|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
5. CÁC VỊ TRƯỞNG LĂO. Trong Kinh Phật thứ năm: Tại Sāvatthi (Sāvatthiyaṃ)[1]: Trong một thành phố có tên như vậy, v́ thành phố này có tên là “Sāvatthi” liên quan đến một sự kiện là thành phố được xây dựng kế bên trú xứ 2 của một thầy rishi tên là Savattha, cũng như của Kākandī Mākandī 3. Chính v́ thế, trước tiên, (đây là cách giải thích theo các nhà ngữ pháp. Nhưng các giáo thọ sư chú giải Ācariyas cũng công bố rằng: “Chính tại Sāvatthi” v́ bất kỳ thứ ǵ được t́m thấy ở đó đều nhằm lợi ích hay phục vụ chúng sanh mà thôi, toàn bộ những ǵ t́m thấy đây kia (sabbaṃ ettha atthi) và tên đặt cho Sāvatthi cũng xuất phát từ lời tuyên bố như sau, “ở đây có đủ mọi thứ” (sabbam atthi), với một nhóm đông những người du hành[2], khi ta hỏi ‘Có ǵ tốt lành ở đó chăng?” Tất cả mọi tiện nghi đều được cung cấp mọi lúc tại Sāvatthi: chính v́ thế mà người ta công bố ‘Sāvatthi’ xuất phát từ chữ sabbaṃ (có nghĩa là toàn bộ)2 Tại thành phố Sāvatthi đó; và đây lại là định sở cách hiểu theo nghĩa vùng phụ cận. Tại cánh rừng Jeta (Jetavane): (người ta gọi Ngài là) “Jeta” v́ Ngài đă chiến thắng được kẻ thù của ḿnh.3 Hay nói cách khác, (người ta gọi Ngài là) “jeta” v́ Ngài được sanh ra khi những cư dân c̣n là kẻ thù4 của nhà vua đă chiến thắng được, hoặc giả (người ta gọi Ngài là) “Jeta” v́ điều này xuất phát từ ước ao cho rằng đây chính là điều đầy triển vọng cùng tên đă được tạo ra cho chính Ngài. Đây chính là một cánh rừng nhỏ (vanaṃ) v́ nó lôi cuốn, thu hút (vanayati 5) [56] Ư nghĩa ở đây là thông qua chính đặc tính tuyệt vời được tạo ra, làm nẩy sanh việc chúng sanh sùng bái liên quan đến chính khu rừng này. Hay nói cách khác, khu rừng (khúm núm) cầu khẩn (vanute[3]) chúng sanh nói rằng, “Hăy đến mà thưởng thức!” nói với chúng sanh 2 bằng tiếng chim hót như chim cu v.v…bị say mê do hương thơm và mùi thơm phức nơi các lùm cây đa dạng, và lấy tay3 (vẫy chào chúng sanh) như thể dưới dạng các cây, cành và chồi lộc được coi như thể chúng sanh được vuốt ve dưới làn sương ban mai nhẹ nhàng. “Cánh rừng Jeta4” chính là khu rừng tại Jeta; v́ khu rừng này do vị hoàng tử có tên là Jeta trồng, trông nom và chăm sóc, chính5 vị hoàng tử này cũng là chủ nhân của khu rừng đó. Chính v́ thế khu rừng có tên gọi là “khu rừng Jeta”.Trong khu rừng Jeta đó. Tại khu vườn của ông Anāthapiṇdika (Anāthapiṇḍikassa ārāme): một thương buôn giàu có, tên cha mẹ ông đă chọn[4] đặt cho có tên là “Sudatta”; nhưng do những thành tích thành công nơi toàn bộ ước muốn của ḿnh. Do diệt trừ hết các cấu uế bỏn xẻn2 và do Ngài chứng đắc những ân đức đặc biệt như ḷng từ tâm v.v…đối với những người túng thiếu (anāthānaṃ), ngài luôn luôn thực hiện bố thí (piṇḍaṃ) chính v́ thế người ta gọi ông với tên là “Anāthapiṇḍika”. V́ chính tại nơi đây mà các chúng sanh 3 đặc biệt là những người xuất gia4 thường trú ngụ (āramanti 5). Đây c̣n là một “khu vườn” (ārāmo); sau khi đă đi khắp (āgamma) nơi này nơi nọ, họ đă sung sướng (ramati), hoan hỷ (abhiramanti), có nghĩa là cư ngụ6 trong đó mà không cảm thấy chán ngấy, do hoa quả mỹ miều của khu rừng này[5] và do những thành tích thành công mỹ măn (tại đó) nơi các chỗ cư trú gồm năm đặc tính như không quá xa cũng không gần quá v.v…2 Hay nói cách khác, đây là một “khu vườn” (ārāmo) v́, thông qua thành tích thành công mỹ măn thuộc loại ta đă đề cập đến ở trên, điều này giúp kéo ta trở lại (ānetvā) vào chính nội tâm ngay cả đối với những người đă bôn ba hết nơi này nơi khác. (Rồi sau đó) giúp đem lại sung sướng hạnh phúc. (rameti). V́ khu vườn này đă được dâng cúng cho Tăng Đoàn có Đức Phật đứng đầu qua việc ngài đă đưa ra tới năm mươi tư triệu đồng vàng, tức là sau khi thí chủ Anāthapiṇḍika đă đem tiền ra mua từ tay vị hoàng tử Jeta bằng cách thanh toán với mười tám triệu đồng vàng. Sau khi thí chủ Anāthapiṇḍika đă cho xây rất nhiều trú xứ cùng với mười tám triệu kotis vàng thẻ nữa, và sau khi thí chủ đă tổ chức lễ dâng cúng thiền viện này cùng với mười tám triệu kotis vàng thẻ.3 Chính v́ thế mà khu vườn này có tên gọi là khu vườn Anāthapiṇḍika, tại khu vườn Anāthapiṇḍika đó và liên quan đến vấn đề này, việc diễn tả Jetavane (trong khu vườn Jeta) liên tưởng đến chủ nhân trước đó, c̣n Anāthapiṇḍikassa ārāme (trong khu vườn Anāthapiṇḍika lại muốn tưởng nhớ đến người thí chủ tiếp theo (việc tưởng nhớ như vậy bằng một cách giải thích hoàn chỉnh việc hy sinh đặc biệt về phía cả hai người chủ cánh rừng đó [57] nhằm mục tiêu hoạt động trong tương lai, ví dụ điển h́nh[6] đối với những người nào ước muốn thực hiện điều công đức; v́ trong trường hợp này, mười tám triệu kotis vàng thẻ nhận được từ chỗ bán miếng đất được dùng để xây dựng các cung điện ngay tại bốn mái cổng thành 2 và các cây có trị giá vô số triệu kotis, đă làm thành việc dâng cúng Jeta, lên đến năm mươi bốn triệu kotis vàng thẻ của thí chủ Anāthapiṇḍika. Chính v́ thế, người canh giữ kho tàng pháp bảo 3 cũng thúc giục 4 người khác ước ao thực hiện công đức để kích hoạt ví dụ điển h́nh hiện tại của các Ngài bằng cách chỉ rơ, thông qua tưởng nhớ đến các việc dâng cúng[7] này, là cách những người này ước ao thực hiện công đức. Về điểm này,2 người ta có thể phản đối rằng, nếu như có người nói rằng, trước tiên Đức Thế Tôn đang lưu lại Sāvatthi thế th́ “trong cánh rừng Jeta” đă không được đề cập đến; trong khi đó nếu như Ngài lưu lại trong cánh rừng Jeta, th́ “tại Sāvatthi” cũng chẳng được đề cập đến. V́ không thể nào một người có thể lưu lại ở hai nơi cùng một thời điểm. Nhưng điều này không nên coi như vậy3, v́ chẳng phải chúng ta4 đă chẳng nói “Đây chính là định sở cách hiểu theo nghĩa vùng phụ cận sao”? Chính v́ thế đang khi Ngài c̣n lưu lại tại đó, có nghĩa là tại cánh rừng Jeta chính là trong vùng phụ cận với Sāvatthi, người ta c̣n nói “Ngài đang lưu lại tại Sāvatthi, “trong khu vườn của ngài Anāthapiṇḍika trong cánh rừng Jeta; v́ từ “Sāvatthi” được dùng ở đây nhằm mục đích chỉ ra cho thấy ngôi làng tạo thành nơi làm vườn cỏ vào thời đó. Các từ c̣n lại có mục đích chỉ ra cho thấy đó chỉ là trú xứ nhằm phục vị những vị đă xuất gia. Liên quan đến “Trưởng lăo Sāriputta” v.v… āyasmā (vị Trưởng lăo) là một từ dùng để biểu lộ ḷng yêu mến, từ ca (và) hiểu theo nghĩa một liên từ. Ngài là “Sāriputta” v́ một phụ nữ thuộc ḍng dơi Bà la môn tên là Rūpasāri đă sanh hạ ra ngài là con trai (putto) của bà. Mahāmoggallāna (Mahāmoggallāno) trưởng lăo Mahāmoggallāno là một từ tỏ ḷng tôn kính. V́ chính ngài là “Trưởng lăo Moggallāna” (Mahāmoggallāno) v́ chính ngài là vị Trưởng lăo Moggallāna. V́ ngài chính là vị Moggallāna vĩ đại (mahā) liên quan đến những nét độc đáo trong đó có[8] các ân đức đặc biệt. Revata (Revato): Revata thuộc cánh rừng2 Acacia chớ không phải mối nghi ngờ Revata3. V́ một ngày kia Đức Phật đă ngồi thiền, vây quanh là một Tăng Đoàn đông đảo các vị Tỳ khưu giống như một địa điểm dâng cúng viền bằng tấm vải màu đỏ, giống như một ngọn núi bằng vàng vây quanh với những ngọn cờ màu đỏ san hô4, giống như Dhataraṭṭha, vua thiên nga vây quanh là chín mươi ngàn thiên nga[9] (và) giống như một vị Vua là chuyển luân vương bao vây là cả một đạo quân với bốn đạo quân 2 sáng chói với bảy châu báu. Đang thuyết giảng Phật Pháp giữa bốn hội chúng như thể tạo cho mặt trăng xuất hiện trên không.3 (Và) vào dịp đó, các vị sāvakas thống lănh,4 đang đi lại gần Ngài với mục đích kính lễ dưới chân Đức Phật. Ngài nói với các vị Tỳ khưu (bhikkhū āmantesi): nói chỉ ra cho thấy những vị nào đó đang tiến lại gần các Tỳ khưu đang ngồi thiền vây quanh Đức Phật (Ngài). Đối với Đức Thế Tôn, tâm Ngài tràn ngập hân hoan v́ nh́n thấy những vị Trưởng lăo tiến lại gặp Ngài, chứng đắc các ân đức đac biệt, về giới, định và tuệ. Được phú cho niềm an b́nh tột đỉnh, và được trang bị với tác phong cao quí nhất. Ngài đă nói với các vị Tỳ khưu nhằm mục đích niệm tưởng đến cách phân biệt trong đó có các ân đức đặc biệt.[58] (nói rằng:) “các vị Tỳ khưu này chính là các thầy Bà la môn đang tiến lại. “Hỡi các vị Tỳ khưu, đây chính là các vị Bà la môn đang tiến lại gặp ta”. Lời tuyên bố này được lặp đi lặp lại một cách sảng khoải5 cho dù điều này chỉ thích hợp để nói rằng chính thông qua cách hoan hô[10]. Ngài đă nói với điều này như sau (evaṃ vutte): Ngài đă nói điều này như sau tức là. “Các vị Bà la môn” do Đức Thế Tôn với các vị Trưởng lăo đó. Một người nào đó (aññataro) : một số các vị Tỳ khưu đă ngồi thiền trong Tăng đoàn không được chỉ rơ với tên và gotra. Với ḍng dơi Bà la môn (brāhmaṇajātiko): được sanh ra trong ḍng tộc Bà la môn, v́ Ngài đă xuất gia từ một bộ tộc thuộc 2 ḍng tộc Bà la môn sở hữu rất nhiều tài sản.3 Người ta nói rằng điều này đă diễn ra với Ngài như vậy đến nỗi những người b́nh thường khẳng định rằng vị đó trở thành Bà la môn 4 theo hai cách do được sanh ra trong một gia đ́nh danh giá và là kết quả chứng đắc việc tu luyện Bà la môn, và không c̣n cách nào khác. Ấy vậy Đức Thế Tôn lại khẳng định rằng các vị Trưởng lăo này phải là các vị “Bà la môn”. Giờ đây ta nên hỏi Đức Thế Tôn về các đặc tướng nơi một vị Bà la môn 5 V́ chính vấn đề đó Đức Thế Tôn đă công bố vào thời điểm đó: các vị Trưởng lăo phải là các vị “Bà la môn” v́ vị nào là Bà la môn (brāhmaṇo) chính v́ từ Bà la môn mà Ngài đă gói gọn được trong một từ (brahman ananti [11]” đây chính là cách giải thích từ ngữ 2 đối với những vị nào đă trở thành Bà la môn bẩm sanh. Trong khi đó các bậc thánh cũng là Bà la môn theo cách thức họ đă xa ĺa các ác pháp (bāhitapāpatāya). V́ điều này lại có lời nói rằng: “Một vị Bà la môn là người đă xa ĺa các ác pháp. Ngài được gọi là vị sa môn liên quan đến tịnh hạnh 3 của Ngài mà ra. (Dhp 388) Trong khi đó Ngài c̣n muốn nói rằng, “Sau khi đă xa ĺa các ác pháp”. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): biết rơ vấn đề này chính là đạt đến điểm trọng yếu nhất4 của từ “Bà la môn” ư nghĩa tột đỉnh của từ.5Làm nổi lên Phật Tự Thuyết (Udāna) này (imaṃ udānaṃ udānesi): làm khởi sanh tạng Udāna này tức là giải thích rơ hiện trạng một vị Bà la môn theo ư nghĩa tột đỉnh. Về điểm này: Sau khi đă đoạn tận được hết, ư nghĩa là sau khi đă đẩy lùi ra khỏi chính liên tục tính của Ngài. Sau khi đă đoạn trừ diệt tận gốc rễ [12]các pháp hạ liệt nghĩa là các pháp bất thiện lại được chia thành vô số các loại khác nhau. Bằng cách phân loại này theo đặc tính chúng xuất hiện, tức là các pháp tương ưng với các ác hạnh có ba loại. (Vibh 363), các tâm tương ưng với bất thiện lại có mười hai loại, tâm sanh ( Thanh Tịnh Đạo 684) và các bất thiện nghiệp đạo đó là mười loại bất thiện nghiệp đạo 2 (Thanh Tịnh Đạo. 684). Những vị nào luôn trong t́nh trạng nhập thiền niệm liên tục (ye caranti sadā satā) : những vị nào luôn trong t́nh trạng3. Thông qua các oai nghi thuộc về thân, tác ư, trở thành những người thành tựu tác ư, bằng cách luôn cư trú 4 liên tục trong mối liên quan đến sáu đối tượng về cảnh sắc v.v…trong mọi t́nh huống.(liên tục) liên quan đến một thực tế là họ đă chứng đắc tác ư viên măn (fullness). Và liên quan đến vấn đề này, bằng cách thâm nhập vào chính các thiền niệm này, ta nên hiểu t́nh trạng chuyên tâm cũng được gộp chung lại trong đó. Những người nào nơi họ đă đoạn tận các kiết sử. (khīṇasaṃyojanā): nơi những vị nào các kiết sử đă được đoạn tận hoàn toàn liên quan đến một thực tế là các kiết sử này lại thuộc mười loại[13] khác nhau, cũng đă bị đoạn trừ đến tận gốc rễ bằng tứ thánh đạo. Chư Phật (buddhā): Chư Phật chính là kết quả t́nh trạng giác ngộ 2 về tứ thánh đế; hơn thế nữa, và các Ngài cũng thuộc ba loại khác nhau, tức là Chư Phật thinh văn giác (Sāvakabuddhas) 3 Chư Phật Độc Giác (Paccekabuddhas) và Chư Phật Chánh Đẳng Giác (Sammāsambuddhas)4; đối với các vị này, các Chư Phật thinh văn giác (Sāvakabuddha) ta muốn ám chỉ đến trong trường hợp này. [59] Trên thế gian này, các vị này thực sự là các Bà la môn (te ve lokasmiṃ brāhmaṇā): trên cơi chúng sanh những vị này được biết đến với tư cách là các vị Bà la môn hiểu theo nghĩa tột đỉnh của từ trong đó họ là những người được sanh ra thanh tịnh trong Giáo Pháp, được xem như đă chứng đắc bậc Bà la môn [14] theo đúng nghĩa của nó; hay nói cách khác, trong cơi chúng sanh họ là những người con của Đức Phật được sanh ra từ ḷng mẹ, chính Đức Phật đă tạo thành các vị Bà la môn 2 đó, có nghĩa là không chỉ thông qua sanh và gotra, không chỉ bằng cách để tóc rối v.v…Chính v́ thế trong hai Kinh Phật này những pháp đó đă khiến cho người nào đă trở thành Bà la môn cũng được tạo cho các cá nhân liên quan đạt đến bậc A-la-hán là điều ta đề cập đến. Trong khi đó v́ chúng sanh lại thuộc nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều bản chất khác nhau: thế nên ta cũng nên hiểu cách giảng giải Phật Pháp tùy theo các bản chất khác nhau nơi cách diễn đạt3 Phật Pháp đó. Đây chính là sức thu húc 4 nơi giáo pháp của Đức Phật vậy. Đến đây kết thúc việc chú giải Kinh Phật thứ năm.
-ooOoo- [1]. Điều tiếp theo,chú giải Mai 59tt và Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 110tt 2. Ce Be MA giải thích là nivāsaṭṭhāne c̣n về bản văn Se Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) ghi là nivāsanaṭṭhāne; MA Khp-a cả hai đều khẳng định là Sāvatthi, đương nhiên, là thành phố các Thầy Rishi thường đến làm nơi cư trú, v́ các thầy Rishi thường có khuynh hướng cư trú tại những nơi xa sôi hẻo lánh, thế nên Sāvatthi là nơi các Thầy rất ưa chuộng. 3. Chú giải Majjhima-ṭīkā, MA i 59 đă trích dẫn;Kākandī Mākandī Kosambī ti, rất có thể nhờ đó ta biết được có dụng ư cho thấy một số ví dụ về những trú xứ được gọi theo tên các nhân vật, v́ SED liệt kê Kakanda là tên của một vị vua; chính v́ vậy tự điển này cũng khẳng định rằng Kākandī là tên của một vương quốc hay một thị trấn, Mākandī là tên của một thị trấn bên bờ sông Hằng. [2]. Ce Be MA Khp-a giải thích là satthasamāyoge, c̣n bản văn ghi là sātthasamāyoge, chú giải Se ghi là yattha samāyoge. 2. Chú giải Be giải thích là pavuccatī ti c̣n bản văn Ce Se ghi là pavuccati; h́nh như đây chính là nơi diễn ra việc công bố các giáo thọ sư chú giải phải được kết thúc.; MA chú giải Tiểu tụng (Khp-a) c̣n ghi thêm hai đoạn kệ nữa trước khi kết thúc trích đoạn này, bản văn mở ra các đoạn trích bằng câu yaṃ kiñci nhưng lại không đóng lại. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là paccatthike c̣n bản văn MA Khp-a lại ghi là paccatthikajanaṃ. 4. Bản văn MA Khp-a c̣n chèn thêm attano, his; Ce Be Se lại bỏ sót. 5. Cũng như vậy chú giải Ce Be Se và chú giải Tiểu tụng (Khp-a), c̣n bản văn ghi là vanāyati; đoạn này không thấy xuất hiện trong MA. MR&I 121: “đây là điều chúng ta có thể (vanayati), như vậy đây là một rừng cây nhỏ (vana)” nhưng vanayati ở đây h́nh như là nguyên nhân cách của vanati. 1. Cũng như vậy chú giải Ce Be Se c̣n bản văn ghi là vanathe, chú giải Tiểu tụng (Khp-a) ghi là vanate, vanute (= vanati) có nghĩa là ước ao, đ̣i hỏi, cũng là nguyên nhân cách, như đă lưu ư ở trên, vanayati, hấp dẫn (ước ao, yêu cầu) “qú gối” hơi mạnh một chút; nhưng ở đây lại là cách chơi chữ; Về từ vanatha, xin đọc Guide 115 n. 473/1. 2. Chú giải Se Be Ce giải thích là o ālāpehi c̣n bản văn ghi là o ālayehi; khp-a lại ghi khác đi. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là opallavahatthehi c̣n bản văn ghi là opallavitehi; Khp-a lại ghi khác đi. 4. MA cũng đồng ư như vậy. 5. Chú giải Ce Be Se giải thích là so va c̣n bản văn MA Khp-a ghi là so ca. [4]. Chú giải Ce Be giải thích là gahitanāma, c̣n bản văn ghi là Se MA Khp-a ghi là katanāma. 2. Vigatamalamaccheratāya; MR&I 122 “không c̣n keo kiệt hoặc bợn nhơ”, nhưng chú giải AA ii 245 lại giải thích là vigatamacchariyamala. 3. Pāniṇo; nghĩa đen “sinh vật” (vật có hơi thở) kể cả sâu bọ và chim chóc, v.v…rất có thể chúng hút hoa, là những người đă xuất gia khỏi cuộc sống gia đ́nh. 4. Bản văn MA chú giải Tiểu tụng (Khp-a) lại ghi ở đây từ vā.; c̣n bản văn lại bỏ sót. 5. PED không kể ra từ này, ư nghĩa thông thường chính là hưởng thú vui, sảng khoái, v.v…có ư nghĩa như tự điển đă gán cho văn cảnh này; cho dù āramati cũng c̣n có nghĩa là nghỉ ngơi, dừng lại, ngưng lại như trongTăng Chi Bộ Kinh (A) iv 137, mang ư nghĩa như đă được dự kiến ở đây. 6. Chú giải Ce Be Se giải thích là vasanti. C̣n bản văn MA Khp-a ghi là nivasanti; chú giải Ud-a 299. [5]. Tassa; Ce Be Se bỏ sót. 2. Chi tiết được ghi trong Tăng Chi Bộ Kinh (A) v 15; được trích dẫn trong chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 40. 3. T́nh tiết này được t́m thấy trong Vin ii 158tt. [6]. Diṭṭhānugati-āpajjanatthaṃ; chú giải Ud-a 17 ở trên. 2. Dvārakoṭṭhakapāsādao MR&I 122 lại coi đây là một “cḥi canh cổng thành” số ít nhưng theo truyền thống người ta lấy tiền của Jeta để xây một ṭa nhà bảy tầng ở bốn góc cánh rừng Jeta. – chú giải R. Spence Hardy. A Manual of Buddhism Varanasi 1967, tr. 219. Cũng trong bài tường tŕnh này chúng ta được biết là đa số cây cối trong cánh rừng này, trừ cây dáng hương và cây xoài đă bị đốn hết để san bằng mặt đất; sau đó Anāthapiṇḍika mua lại cánh rừng này bằng cách bỏ ra nhiều đồng tiền vàng như thể phủ kín cả cánh rừng, lại c̣n bỏ thêm tiền để mua cả các vùng c̣n có cây che phủ,và v́ lư do đó không thể phủ kín khu đó bằng vàng. Rất có thể đây chính là lư do tại sao việc chặt bỏ các cây c̣n lại được gộp lại ở đây trong hy lễ Jeta. 3. MA Khp-a giải thích là Ānando; tuy nhiên với phận sự của ḿnh là một người kể lại Kinh Phật hiện tại trong đó có kèm theo cả chú giải nữa. 4. Chú giải Ce Be Se giải thích là niyojetī ti, c̣n bản văn ghi là niyojeti; rất có thể từ ti này ám chỉ kết thúc nguồn tư liệu Dhammapāla đă trích dẫn. [7]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pariccāgaparikittanena, c̣n bản văn MA Khp-a lại ghi là parikittanena. 2. MA bỏ lửng ở đây, đang khi đó chú giải Tiểu tụng (Khp-a) tiếp tục theo một cách hơi khác một chút. 3. Chú giải Ce Be Se giải thích là evaṃ. Bản văn lại bỏ sót. 4. Sự xuất hiện trong các văn cảnh với ngôi thứ nhất số nhiều có thể củng cố quan điểm cho rằng chú giải này là một tác phẩm của một tập thể. [8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là Mahāmoggallāno ti pūjāvacanaṃ / guṇavisesehi mahanto Moggallāno ti hi Mahāmoggallāno, c̣n bản văn ghi là Mahāmoggallāno ti mahanto Moggallāno ti Mahāmoggallāno; pūjavacanaṃ guṇavisesaṃ hi. 2. Chú giải Be giải thích là Khadiravanika, Se AA i 223 ghi là khadiravaniya đối với bản văn là khadiravanavāsī. Ngài là một người em nhỏ nhất trong số ba anh em của ngài Sāriputta, chú giải AA i 223 tt đưa ra chi tiết này – và vị Trưởng lăo trong số các vị Tỳ khưu này lại chính là một người cư dân sống trong rừng. 3. Chú giải Ud-a 314tt. 4. Chú giải Be giải thích là pavāḷadhajaparivārito (Ce pavālao) c̣n bản văn ghi là pañcajāladhajaparivārito. Se sajjhājalaparivārito; thêm vào đó Ce c̣n ghi lại một vl về sajjhajālaparivārito; Se vll pavāladhajaparivārito và jālāraparivārito [9]. J iv 425tt, v 333tt, 354tt; cũng như Pv-a 171 như là một so sánh tương tự. 2. Ce Be Se giải thích là caturaṅginiyā c̣n bản văn ghi là caturāsītiyā, đây là những tượng binh, chiến xa, kỵ binh và bộ binh - chú giải D ii 190 v.v… 3. Như vậy giáo lư đă quá rơ; chú giải Vv-a 3 cũng tương tự như vậy. 4. Ce Be Se giải thích là mahāsāvakā c̣n bản văn ghi là ca. 5. Chú giải Ce Be Se giải thích là āmeṇḍitaṃ pasaṃsāvasena c̣n bản văn ghi là āmeṇḍitapasaṃsavasena. 1. Chú giải DA 228. AA ii 105 v.v… c̣n một danh sách chín phản ứng mang tính cảm xúc tạo khởi sanh lời phát biểu liên tục. Những lời phát biểu này là lời thứ chín và thứ ba liên tiếp. Trong số những lời phát biểu đó không thấy trong số chín lời phát biểu này ta gọi là ādara, ḷng kính trọng, ta t́m thấy được trong Ud-a 173 dưới đây. 2. Mahāsālao ; sở hữu những đại sảnh vĩ đại. 3. Be giải thích uḷārabhogā c̣n bản văn Ce Se ghi uḷārabhogo. 4. Chú giải Be Se giải thích là Brāhmaṇo hoti. C̣n bản văn Ce ghi là brāhmaṇā hoti. 5. Bản văn đă in sai một phần câu này như là một cước chú. [11]. Y như từ nguyên, từ aṇanti được đặt ra nhằm mục đích, và Woodward (VofU 94) coi đó như “họ phát ra những lời Phạm Thiên, họ giải thần chú cho vị Phạm Thiên”) cho dù hiểu biết của tôi được coi như là sức mạnh của vị Phạm Thiên mà họ đă gói gọn trong những lời thần chú, chỉ với những câu thần chú như vậy cũng đem lại hiệu quả. Xin đọc Ud-a 377 dưới đây. 2. Nibbacanaṃ; không ghi trong tự điển PED, nhưng chú giải SED sv nirvacanaṃ 3. Chú giải Ud-a 195, 260 dưới đây. 4. Chú giải Ce (Be) Se giải thích là sikhā (p) pattam atthaṃ, c̣n bản văn ghi là sikkhāppattam atthaṃ; xin đọc chú giải Ud-a 54 ở trên. 5. Paramatthato; hay ư nghĩa thực chất tuyệt đối. [12]. Xin đọc chú giải Pts i 26 2. Chú giải Be Se giải thích là dvādasākusalacittuppāde kammapathavasena dasākusalakammapathe (Ce dvādasa-ākusalacittuppāde. C̣n bản văn ghi là dvādasa akusalakammapatha. 3. Chú giải Dhp-a ii 36 cũng tương tự như vậy. 4. Chú giải Be giải thích là satatavihāravasena, c̣n bản văn Ce ghi là cha sativihāravasena. Se ghi là chassativihāravasena. chú giải Ud-a 335. Be có lẽ đă sửa lại quá nhiều, nhưng phạm trù cha sativihāra (sáu trú xứ niệm) h́nh như không được ai biết đến ở bất kỳ nơi nào khác; định nghĩa về sáu trú xứ ghi lại trong D iii 250. 281, rất phù hợp với văn cảnh này. [13]. Chú giải Be Se giải thích là dasavidhassa saṃdo tuaàn (yojanas)sa c̣n bản văn Ce ghi là dasavidhasaṃdo tuaàn (yojanas)sa; cách sử dụng số ít liên quan đến các kiết sử xem ra không b́nh thường, c̣n khīṇasaṃyojanā nên hiểu là, “những vị nào đă diệt trừ được hết các kiết sử nơi ḿnh”. 2. Sambodhena. 3. Có nghĩa là, Chư Phật cũng là các sāvakas. 4. Ở nơi khác lại giải thích là : Vị Chánh Đẳng Giác; được định nghĩa trong chú giải Ud-a 84, 125. [14]. Chú giải Be Se giải thích là brāhmaṇasaṅkhāte dhamme c̣n bản văn Ce lại ghi là brāhmaṇasaṅkhātadhammena. H́nh như ở đây từ brāhmaṇao thế chỗ cho từ brahmañña, tức là Bà la môn (Cp PED sv brāhmaṇa2) h́nh như trong Thg. 632, Sn 655. Tthag-a ii 265 cũng vậy, ta thấy có phần giải thích là brahmaññu (trí về Brahmā/vị Phạm Thiên), cũng như trong phần chú giải EV i 217; chính v́ thế có điều không rơ ràng là liệu ta nên coi từ brāhmaṇā trong đoạn kệ này đơn giản chỉ là “các vị Bà la môn hay chăng.” hay “những vị nào đă là các vị Bà la môn” 2. Brāhmaṇabhūtassa; rất có thể Brāmaṇao ở đây là viết tắt của từ brahmañña. 3. Chú giải Be Se giải thích là abhilāpanānattena. C̣n bản văn Ce ghi là abhilāpanatthena. 4. Chú giải Ud-a 9tt ở trên; cũng như Thanh Tịnh Đạo 524. |
|