|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
4. CÁC CHÀNG THANH NIÊN Trong Kinh Phật thứ tư: các chàng thanh niên (kumārakā): những thanh niên trẻ tuổi. Chính những người đó có thể nói rơ ư nghĩa những ǵ được đề cập đến một cách tốt lành khác với những ǵ được đề cập đến một cách thiếu chính xác, trong trường hợp này, điều đó ám chỉ là “những thanh niên trẻ tuổi”. V́ những người này được gọi là[1] “người trẻ” và những“trẻ nít” kể từ ngày được sanh ra cho đến tuổi mười lăm, những “người trẻ” là từ tuổi hai mươi trở lên. Bắt cá nhỏ (macchake bādhenti): là vừa[2] bắt vừa giết những con cá nhỏ, nghĩ rằng họ có thể ăn sau khi được nấu lên, bằng cách tát cạn [3] nước c̣n lại[4] trong hố sâu nơi các đầm lầy trong vùng tiếp cận với cống dẫn nước vào mùa khô, đă cạn hết nước. Tiến lại gần (’upasaṅkami): đứng ở bên kia bờ hồ[5] cách con đường một khoảng cách nhỏ: chính v́ thế ngài nói, “tiến lại gần”. Hơn thế nữa,[6] ngài đă tiến lại gặp những đứa trẻ để có thể tạo niềm tin cho chúng[7] (nơi chính ngài). Đă tỏ ra sợ hăi. (bhāyatha vo): liên quan đến vấn đề này từ vo (không được dịch) chỉ là một tiểu từ. Thuộc dukkha (đau khổ) (dukkhassa) là sở hữu cách hiểu theo nghĩa xuất xứ cách, có nghĩa là thông qua đau khổ (dukkhasmā). Liệu đau khổ gây khó chịu cho nhà ngươi chăng (appiyaṃ vo dukkhaṃ): ngài nêu câu hỏi phải chăng đau khổ như vậy có gây khó chịu và phiền hà cho thân xác họ chăng? Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): [295] thẩm tra lại toàn bộ vấn đề này, tức là. những chúng sanh đó, cho dù ở chỗ riêng tư không ước ao đau khổ cho chính ḿnh, nhưng thực chất trong thực tế lại là nhân duyên gây ra đau khổ đó, những người đó nơi chỗ riêng tư lại khoác lấy đau khổ cho chính ḿnh. Phật Tự Thuyết này,(imaṃ udānaṃ): khiến Phật tự thuyết này nổi lên nhằm ngăn cản những cá nhân chúng sanh đó khỏi hành vi bất thiện và giải thích nguy cơ (nơi các hành vi đó). Đây chính là ư nghĩa[8] của Phật Tự Thuyết này. Nếu như đau khổ này liên kết với khổ cảnh và điều đó lại chấp nhận những cách phân loại như tuổi thọ ngắn nơi nhàn cảnh và nơi nhân loại v.v… quả thật là điều hoàn toàn khó chịu, không đáng ước ao đối với chúng sanh vậy, Nếu như chúng sanh tỏ ra sợ hăi điều đó. Không nên thực hiện (mākattha = mākarittha, là một dạng ngữ pháp khác), ngay cả chỉ ở mức độ nhỏ bằng một nguyên tử mà thôi, đă là điều bất thiện, là những ǵ mang bản chất[9] ti tiện hèn hạ, hoặc một cách công khai, bằng cách thực hiện, do thân hay khẩu không thể che dấu v́ đă quá rơ ràng và mọi người đều biết. Điều đó lại chấp nhận cách phân loại thành sát hại chúng sanh v.v… hoặc bằng cách che dấu, chỉ hiện hữu trong ư môn mà thôi, bằng cách che dấu do không làm rơ cho phần lớn chúng sanh biết, điều chấp nhận phân loại thành tham ác v.v… hơn thế nữa, đang khi (nếu) nhà ngươi thực hiện hành vi bất thiện ngay lúc này, hay (nếu như) nhà ngươi tiếp tục thực hiện hành vi nào đó trong tương lai. Thế rồi điều sẽ xảy đến cho các ngươi, ngay cả khi các ngươi tác ư[10] hay cố ư [11]chạy trốn,[12] với tác ư muốn nói,[13] đau khổ chỉ thấy trong hoả ngục mà thôi v.v…trong bốn khổ cảnh và nơi nhân loại tạo thành kết quả trong đó sẽ không thể theo đuổi nhà ngươi khi chạy trốn theo hướng này hướng nọ, không giải thoát, không có tự do, cũng xuất phát từ đó mà ra. Ngài làm rơ điều đó vẫn c̣n dị thục[14] khi vẫn c̣n vương vấn đến nhiều điều kiện cần thiết, như sanh thú[15] và thời gian v.v… Ở đây cũng được giải thích là palāyane[16] (khi đă chạy trốn) ư nghĩa ở đây là một khi việc chạy trốn, lên đường đi đến bất kỳ nơi nào, theo cách đă được đề cập đến ở trên và thực chất này lại được giải thích bằng đoạn kệ sau đây: “Chẳng phải trên trời, hay ở giữa đại dương (cũng chẳng phải có người nào chui vào vách núi là một vùng trên mặt đất này, lưu lại trong đó mà ta có thể chạy thoát[17] khỏi các hành vi bất thiện” (Dhp 127) Việc chú giải Kinh Phật thứ tư đến đây là kết thúc.
-ooOoo-
[1]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vuccanti c̣n bản văn ghi là pavuccanti. [2]. Chú giải Ce Be Se giải thích là ’ eva c̣n bản văn ghi là yeva. [3]. Ce Be Se giải thích là ussiñcitvā c̣n bản văn ghi là ussiñcitvā ussiñcitvā. [4]. Be Se giải thích là ṭhitaṃ c̣n bản văn Ce ghi là taṃ. [5]. Chú giải Ce Be Se giải thích là taḷākaṃ atikkamitvā c̣n bản văn ghi là apakkamitvā. [6]. Chú giải Be giải thích là Kasmā pana upasaṅkami? Te kumārake (nhưng tại sao ngài lại tiến đến gặp họ? Ngài tiến đến gặp những chàng trai trẻ đó) bản văn Ce Se ghi là Te pana kumārake. [7]. Xin đọc chú giải Ud-a 274 ở trên. [8]. Về những ǵ diễn ra tiếp theo sau đó, xin cũng đọc thêm chú giải Pv-a 103tt. [9]. Chú giải Be giải thích là lāmakadhammaṃ c̣n bản văn Ce Se ghi là lāmakakammaṃ, điều đó quả là một hành vi ti tiện đáng khinh bỉ. [10]. Như đă lưu ư trong tập Ud, các đoạn kệ tương tự như những đoạn hiện hữu được t́m thấy ở nơi khác. Các bản văn và chú giải về các đoạn kệ đó h́nh như được phân thành upecca hay uppacca là cách giải thích tuỳ ư. Vấn đề có thể tóm tắt ngắn gọn như sau: SA i 307 giải thích là uppacca trong tập chú giải S i 209 là uppatitvā, sace sakuṇo viya uppatitvā, nhưng lại lờ đi từ vl upecca trong tập chú giải S. Ud-a 295 ở đây, mặt khác lại giải thích upecca là sañcicca (trừ ra chú giải Be thay vào đó có giải thích là apecca). Chú giải Thīg-a về Thīg 248 lại phối hợp cả hai cách giải thích lại với nhau, trước tiên là giải thích upecca là sañcicca, nhưng rồi lại thêm một cách giải thích khác từ uppacca (giải thích với SA) là uppatitvā; trong khi đó từ đối nghĩa chính xác phải được t́m thấy trong chú giải Pv-a 103 (về Pv II 717) trong đó từ uppacca được chọn làm cách giải thích đầu tiên và được giải thích theo cùng một cách như trong SA, với từ upecca được chọn làm một cách giải thích khác, rồi được giải thích tiếp theo sau những hàng trong chú giải Ud-a và Thīg-a. Về vấn đề này ta cũng có thể thêm cách giải thích upecca trong Vv-a 146 (về Vv III 57 ) bằng các từ cetetvā, pakappetvā ti attho. Để biết thêm chi tiết xin cũng đọc EV ii 109 chú giải về Thig-a 248 (trong đó “UvA 295” có lẽ là một sai lầm trong văn cảnh hiện hữu) [11]. Chú giải Be giải thích là apecca c̣n bản văn Ce Se ghi là sañcicca, tuy nhiên đây là điều hơi khó đề ḥa giải được với thực tế là, như ta lưu ư trong tập Ud, Ud (Be) đang khi giải thích là upeccapi, lại thêm vào một chú thích là uppeccapi uppatitvā iti attho. [12]. Ce Be Se và Ud giải thích palāyatam pi c̣n bản văn ghi palāyantānam pi. [13]. Adhippāyena; hay có thể với ư định, trong niềm hy vọng, với ước muốn, v.v… [14]. Chú giải Be giải thích là vipaccissati c̣n bản văn Se ghi là vipaccati, Ce ghi là paccati. [15]. Gati; có nghĩa là, như trong chú giải Ud-a 97 ở trên, là một hay nhiều trong số năm sanh thú tạo thành qui tŕnh tái sanh. [16]. Chú giải Ce Be Se cũng giải thích giống như vậy c̣n bản văn ghi là palāyante; ngài Woodward không chấp nhận cách giải thích này ngài c̣n đồng ư với những ǵ Steinthal (rất có thể là chính xác) đă trích “với ngạc nhiên”. [17]. Chú giải Ce Be Se đă tóm tắt lại; bản văn lại cho in đoạn kệ này, cũng đă được trích dẫn trong chú giải Ud-a 262 đầy đủ chi tiết ở trên. |
|