NAMO TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMĀSAMBUDDHASSA

 

                                          Bản Tiếng Pāli: Ācariya Dhammapāla

                                          Bản Anh Ngữ :  Peter Masefield

                                          Dịch giả:           Tỳ Khưu Siêu Minh

PL. 2551 - DL. 2007

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

9. CÁC VỊ ẨN SĨ BÚI TÓC

Trong Kinh Phật thứ chín: tại Gayā (Gayāya):  liên quan đến vấn đề này đây chính là một ngôi làng và cũng là một giao lộ[1] được đề cập đến với tên là “Gayā” v́ Đức Thế Tôn được đề cập đến với những lời lẽ sau, “Ngài đang lưu lại tại Gayā, khi ngài c̣n đang lưu lại không xa Gayā là bao; cũng giống như vậy (khi lưu lại giao lộ2 Gayā không xa là mấy. V́ tại nơi đây có một đầm sen và như một con sông nhỏ, không xa ngôi làng Gayā là bao, cũng được biết đến như là “giao lộ Gayā”  cả hai nơi này những người phàm tục3 coi như là một giao lộ để tẩy sạch điều bất thiện.4 Trên đỉnh ngọn núi Gayā (Gayāsīse): trên đỉnh ngọn núi có h́nh dáng giống như trán trước một con voi, tại đó lại có một ngọn núi tên là Đỉnh Núi Gayā 5, là một đồi đá nhô lên6, giống như trán con voi, có đủ chỗ cho khoảng một ngàn[2] vị Tỳ khưu2 chính tại nơi đó Đức Thế Tôn đă lưu lại, v́ lư do đó người ta nói rằng, “Ngài đang lưu lại tại Gayā, trên đỉnh Ngọn Núi Đá Gayā” . Các vị ẩn sĩ tóc búi (jailā): các vị ẩn sĩ (tāpasā) : v́ liên quan đến việc các ngài đeo tóc búi tó (ā), trong trường hợp này, người ta gọi các ngài là các vị “ẩn sĩ để tóc búi tó” (jailā). Vào mùa tuyết rơi kéo dài tám ngày liên tiếp (antaraṭṭhake himapātasamaye): vào thời điểm tuyết rơi kéo dài trong tám ngày, bốn ngày vào cuối tháng Māgha và bốn ngày đầu tháng Phagguṇa3 đă tạo thành mùa đông rét đậm. Nhảy xuống (ḍng sông) Gayā (Gayāya ummujjanti): một số người đầu tiên đă nhảy xuống ngập toàn thân trong nước, họ tưởng rằng một giao lộ, nhảy xuống, trồi lên, nổi lên[3] từ đó. Đă lặn ngụp xuống,(nimujjanti2): ch́m xuống ngập đầu trong nước. Đang thực hiện hành vi nhảy lên nhảy xuống liên tục3 (ummujjanimujjam pi karonti). Một dạng ngữ pháp khác). Với một số người tại đó, chỉ cần nhảy xuống một lần, lại tưởng rằng hành vi đó sẽ tẩy trừ khỏi mọi điều bất thiện chỉ cần nhảy xuống đó một lần, rồi lên đường sau khi đă thực hiện một lần hụp lặn xuống đó. Nhưng lại không thể nhảy lên nếu như không nhảy xuống, thế nên họ vẫn4 thực hiện hai động tác này không tách biệt, nhảy xuống rồi nhảy lên nữa. Những kẻ nào chỉ cho là việc tẩy trừ khỏi điều bất thiện chỉ cần nhảy xuống - cả những người này cũng chỉ nhảy xuống ḍng sông đó chỉ có một lần. Nhưng những kẻ nào lại cho rằng việc thanh tịnh khỏi điều bất thiện đơn giản bằng  cách nhảy xuống sông tại giao lộ đó,[75] nh́n hơi thở lại[4] sau khi đă nhảy xuống đó, đă kết thúc những ngày (cuộc sống) của họ tại đó, giống như những người gieo ḿnh xuống một vực thẳm2 vách đá. Lại có một số người cho rằng việc thanh tịnh khỏi những điều bất thiện hiện tại3 ở việc tắm bằng cách thực hiện hành vi nhảy xuống4 nhảy lên liên tục, liên tục việc thực hiện hành vi nhảy lên nhảy xuống. Chính v́ có liên quan đến toàn bộ những điều này mà người ta nói rằng, “ Đang nhảy lên nhảy xuống (ở khúc sông Gayā), thực hiện những hành vi nhảy lên nhảy xuống”; và cho dù một hành vi nhảy lên lại được nối tiếp với hành vi nhảy xuống, tuy nhiên v́ những người chỉ thực hiện5 hành vi nhảy xuống rất ít và thực hiện cả hai th́ lại nhiều. Thế nên hành vi nhảy lên trong trường hợp này, được  nói đến trước để ám chỉ cho thấy hạng người thứ hai này chiếm đa số. Cũng giống vậy, chính v́ có liên quan đến một thực tế là các vị ẩn sĩ búi tóc lại làm thành đa số mà người ta nói “một phần đông các vị ẩn sĩ búi tóc.” Cho dù các vị Bà la môn, cả búi tóc lẫn các vị đội lông mao [5] thực , là người cho rằng việc thanh tịnh chỉ diễn ra thông qua nước2 mà thôi, cũng tương tự như vậy thực hiện (các hành vi) thuộc loại đó ở thời điểm đó, tự rẩy nước lên ḿnh (osiñcanti):  một số người3 lại rẩy nước lên đầu và ḿnh sau khi lấy tay múc nước từ sông Gayā. Trong khi đó một số khác lại thực hiện cùng một cách như vậy sau khi đă lấy nước đựng trong b́nh và rồi để trên bờ sông. Một số lại rẩy nước xá tội Agni (aggiṃ juhanti): một số lại rẩy nước xá tội Agnihotra, lại thực hiện những việc rẩy nước xá tội Agnihotra4 Sau khi họ đă kiếm được một dụng cụ liên quan đến việc thờ cúng như dầu đốt và chiếc môi5  v.v… sau khi đă sắp đặt một bàn thờ cúng lễ (và nhóm lửa lên[6]) trên bờ sông Gayā. Nghĩ rằng theo cách này họ sẽ được thanh tịnh (iminā suddhi 2) có nghĩa là cho rằng ta sẽ được thanh tịnh khỏi mọi pháp bất thiện, hay được thanh tịnh trong ṿng luân hồi, bằng cách rửa sạch điều bất thiện, theo cách này, trong hành vi nhảy lên nhảy xuống chỉ được coi như là được nói đến làm ví dụ mà thôi. V́ họ đă thể hiện rất nhiều hành vi nghi thức đa dạng. Như thế có một số người lại lưu lại trong một căn nhà dựng trên nước.3 Một số lại thực hiện lời chào Nguơ theå ñaàu ṇ̃a (Añjali)  với đầy nước trong tay, một số lại lưu lại trong nước  di chuyển qua lại theo hướng4 mặt trời và mặt trăng,5 một số 6 lại lẩm rẩm câu Sāvitī 7 v.v…hàng trăm ngàn lần liên tiếp, một số lại kêu cầu Viḍojas[7] v.v…bằng cách cầu xin, “mong rằng Indra xuất hiện,” v.v… một số lại thực hiện phục vụ; và đang khi làm như vậy họ đi xuống2 trong nước, một số lại bước ra khỏi nước3 thực hiện rẩy nước thanh tịnh4 trong khi đó một số lại lưu lại trong nước, run lập cập v́ rét, lại chơi tṛ “ā với răng”5 ; v.v… [76] hay nói cách khác, v́ ngay cả những người nào thực hiện những việc nghi thức vặn ḿnh uốn éo th́ họ chỉ làm như vậy sau khi đă nhảy lên nhảy xuống khỏi mặt nước, “đang nhảy khỏi mặt nước” v.v…chính v́ thế người ta cũng suy luận ra rằng toàn bộ điều này chỉ thuần tuư chứa đựng trong những hành vi nhảy xuống nhảy lên mà thôi. Đứng ở trên cao đang khi những điều hỗn độn và rối loạn diễn ra tại đó, Đức Thế Tôn nh́n thấy có những kẻ đang vặn ḿnh uốn éo theo nghi thức, khi Ngài nh́n xuống, nghe thấy tiếng náo động của họ, Ngài liền t́m xem có ǵ xảy ra, liên quan đến vấn đề này người ta kể lại rằng, “Và Đức Thế Tôn đă nh́n thấy…nghĩ rằng theo cách đó họ sẽ được thanh tịnh”; điều này cũng có cùng một ư nghĩa như đă được khẳng định ở trên.

Thẩm định lại vấn đề này (etam attha viditvā):  Thẩm định ở mọi khía cạnh vấn đề này, tức là họ đă hiểu lầm rằng: chẳng có chánh đạo nào dẫn đến thanh tịnh[8], giống như hành vi lặn ngụp xuống dưới nước v.v…cả và chính sự giác ngộ rơ ràng của Ngài cũng chỉ là thanh tịnh đạo liên kết với chân đế mà thôi. Udāna này (ima udāna): khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết (Udāna) này giải thích rơ một thực tế đó là thanh tịnh thông qua nước chẳng phải là thanh tịnh đạo đâu. Cũng như giải thích rơ một thực tế nữa là các pháp  như thể là các chân đế v.v… mới là thanh tịnh đạo vậy. Về điểm này:

Chẳng có việc tẩy sạch bằng nước đâu (na udakena suci hoti): liên quan đến vấn đề này udakena (thông qua nước) có nghĩa là udakummujjanādinā 2(thông qua hành vi nhảy lên nhảy xuống khỏi mặt nước) v́ udakummujjanādi3  (thông qua hành vi nhảy lên nhảy xuống trong nước) trong trường hợp này, chính thông qua cách đọc lướt nhân tố đầu[9] được nói đến là udakaṃ, (nước) như trong từ rūpabhavo (sắc hữu) là rūpa (sắc). Hay nói cách khác, không có nghĩa là không tồn tại. Được sạch sẽ2 như chúng sanh được thanh tịnh vậy. Nhờ nước tạo thành hành vi chính trực 3 qua những nghi thức được coi là các hành vi nhảy xuống nhảy lên v.v… hoặc giả chẳng có người nào được sạch, không được cho là ḿnh được thanh tịnh khỏi các vết nhơ bất thiện mà lại thông qua nước như đă đề cập đến ở trên. Tại sao vậy? Hay có rất nhiều người đến tắm ở đây. (bahvettha nhāyantī jano4) v́ chẳng phải đă có nơi được biết đến như là việc thanh tịnh khỏi điều bất thiện qua việc lặn ngụp xuống nước.v.v… như đă nói đến ở trên, có rất đông con người đến tắm trong nước 5 ở đây. Chính v́ toàn bộ những người đó đă được thanh tịnh khỏi điều bất thiện; v́ kẻ nào làm điều bất thiện giết mẹ v.v…[10] cũng như sát sanh bất kỳ chúng sanh nào từ những con vật như con rùa cho tới những con vật như ḅ, trâu v.v…; nhưng không phải là trường hợp này, tại sao? Liên quan đến việc tắm dưới nước đâu phải là điều đối nghịch lại với nguồn gốc pháp bất thiện đâu. V́ có điều chắc chắn là (những ǵ đối nghịch lại với điều ǵ đó2 chỉ triệt hạ nhau mà thôi; Như thể ánh sáng đẩy lùi bóng tối, trí tuệ xua tan vô minh; c̣n tắm trong nước đâu có đối nghịch với điều bất thiện. Chính v́ thế kết luận cần rút ra ở đây chính là “ Chẳng có điều ǵ được thanh tịnh bằng nước cả.” Thế rồi Ngài nói tiếp, “người nào chứng đắc chân đế” v.v…để chỉ rơ ư nghĩa nhờ chân đế đó ta mới được thanh tịnh. Về điểm này: nơi kẻ nào (yamhi): nơi con người nào đó [77] có chân đế (saccaṃ): xuất hiện chánh ngữ, nói sự thật và sự thật là cách kiềm chế tà ngữ)3 hay nói cách khác, nơi nào có điều chân thật (saccaṃ): vừa có cả điều chân thật dưới dạng trí tuệ và có điều chân thực theo ư nghĩa tuyệt đối. Phật Pháp (dhamma): Phật Pháp dưới dạng thánh đạo và Dhamma dưới dạng thánh quả do thánh đạo mang lại; nơi người nào toàn bộ những chân đế này được quán triệt nơi họ. Đó chính là người được thanh tịnh và ta gọi người đó thầy Bà la môn (so suci so ca brāhmao): một Bậc thánh nhân (ariyapuggala), đặc biệt vị nào đă đoạn tận các phiền năo nơi ḿnh, chính là người qua thanh tịnh trường kỳ[11] mới là2 người được thanh tịnh và cũng là thầy Bà la môn vậy. Nhưng tại sao, liên hệ đến vấn đề này, chân đế lại tách biệt khỏi Phật Pháp được? Liên quan đến một thực tế là chân đế chính là việc phục vụ vĩ đại vậy, thí dụ các giới đức chân đế xuất hiện nơi vô số các đoạn kinh Phật bằng cách cho rằng, “Chân đế chính là một từ bất tử.”3 (S i 189 = Sn 453 = Thag 1229) chắc hẳn chân đế chính là hương vị ngọt ngào nhất 4(Sn 182).“ Nơi chân đế, nơi mục tiêu và nơi Phật Pháp là giới thiện được thiết lập vững chắc.”5 (S I 189-Sn 453 = Thag 1229); và “đang khi các vị sa môn Bà la môn được thiết lập trong chân đế” (J v. 491) v.v… trong khi đó điều ǵ đi ngược lại với chân đế [12] lại được thể hiện bằng cách “đối với những kẻ nào sai phạm, kẻ nào thực hiện tà ngữ, kẻ nào chẳng hề thực hành bất kỳ pháp chân chánh nào 2 (Dhp 176) và “Kẻ nào đề cập đến những ǵ không bao giờ diễn ra sẽ phải chịu khổ trong hỏa ngục” (Dhp 306  =   45 = Sn661) v.v…

Phần chú giải Kinh Phật thứ chín kết thúc tại đây.


 

-ooOoo-


[1]. Titthaṃ;  chú giải chú thích trong Ud-a 338. 

2.  Be Se giải thích là Gayātitthassa; c̣n bản văn Ce lại bỏ sót.

3. Lokiyamahājano;  chú giải AA iii 2, v.v…

4. Chú giải Ce Be giải thích là pāpapavāhanatittha (Se pāpappavāhanatittha) c̣n bản văn ghi là pāpappavāhana

5. Một ngọn đồi tọa lạc gần Gayā, hiện nay được biết đến với tên là Brahmayoni và là một địa điểm hành hương quan trọng của người Hindus, từ ngọn đồi này người ta tin rằng có một suối nước ngầm (yoni) chảy ra cung cấp nước suối khoáng nóng Brahmakund cho vùng Rajgir (Rājagaha). Người ta cũng xác định đó là công viên Tapodā (về điểm này xin xem chú thích Ud-a 110).Cũng xin đọc thêm chú giải Pv-a 21 về ba vị ẩn sĩ để tóc búi thành Gayāsīsa.

           6. Piṭṭhipāsāo; một pāsāa đă được định rơ trong chú giải Vibh-a 64 là bất kỳ điều ǵ ta có thể nắm được bằng tay, nhưng lại không nhỏ hơn một con voi.

1. Hồi tưởng phải công nhận là mù mờ của tôi về cuộc viếng thăm ngọn đồi này cho thấy điều này có thể là một phóng đại quá đáng.

2. Chú giải giải thích là eko pabbato gayāsīsanāmako/yattha hatthikumbhasadiso piṭṭhipāsāo bhikkhusahassassa okāso pahoti c̣n bản văn Be lại ghi là eko pabbato gayāsīsanāmako, yattha hatthikumbhasadise piṭṭhipāsāe bhikkhusahassassa okāso padeso hoti, chú giải Se giải thích là eko pabbato gayāsīsanāmako yattha hatthikumbhasadise pīṭṭhipāsāe bhikkhusahassassa okāso hoti, c̣n bản văn Ce lại ghi là hatthikumbhasadise piṭṭhipāsāe bhikkhusahassassa okāso hoti.  

 

 3. Chú giải MA ii 48 về Trung Bộ Kinh (M) i 79 giải thích là: Māghamāsassa avasāne catasso Phaggunamāsassa ādimhi catasso ti eva ubhinnam antare aṭṭha rattī: và AA ii 225 về  Tăng Chi Bộ Kinh (A) i 136 giải thích là: Māghaphagguāna antare aṭṭhadivasaparimāo kālo. Māghassa hi avasāne cattāro divasā  Phagguassa ādimhi cattāro ti ayaṃ antaraṭṭhako ti vuccati. Woodward (GS i 119) lại giải thích sai giai đoạn tám ngày này như là nửa tháng không có trăng”, thế rồi ngài cũng (định sở cách cit n 7) lại xác định   

giai đoạn này là “một tuần lễ trước và sau ngày rằm” (tương tự như trong chú giải VofU 7 n 5). Theo Tự điển Bách Khoa Phật Giáo iii 605. Māgha vừa có thể là tháng chạp / tháng giêng hoặc tháng giêng/ tháng hai, cũng giống như tháng sáu v́ thángVesākhā lại rơi vào tháng tư / tháng năm, đó chính là các phật tử hiện đại vẫn mừng kính lễ. Điều này có thể khiến cho octad rơi vào cuối tháng hai/ đầu tháng ba, một tháng trể hơn như đă thấy đưa ra trong chú giải VofU 7 n 5.

1. Chú giải Ce Be Se giải thích là uppilavanti c̣n bản văn ghi là pilavanti. 

2.  Chú giải Ce Se giải thích là nimmujjanti.

3.  Chú giải Thanh Tịnh Đạo 395, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa đây là một đoạn tham khảo do Woodward đă cố ư đề cập đến trong chú giải Thanh Tịnh Đạo 195

 4. Chú giải Ce Be Se giải thích là karonti yeva, c̣n bản văn ghi là karonti. 

[4]. Chú giải Ce Be Se giải thích là assāse, c̣n bản văn ghi là assāsapassāse.

2. Chú giải  Ce Be Se giải thích là marupapātapatitā, c̣n bản văn ghi là pabbatapapātapatitā; nghĩa từ maru không được ghi trong tự điển PED (vấn đề này cũng được khẳng định sai v́ từ maru luôn đi kèm với từ kantāra), nhưng trong tự điển chú giải Childers sv, cũng như trong SED đều có ghi sv maruprapāta.

3. Chú giải Ce Be Se giải thích là hoti; c̣n bản văn lại bỏ sót.

4. Chú giải (Ce Se) Be giải thích là ummujjanani (m) mujjanāni, c̣n bản văn ghi là ummujjanāni.

5. Be giải thích là karontā, c̣n bản văn Ce Se ghi là karonti.  

[5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là muṇḍasikhaṇḍino, c̣n bản văn ghi là muñcasikhaṇḍino

2. Xin đọc chú giải S i 182tt; cũng như Vin i 196.

3. Bản văn chèn thêm pi; chú giải Ce Be Se lại bỏ sót.

4. Aggihutaṃ juhanti aggihutaṃ paricaranti; toàn bộ các bản văn cũng chú giải như vậy. PED và CPD không liệt kê bất kỳ mục từ nào dành cho từ aggihutaṃ (nhưng chú giải SED ghi agnihuta), hi lễ Agnihotra trong đó các đồ cúng được đổ trên Agni, hoả lễ được đốt ngay vào lúc một người được sanh ra và được tiếp tục duy tŕ (paricarati) trong suốt cả cuộc sống. Xin đọc chú giải Sn 428, p 79 v.v… Chú giải Ce giải thích là parijuhanti.

 5. Ce giải thích là dhūmadambhao, Be ghi là dhūmadabbhao, Se ghi là dhūmadabbhio c̣n bản văn ghi idhumadabba. Chú giải Be lại cho là “cỏ kusa thơm phức”. Chú giải Se lại cho là đă có thời kỳ được chú giải là idhumadabbi. Tôi đă chấp nhận ở đây thay thế cho tất cả các bản văn khác.

[6]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vediṃ c̣n bản văn ghi là vedindhanaṃ. 

2. Chú giải Be Se giải thích là suddhī ti, c̣n bản văn ghi là suddhi;  chú giải Ce lại bỏ sót suddhi iminā.

3.  Udakavāsa; hay ở gần ḍng nước.

4. Chú giải Be Se giải thích là anuparivattanti, c̣n bản văn Ce ghi là anuparivattenti. 

5. Hay hướng về những địa điểm như thể những ǵ sanh rồi diệt, nếu tác giả Dhammapāla lưu lư đến D i 240 ở đây.

6.  Chú giải Ce Be Se giải thích là keci; c̣n bản văn lại bỏ sót.

7. Chú giải Ce Be Se giải thích là sāvitti-ādike, c̣n bản văn ghi là suvatthi-ādike; chú giải Sn 568, trích dẫn trong Vin i 246; cũng như Sn 457 như đă được lưu ư đến trong B Disc iv 340 n. 3. Sn-a 403 khẳng định rằng kệ Phật giáo được coi như tương đương với nhịp thơ Phệ đà đó là tam qui y, c̣n từ sāvitī thường mang ư nghĩa một bài tụng Phệ đà ca ngợi mặt trời, cũng có tên là Gāyatī. Trong g Veda iii 62 10 do các vị Bà la môn tụng với mặt trời vào mỗi buổi sáng và buổi tối.

[7]. Chú giải Be giải thích là vijjāpapam avhāyanti, Se ghi là viccojasa avhāyanti, chú giải Ce visamucchājapa avhayanti, c̣n bản văn ghi là Viḍojasamavhayan ti, sau này phát hiện ra là hầu như chắc chắn ghi sai với từ Viḍojasam avhayanti (O.H Pind). chú giải SED, xem chữ sv Viḍojas, người ta khẳng định là một tên gọi dành cho Indra.

2. Ce Be Se giải thích là otarati, c̣n bản văn ghi là taranti. 

3. Chú giải  Ce Be Se giải thích là keci uttaranti; c̣n bản văn lại bỏ sót. 

4.  Rất có thể đây là việc xúc miệng.

5. Chú giải Se giải thích là sītagaddhitā dantavīṇaṃ, c̣n bản văn ghi là gāyanti vādayanti vīā vādenti, chú giải Ce giải thích là tantī vādenti vīā vādenti, chú giải Be giải thích là tantī vādenti vīa vādenti. Theo tự điển SED, từ dantavīā, là “răng vīā” là một từ dành cho việc răng lập cập; tôi đoán chừng gaddhita chính là một biến thể tiếng Thái về từ  gathita/gadhita.

[8]. Chú giải Ce Be Se giải thích là udakorohaādi asuddhimagge tesa suddhimaggaparāmasanaṃ, c̣n bản văn ghi là udakorohaādi asuddhimaggo tesa suddhimaggo ti, parāmasanaṃ.

2. Cũng như vậy đối với chú giải Ce Be Se; bản văn lại bỏ sót.

3. Chú giải Be Se giải thích là udakummujjanādi hi c̣n bản văn Ce ghi là udakummujjanādhīhi.

1. Uttarapadalopena; CPD, sv uttarapada, khẳng định rằng điều này có nghĩa là yếu tố cuối của một từ ghép, trong khi đó nghĩa đen là chính xác, nhưng lại xem ra có sự lẫn lộn. Rất có thể các từ ghép phải được giải quyết từ phải sang trái; khi yếu tố đầu tiên lại trở thành yếu tố cuối cùng được cứu xét đến.

2.  Ce Be Se  giải thích là suci, c̣n bản văn ghi là sucī pi tassa 

3.  Sādhana

4.  Bản văn Ce chèn thêm ti ở đây; c̣n chú giải Be Se lại bỏ sót.

5. Chú giải Ce Be Se giải thích là udake, c̣n bản văn ghi là udake-nahānena.

[10]. Chú giải Ce Be Se giải thích là mātughātādipāpakammakārī, c̣n  bản văn ghi là mātughātādipāpadhammakādi; rất có thể đây là một tham khảo về năm nghiệp vô gián, về tội giết mẹ, giết cha hay một vị A-la-hán, làm chảy máu một vị Như lai, và gây chia rẽ nơi Tăng đoàn. Xin đọc Tăng Chi Bộ Kinh (A) iii 146 

2. Ce Be Se giải thích là yaṃ hi yaṃ, c̣n bản văn ghi là yaṃ hi

3. Chú giải Be giải thích là vacīsaccañ ’eva viratisaccañ ca (Ce Se ghi vacīsaccañ ca viratisaccañ ca) c̣n bản văn ghi là vacīsacca viratisacca vā; nhờ vào “chân đế chính là kiêng cữ” rất có thể chúng ta phải hiểu rằng đó chính là giới thứ tư, hay là chính chánh ngữ (về vấn đề này xin đọc Ud-a 147 dưới đây)

[11]. Accanta; hay là tuyệt đối.

2. Chú giải Be Se giải thích là suci ca, c̣n bản văn cũng ghi là suci so, Ce cũng ghi là sucī ca. 

3. Chú giải Be Se giải thích là sacca ve amatā vācā; c̣n bản văn Ce lại bỏ sót. Như đă vạch ra trong GD ii 232. Sn-a 399 về Sn 453 cho phép chúng ta lựa chọn amatā ở đây có nghĩa hoặc là “tương xứng với thần ’ hay là “thoát khỏi cảnh chết”. 

4. Chú giải Be Se Sn182 giải thích là sacca have sādutara rasāna, c̣n bản văn ghi là sacca ’eva sādutara, Ce ghi là saccaṃ have sādutaraṃ

 5. Chú giải EV i 292 và GD ii 232 về nhiều t́nh huống nhập nhằng của đoạn kệ này.

[12]. Chú giải Ce Be Se giải thích là saccavipariyassa, c̣n bản văn ghi là saccavipariyāyassa, Childers, PED và SED đă không ghi bất kỳ mục từ với từ vipariya, nếu không là từ viết tắt của vi + pariya (Chú giải PED từ sv pariya.) có nghĩa là điều ǵ đó giống như “không thể hiểu hết được chân đế”

2. Ekaṃ dahmmaṃ; chú giải Dhp-a iii 182; eka dhamman ti sacca; musāvadissā ti yassa dasasu vacanesu ekam pi sacca ’atthi evarūpassa musāvādino.