những điều bất thiện, ngoại trừ các vị ksatriyas và bà la môn, th́ bất kỳ người nào cư trú trong gia đ́nh[16] cũng được gọi là “gia chủ” (gahapatikā), đặc biệt là những người vaisyas. Bà la môn và gia chủ: brāhmaṇagahapatikā = brāhmaṇā ca gahapatikā ca (thay thế hai âm tiết ngắn thành một âm tiết dài)[17]. “Họ lên tiếng, hỡi các chư huynh, đó chính là vị sa môn Cồ Đàm” v.v…là điều họ lên tiếng tiếp theo sau đó để làm rơ[18] vấn đề[19] họ đă nghe được. Về điểm này. Ta nên hiểu một vị “sa môn” (samaṇa) liên quan việc ngài là một người đă vắng lặng (samitapāpattā) được những điều bất thiện; về vấn đề này có lời nói rằng, “ngài đă vắng lặng các pháp bất thiện và không khéo tác ư.” (Trung Bộ Kinh (M) i 280) v.v…và Đức Phật là một nhân vật đă thống lănh được toàn bộ những điều bất thiện bằng cách thực hành thánh đạo tối thượng; chính v́ lư do đó ngài có tên gọi là người đă chứng đắc nhờ có các ân đức tối thượng, có nghĩa là “một vị sa môn” Họ cho là, (khalu) là một tiểu từ hiểu theo nghĩa lời đồn thổi. Hỡi chư huynh (bho) chỉ là một cách nói được truyền lại từ lúc mới sanh về những người nào thuộc gịng dơi bà la môn[20], về điều này cũng có lời nói rằng: “Ngài được biết đến với đặc tính xưng hô với tha nhân là “chư huynh” nếu như người đó có tài sản (holdings)”[21] (Dhp 396=Sn 620). Đức Cồ Đàm (Gotama) là tên gọi[22] Đức Phật dựa vào ḍng tộc của ngài, chính v́ thế ư nghĩa của đoạn văn, “hỡi chư huynh, họ cho đây chính là sa môn Cồ Đàm vậy” liên quan đến vấn đề này tức là có lời nói rằng, “hỡi chư huynh người đó chính là sa môn Cồ Đàm[23]”. Con trai ḍng họ Thích Ca (Sakyaputto): tuy nhiên, đây chỉ là cách giải thích hoàn chỉnh nhất về Đức Phật thuộc ḍng tộc chiếm vị thế cao (trong xă hội). Ngài đă xuất gia từ ḍng tộc Thích ca (Sakyakulā pabbajito) chính là cách giải thích hoàn chỉnh một thực chất là ngài đă xuất gia do đại nguyện mà thôi, ngài chẳng hề bị dao động do bất kỳ mất mát nào trên thế gian này; Ngài đă từ bỏ hoàng tộc của ḿnh đang khi ngài vẫn c̣n là ngôi vị đế vương,[24] và rồi xuất gia với niềm tin (tin tưởng rằng) ngài có thể thoát khỏi sanh tử, thông qua việc từ bỏ hoàng tộc của ḿnh là điều đáng nói tới. Họ đă đổ đầy miệng giếng với cỏ khô và vỏ trấu (udapānaṃ tiṇassa ca bhusassa ca yāva mukhato pūresuṃ): những thứ đó khiến cho mực nước dâng lên, bằng cách dùng cỏ khô và vỏ trấu, đổ lên tới miệng giếng, có nghĩa là ngài đổ đầy lỗ hổng đó bằng cách thả vào trong đó cỏ khô v.v…người ta kể lại rằng bên ngoài ngôi làng đó, trên đường Đức Phật đang du hành tới ngôi làng đó, chỉ có một cái giếng duy nhất dành cho các vị bà la môn sử dụng; và ngoại trừ cái giếng này th́ mọi nơi đều đến lấy nước tại đó, như thể đầm nước và hồ ao v.v…vào thời đó đă cạn hết nước và không c̣n chút nước nào nữa;[25] thế rồi xảy ra là những người Thūṇeyyans đó tỏ ra thất lễ đối với Tam Bảo và tự bản chất họ là những người ích kỷ đă nghe được tin Đức Phật đang đi đến ngôi làng; nhằm cố gắng ngăn cản Đức Phật lưu lại tại đó[26] (sợ rằng) “giả như Đức Phật Cồ Đàm[27] vào ngôi làng và lưu lại đó vài ba ngày, Ngài sẽ có thể thiết lập[28] được toàn bộ chúng sanh trên thế gian này, rồi sau đó Phật Pháp của ngài có thể không đem lại sự hỗ trợ nào cho họ.” Họ bàn luận cùng nhau nói rằng, “chẳng c̣n nơi nào trong làng c̣n nước ngoại trừ cái giếng này, chúng ta phải làm cho giếng không c̣n sử dụng được nữa, để cho ngài Cồ Đàm, đi cùng với tăng đoàn các vị Tỳ khưu sẽ không vào trong làng làm ǵ”; và rồi [379] sau khi toàn bộ dân làng đă múc sạch nước giếng trong ṿng bảy ngày liên tiếp, và đổ đầy những chiếc b́nh đựng nước trong nhà, thế rồi họ lấp giếng bằng cỏ khô và trấu, v́ lư do đó có lời nói rằng, “rồi sau đó họ lấp giếng với cỏ khô cho đến tận miệng giếng, nói rằng, “đừng để cho bọn sa môn trọc đầu uống nước giếng này.” Về điểm này, các vị sa môn đầu trọc (muṇḍakā samaṇakā); đúng hơn phải nói là[29] “muṇḍa” khi muốn ám chỉ đến[30] một vị sa môn cạo đầu trọc “samaṇa” cũng có thể sử dụng nhưng chỉ liên quan đến vị sa môn trọc đầu theo kiểu chế giễu[31] là các vị này thường gây ra thù địch, th́ thường dùng cách nói đó. Đừng có (mā) liên quan đến việc cấm đoán, mā apaṃsu (đừng có để cho họ…uống nước) có nghĩa là đừng để cho họ uống nước giếng mā piviṃsu, là dạng ngữ pháp khác). Bước ra khỏi lối đi (maggā okkamma): đang trên đường đi lại bước sang một bên. Từ đó (etamhā)[32] ngài nói bằng cách xác định giống như vậy chính cái giếng đó đă xảy ra công việc họ đă cùng nhau làm như vậy, nhưng tại sao Đức Phật lại nói theo cách đó, mà rằng, “hăy lấy cho ta một chút nước giếng để uống” mà không để ư đến những thay đổi nơi những người bà la môn đó? hay phải chăng ngài cứ làm như vậy cho dù đă biết những ǵ các vị bà la môn đó đă làm? hay ngài đă làm như vậy sau khi đă lưu ư thấy như vậy? Chính v́ biết rằng Đức Phật nói theo kiểu đó khiến cho họ không nghi ngờ ǵ[33] khi ngài đă tỏ rơ uy lực và thân thế của ngài để giáo hóa họ; không phải v́ ngài đă muốn uống nước giếng đâu; cũng chính v́ lư do đó ngài không nói ở đây “ta khát nước” khác với trường hợp trong kinh Đại bát Níp bàn (Mahāparinibbānasutta)[34] (D ii 128). Nhưng vị thủ khố chánh pháp không hiểu ư định của Đức Phật lại lên tiếng nói rằng, “bạch Đức Thế Tôn, ngay lúc này giếng đă…”v.v… và thuật lại cho Đức Phật biết việc những người Thūṇeyyan đă gây ra cho cái giếng như thế nào. Về điểm này: ngay bây giờ (idāni): vừa rồi, có nghĩa là ngay vào lúc chúng ta đi vào làng. Họ cũng giải thích làm rơ “Eso bhante udapāno” (bạch Đức Thế Tôn, giếng đă….). Sau khi đă từ chối việc đó đến hai lần, vị trưởng lăo nhận ra rằng, đến lần thứ ba v́ dân chúng trong làng không nên đối xử thù địch với vị Như Lai đến ba lần, nhất thiết vị Như Lai phải có mục đích ǵ trong tâm đây[35], thế rồi họ cầm lấy bát khất thực của Đức Phật do bốn vị thiên vương[36] dâng cho ngài, và rồi họ đi lại về hướng cái giếng và có vị Trưởng lăo đi theo, lúc đó nước trong giếng đă đầy tràn đến miệng và chảy ra ngoài; trong khi đó toàn bộ cỏ khô và trấu trôi tràn ra khắp nơi,[37] và nhờ vào ḍng nước chảy liên tục đó toàn bộ những chỗ trũng trong làng như thể đầm sen,v.v…đă bị khô cạn bấy lâu nay cũng đă tràn đầy nước, và cũng như vậy các rănh hào quanh làng, và những khe rănh nước nhỏ[38] và những chỗ trũng sâu v.v… toàn bộ khu vực xung quanh làng đều tràn ngập nước, như thể đang phải chịu một cơn mưa lớn kéo dài; những loài hoa mọc dưới nước,[39] như Kumudas và uppalas[40] và cả hoa sen đỏ và trắng v.v…đă che khắp mặt nước trong đầm sen, tự nở rộ như thể tràn lan khắp nơi; đang khi đó trên mặt hồ các con vật sống trên mặt nước như thiên nga, [380] con vẹt, ngỗng hồng, ngỗng kadamba[41] và sếu cao cổ v.v…đi lang thang khắp nơi t́m kiếm chỗ ở mới. Vừa nh́n thấy nước lớn đang dâng lên như vậy, sóng gió nổi lên khắp nơi, tiếng róc rách chảy[42] và bong bóng váng nước[43] trôi dạt khắp nơi. C̣n dân làng Thūṇeyyan, tâm họ tràn ngập với điều kỳ diệu đang diễn ra trước mắt,[44] họ liền hội ư với nhau nói rằng, “ chúng ta đă cố gắng cắt đứt nguồn cung cấp nước cho sa môn Cồ Đàm, nhưng trận nước to lớn này đă diễn ra như thế này ngay vào thời điểm ngài đến ngôi làng, thật không c̣n nghi ngờ ǵ nữa, đây phải là uy lực và quyền năng của con người này; hơn thế nữa rất có khả năng[45] trận nước lớn này dâng lên, có thể tràn ngập cả làng chúng ta nữa, nào chúng ta hăy đi đến gặp Đức Phật Cồ Đàm, ngồi vây quanh ngài mà tỏ ḷng tôn kính ngài và rồi thú nhận lỗi phạm của chúng ta với ngài và xin ngài tha thứ”, thế rồi mọi người đều đồng ư, toàn bộ những cư dân, cùng với các thủ lănh của chúng. Sau khi đă tụ họp thành nhiều nhóm[46] họ đi ra khỏi làng và đến gặp Đức Phật; và sau khi họ đă đến gặp Đức Phật, một số người phủ phục chào Ngài đầu sát dưới gót chân Đức Phật, một số lại thực hiện lối chào Ngũ thể đầu địa (Añjali), một số khác lại trao đổi lời chào thăm hỏi với Đức Phật, một số người c̣n kể danh tánh và tộc tánh của ḿnh; trong khi đó có một số lại ngồi yên lặng.[47] Ngoài ra, sau khi đă hành động như vậy, toàn bộ họ đă tự ngồi lại sang một bên, và sau khi đă thú nhận lỗi phạm của ḿnh, nói rằng,“giờ đây, bạch ngài Cồ Đàm, chúng ta đă múc hết nước cho cả ngài Cồ Đàm và các đồ đệ của vị Cồ Đàm; chúng ta đă vứt cỏ khô và trấu xuống giếng đó, nhưng cái giếng, cho dù không có ư thức, lại ư thức được rơ như thể biết rơ những ân đức của chư huynh vậy, đă tự nó đẩy được hết rác rến và cỏ khô đó và đă trở nên hoàn toàn trong sạch; trong khi đó toàn bộ vùng thấp trũng này cũng đă được tràn ngập đầy một lượng nước rất lớn, và trở nên vô cùng mát mẻ, chúng sanh ở đây tuỳ thuộc vào nước cho cuộc sống rất thoả măn với những ǵ đă xảy ra; nhưng chúng ta, cho là con người lại không biết được những ân đức tốt đẹp của ngài, và đă hành động ngu đần đến như vậy; hỡi chư huynh Cồ Đàm, xin hăy hành động[48] làm sao để cho nước này không ngập tràn ngôi làng này; quả thật một lỗi phạm đă đem lại điều tốt lành cho chúng ta, quả thật là sức mạnh vô song[49] hỡi ngài Cồ Đàm, xin ngài hăy rủ ḷng thương chúng con và tha thứ lỗi lầm của chúng con đă xúc phạm đến Ngài.” Ngoài ra[50] Đức Phật đă tha thứ lỗi phạm của họ nói rằng, “quả một lỗi phạm đă đem lại điều tốt đẹp hơn cho các ngươi, đó chính là sức mạnh của nó, chính ta tha thứ lỗi phạm đó cho các ngươi, nhưng chỉ nhằm thu thúc trong tương lai” [381] và biết được họ đă trở nên hết ḷng kính mến, Ngài đă diễn giải Phật Pháp nhiều hơn phù hợp với[51] hoàn cảnh của họ. Sau khi đă trở thành nhiệt tâm và sau khi đă được qui y Tam Bảo v.v…đang khi họ lắng nghe diễn giải Phật Pháp từ nơi Đức Phật họ đảnh lễ Ngài, đi ṿng quanh Ngài về phía phải, và rồi từ biệt Ngài ra đi. Ngoài ra ngay trước khi họ[52] đến gặp Đức Phật, th́ trưởng lăo Ānanda với tâm tràn ngập sung sướng vừa khi chứng kiến phép lạ đó một cách hết sức tuyệt vời, đă lấy bát khất thực và múc đầy nước dâng cho Đức Phật và rồi kể cho Ngài về biến cố đă xảy ra, v́ lư do đó có lời nói rằng, “thế rồi vị Trưởng lăo Ānanda (đă đồng ư với Đức Phật ) nói rằng, “mong rằng được như vậy, bạch Đức Thế ’ v.v…Về điểm này: Nôn từ miệng ra (mukhato ovamitvā): trôi ra ngoài toàn bộ cỏ khô v.v… ra khỏi miệng, phun ra, tôi cho rằng là như thế (vissandanto maññe): việc lấy nước trước kia phải múc từ giếng lên bằng một chiếc thùng cột vào một sợi dây dài, vẫn c̣n tồn tại vào thời Đức Phật vị trưởng lăo đă tới giếng mang theo bát khất thực của Đức Phật, c̣n nước dâng trào ra khỏi miệng giếng, thoả măn mọi chúng sanh trong làng, mực nước đó đến nỗi các con quạ cũng có thể đến uống nước tại giếng đó[53], và người ta nói đến điều này liên quan đến những ǵ đă xảy ra tại giếng nước đó khi vị trưởng lăo cầm bát khất thực của Đức Phật đến lấy nước mời Ngài dùng. Tuy nhiên sau đó những chỗ đồng trũng trong ngôi làng đó đă bị ngập nước hoàn toàn theo cách vừa khẳng định ở trên, tuy nhiên khả năng này (đă không xảy đến) thông qua một quyết tâm về phía Đức Phật[54] cũng chẳng phải thông qua oai lực thần thông do các chư thiên, nhưng lại xảy ra nhờ vào oai lực công đức của Đức Phật, như đă xảy ra khi ngài đến thành Vesāli[55] từ thành Rājagaha nhằm để diễn giải kinh hạnh phúc[56] (Paritta). Tuy nhiên một số người lại cho rằng Đức Phật đă thực hiện phép lạ này nhằm mục đích tạo ḷng sùng kính với Đức Phật nơi những dân làng Thūṇeyyan bằng các chư thiên ước ao cho hạnh phúc của họ; một số khác lại cho là có Long vương cư trú dưới giếng đó đă thực hiện việc lạ lùng đó; toàn bộ điều này đều vô lư cả, liên quan đến thực tế là với việc nước trào lên đă được làm rơ hoàn toàn theo cách đó[57] là chỉ hoàn toàn do oai lực của chính công đức của Đức Phật mà thôi. Thẩm định lại vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): thẩm định dưới mọi h́nh thức vấn đề này, được coi như là việc hoàn tất điều ngài muốn cho thấy không có bất kỳ quyết tâm nào về phía ngài, đă làm khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm làm rơ vấn đề này. Về điểm này: Ngài muốn làm ǵ với giếng, nếu chẳng phải luôn luôn đến múc nước tại đó (kiṃ kayirā udapānena āpā ce sabbadā siyuṃ): nếu như (ce = yadi, từ đồng nghĩa) chắc phải diễn ra[58], nếu như luôn luôn khám phá ra nước trong giếng, trong mọi lúc và trong mọi t́nh huống – nếu việc múc nước chỉ tuỳ thuộc vào một lời ước (về phía Ngài)[59] Ngài sẽ phải làm ǵ, Ngài có thể làm được ǵ, với cái giếng đó[60] ư nghĩa ở đây là Ngài c̣n phải làm công việc ǵ nữa. Tại sao sau khi Ngài đă diệt trừ ái dục đến tận gốc rễ, lại phải du hành khắp nơi (taṇhāya mūlato chetvā kissa pariyesanaṃ care): [382] tại sao, v́ lư do ǵ, một Đức Phật toàn tri hữu dư níp bàn, lại phải lưu lại sau khi đă đoạn tận tái sanh (chinditvā, một dạng ngữ pháp khác) hay nói cách khác là triệt phá đến tận gốc ái dục đó, mà tham dục đó lại ḱm kẹp các chúng sanh là những người không thể thực hiện được những hành vi công đức, phải chịu day dứt với đau khổ dưới dạng không có được điều ḿnh ước ao,[61] c̣n phải đi lang thang (careyya, một dạng ngữ pháp khác) t́m kiếm nước uống, hay t́m kiếm những điều thiết yếu cho cuộc sống. Họ cũng giải thích là mūlato chettā (sau khi đă triệt đến tận gốc rễ ái dục (chetvā)[62], hay nói cách khác ngay chính tại gốc rễ ái dục. Bằng không (mūlato chettā) là người cắt đứt ái dục tận gốc rễ trở lên[63]; đây là điều ta muốn nói tới: tại sao v́ lư do ǵ, ngài[64] là người[65], chỉ từ một lời diễn giải tối thượng[66] đă tạo thành gốc rễ giác ngộ[67], lại tiếp theo sau gốc rễ đó, lại là người cắt đứt[68] ái dục khi Ngài đă hoàn tất, trong tương tục tính, những thành tố công đức không hạn chế bằng cách đem những hành vi công đức này đến phát triển toàn diện[69] chỉ nhằm đem lại hạnh phúc cho chúng sanh trên cơi thế gian này, mà không nghĩ ǵ đến chính ḿnh[70], ngài vẫn phải đi du hành khắp nơi t́m kiếm nước uống; bỏ qua tất cả những ǵ không thể đạt được điều mong ước[71] lấy ái dục làm nguyên nhân, ư nghĩa[72] ở đây muốn ám chỉ những người khờ dại mù loà này, tức là cư dân Thūṇeyyan, mặt khác đă làm như vậy, v́ không nhận ra được thử thách của ngài[73] Việc diễn giải Kinh Phật thứ chín kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Những ǵ tiếp theo sau đây có thể so sánh với chú giải Vv-a 45tt, được gán cho ngài Dhammapāla, tuy nhiên với một số hư tưởng đáng kể. [2]. Xin đọc chú giải Ud-a 182 ở trên để t́m ra những điểm giống nhau. [3]. Loke; hay nơi cơi thế gian này, theo ngôn ngữ thế tục, v.v…nhưng ở đây hầu như chắc chắn chứng tỏ không phải là Phật giáo. [4]. Ce Be Se giải thích là Mallo ti c̣n bản văn ghi là Mallā ti. [5]. Có nghĩa là, định sở cách số nhiều của Māla, một dạng tiếng phạn để chỉ tên. [6]. Mahāmaṇḍalajanapadao [7]. Xin đọc chú giải Ud-a 183 ở trên. [8]. Vv-a 45 khẳng định nơi đây thuộc vương quốc Kosala, về điểm này xin đọc giải thích trong VS 71 n 3. [9]. Avadhiṭṭhāne; không thấy liệt kê trong PED hay CPD sv avadhi, từ sau này cũng rơi vào danh sách các từ ghép. [10]. Xin đọc chú giải Ud-a 183 ở trên. [11]. Và như vậy ta có thể giải thích là “đối với một số người” – xin đọc Ud-a 221 ở trên, xin cũng đọc chú giải Ud-a 434 dưới đây để biết thêm một số điểm tương đồng. [12]. Siliṭṭhatta: xin đọc chú giải SED sv sleṣa, khẳng định rằng đây là một trong mười việc công đức. [13]. Xin đọc chú giải Ud-a 58 ở trên, cũng thấy xuất hiện trong chú giải DA 244 = MA i 109. [14]. Chú giải DA MA giải thích là niruttivacanaṃ, nhưng ở đây ư nghĩa cũng giống nhau. [15]. Đối với từ này và từ xuất phát từ samaṇa, là vị sa môn, xin đọc Ud-a 195 ở trên. [16]. Chú giải Be Se giải thích là agāraṃ ajjhāvasantā (Ce giải thích là agāram ajjhāvasantā) c̣n bản văn th́ ghi là agāra-majjhāvasantā; xin đọc Ud-a 309 ở trên. [17]. Tôi coi từ ghép trong VS 671 brāhmaṇagahapatikā có nghĩa là “những chủ hộ bà la môn”, hơn là chọn dvandva như ngài Dhammapāla đă khẳng định, nhưng rất tiếc việc giải thích h́nh như lại không khớp với đoạn tiếp theo sau đó, v́ khi đọc lại nguyên bản, cách giải thích từ ghép dvandva lại mang ư nghĩa toàn bộ dân làng (kṣatriyas, bà la môn và vaisyas), ngược lại ta cũng thấy khẳng định dưới đây là, một khi toàn bộ cư dân trong làng đều múc nước, th́ chỉ những người nào thiếu niềm tin nơi Tam Bảo mới làm thế, sợ rằng Phật Pháp của vị bà la môn không c̣n hỗ trợ cho (nhiều người khác) có nghĩa là chỉ để (một số hay toàn bộ những người chủ hộ bà la môn – sở hữu giếng đó – họ hành động như vậy là sợ không c̣n được những cư dân trong làng bảo trợ. [18]. Chú giải Ce Be giải thích là dassetuṃ c̣n bản văn Se ghi là pakāsetuṃ, khiến cho thể hiện. [19]. Chú giải Ce Be Se giải thích là atthaṃ c̣n bản văn ghi là ettha, trong trường hợp này có nghĩa là (những ǵ họ nghe được). [20]. Xin đọc chú giải Ud-a 53 ở trên. [21]. Sakiñcano; xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 116 ở trên. [22]. Chú giải Ce giải thích là parikittanaṃ, Se giải thích là parikittaṃ, c̣n bản văn Be ghi là parikkittanaṃ. [23]. Chú giải Be giải thích là Gotamagotto, là vị sa môn thuộc ḍng dơi Cồ Đàm. [24]. Chú giải Ce Be Se giải thích là aparikkhīṇaṃ c̣n bản văn ghi là aparikhīṇaṃ; hiểu theo nghĩa đen là “không cạn kiệt” hay “không bị đoạn diệt” xin đọc Trung Bộ Kinh (M) ii 66 về bốn điều suy vong khiến cho một người quyết định xuất gia. Trung Bộ Kinh (M) i 463; S iii 93; It 89; Miln 32; v.v… c̣n về năm điều tiêu hoại được nói ám chỉ trong Ud-a 106 ở trên. [25]. Chú giải Vv-a 46 lại rất khác biệt, cho rằng các gia chủ bà la môn nhà nào cũng có giếng nước chỉ trừ có một cái đă bị lấp với cỏ khô và vỏ trấu. [26]. Chú giải Ce Be Se giải thích là avāsāya c̣n bản văn lại ghi là anāvāsāya; xin đọc chú giải Vv-a 46 để biết thêm chi tiết tương đồng. [27]. Chú giải Be ghi thêm sasāvako, cùng với các vị đồ đệ (sāvakas) của ḿnh; các nguồn khác đều bỏ qua chi tiết này, kể cả chú giải Vv-a. [28]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ṭhapeyya c̣n bản văn Vv-a ghi là patiṭṭhapeyya. [29]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vattuṃ vaṭṭeyya c̣n bản văn ghi là vattaṃ vatteyya. [30]. Chú giải Be Se giải thích là muṇḍe…samaṇe; c̣n bản văn Ce lại ghi là muṇḍesu…samaṇesu, vấn đề ở đây là yếu tố giảm nhẹ nghĩa –ka được dùng để tỏ ḷng bất kính. [31]. Chú giải Ce Be Se giải thích là khuṃsanādhippāyena c̣n bản văn ghi là khuṃsanādhippāye. [32]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích như vậy, c̣n bản văn lại ghi là etamhā udapānā. [33]. Chú giải Ce Be Se giải thích là nibbisevane c̣n bản văn ghi là nibbisevanena; c̣n về nibbisevana, xin đọc Ud-a 87 ở trên. [34]. Trong đó Đức Phật đă nói với trưởng lăo Ānanda, ngài nói tiếp “này Ānanda, ta khát, ta cần thứ ǵ để uống” [35]. Xin đọc chú giải Vv-a 243. [36]. Rất có thể là những ǵ Tứ đại Thiên Vương đă cúng dường cho Ngài sau khi giác ngộ, để Ngài có thể nhận được của bố thí do Tapussa và Bhallika đem lại (Vin i 4); cũng như trong chú giải Vv-a 185. [37]. Chú giải Ce Be Vv-a giải thích là uplavitvā c̣n bản văn Se ghi là uppalavitvā; hay có thể hiểu là “nhảy dựng lên” – xin đọc chú giải Ud-a 333 ở trên, trong đó cùng một từ đă được dịch là nẩy bật lên (như quả bóng nẩy trên mặt nước)” [38]. Chú giải Ce Be Se giải thích là parikhākusubbhao c̣n bản văn ghi là parikkhākussubbhao [39]. Chú giải Ce Be Se giải thích là jalajapupphāni c̣n bản văn ghi là jalajuppalāni. [40]. Thường thường là huệ nước màu trắng và hoa sen màu xanh, nhưng xin đọc chú giải Vv-a 161 về Vv III 7 v 4 và chú thích trong VS 236tt. [41]. Chú giải Be giải thích là kāraṇḍava ở đây có nghĩa là (những chú vịt kāraṇḍava); xin đọc chú giải Vv-a 163 về Vv III 7 v 8 và SOM 75 n. 2. [42]. Chú giải Ce Be giải thích là vīcitaraṅgasamākulaṃ (Se vicitaraṅgasamākulaṃ) c̣n bản văn ghi là vicitrangasamākulaṃ; cho dù cách giải thích này chỉ có ngài Woodward đưa ra, h́nh như ngài đă hiểu lầm ư nghĩa này, ngài đă chọn là vīcita-ranga, thay v́ vīci-taraṅga. Thành ngữ này được t́m thấy trong Thanh Tịnh Đạo 157 từ này được dùng để mô tả t́nh trạng phóng tâm khi thiền jhāna sơ đẳng. [43]. Chú giải Ce Be giải thích là pheṇao (Se pheṇuo) c̣n bản văn ghi là nānāo; xin đọc Thanh Tịnh Đạo 171. 259, 345. Vibh-a 242. [44]. Xin đọc chú giải chú thích trong Ud-a 247 ở trên. [45]. Chú giải Be giải thích là yathā yaṃ, Se giải thích là yaṃ, c̣n bản văn Ce ghi là yadidaṃ. [46]. Chú giải Ce giải thích là saṅghagaṇibhūtā hutvā, Be giải thích là saṅghasaṅghīgaṇibhūtā, Se giải thích là saṅghagaṇībhūtā, c̣n bản văn ghi là sanghāsanghī gaṇibhūtā hutvā. H́nh như những cách giải thích đều đă được chấp nhận, có nghĩa là họ đă tụ họp thành nhóm trước khi rời ngôi làng, điều này trái lại với cách giải thích của Buddhaghosa về một đoạn trong MA iii 416 ( = DA 280), trong đó ta thấy: bubbe gāmassa (nagarassa) anto agaṇā bahi nikkhamitvā gaṇasampannā, có nghĩa là trước đó, khi bên trong làng, dân chúng chưa họp thành nhiều nhóm, và chỉ sau khi đă ra khỏi làng th́ họ mới họp thành nhóm. [47]. Chú giải Ce Se cũng giải thích giống như vậy; bản văn Be lại đổi ngược thứ tự nơi hai đoạn cuối cùng. [48]. Ce Be Se giải thích là karotu c̣n bản văn ghi là kāretu. [49]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yathābālaṃ, ở đây cũng như dưới đây, c̣n bản văn ghi là yathā bālyaṃ. [50]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pi c̣n bản văn lại ghi là hi [51]. Uttariṃ; Be uttari. [52]. Những người Thūṇeyyans. [53]. Xin đọc chú giải Ud-a 424 dưới đây. [54]. Buddhānaṃ; việc sử dụng số nhiều ở đây xem ra hơi kỳ cục. [55]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Vesāligamane c̣n bản văn ghi là Vesāligamanena. [56]. Rất có thể đây là một tham khảo về chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 163tt trong đó mưa lũ thường hay xảy ra do trận mưa ‘hoa ’ xuất hiện trong chuyến hành tŕnh của Đức Phật tới Vesāli để diễn giải kinh Ratanasutta. [57]. Ce Be Se giải thích là yathā c̣n bản văn ghi là kathāyā pi. [58]. Ce Be Se giải thích ce yadi siyuṃ c̣n bản văn ghi là yadi siyuṃ. [59]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ākaṅkhāmattapaṭibaddho c̣n bản văn ghi là ’ ākaṅkhamattapaṭiladdho; xin đọc chú giải Ud-a 144 ở trên để biết thêm những chi tiết tương đồng. [60]. Ce Be Se giải thích là tena c̣n bản văn ghi là tadatthena. [61]. Chú giải Ce Be Se giải thích là icchitālābhadukkhena c̣n bản văn ghi là icchitalābhadukkhena. [62]. Chú giải Ce Be Se giải thích là chedako (một người cắt đứt) c̣n bản văn ghi là chetvā, h́nh như đây là một cách sửa chữa quá đi, xin đọc K.R. Norman, “Khảo Cứu từ vựng Pāli III”, trong JPTS X, 1985, tr. 32-35, trong đó ta lưu ư đến từ chettā ở đây h́nh như là một dạng thổ ngữ dành cho từ chetvā. Chettā ở đây chính là chetvā. (= chettā) = chedako, trong câu tiếp theo, cũng là một cách giải thích khác. [63]. Từ ‘căn, gốc rễ” ở đây, ta nên làm rơ từ cách giải thích sau, không phải là ái dục, nhưng phải hiểu đây là căn giác ngộ (nguồn gốc giác ngộ), từ đây trở đi do việc dẹp bỏ căn này nên Đức Phật đă trở nên người cắt bỏ ái dục. [64]. Ce Be Se cũng giải thích như vậy; c̣n bản văn lại bỏ qua. [65]. Chú giải Ce Be Se giải thích là yo; c̣n bản văn lại ghi là ye. [66]. Mahāpaṇidhānato; một từ khác để chỉ ‘Đại nguyện” các vị muốn trở thành Đức Phật đă được thực hiện ngay dưới chân các Chư Phật, xin đọc Ud-a 128, 134 ở trên. [67]. Ce Be Se giải thích là bodhiyā c̣n bản văn ghi là bodhi. [68]. Ce Be Se giải thích là chettā c̣n bản văn ghi là chettattā. [69]. Be Se giải thích là pariṇāmanavasena (pariṇāmanavasena hi) c̣n bản văn ghi là parināmavasena hi. |