|
Bản Tiếng Pāli: Ācariya DhammapālaBản Anh Ngữ : Peter Masefield Dịch giả: Tỳ Khưu Siêu Minh PL. 2551 - DL. 2007 |
|
|
2. BỊ PHÂN TÂM (phóng dật) Trong Kinh Phật thứ hai: Tại Kusinārā (Kusinārāyaṃ): trong thành phố thuộc các vị vua Mallas có tên là Kusinārā[1]. Trong khu rừng Upavattana, cánh rừng sāla thuộc các vị vua Mallas (Upavattane Mallānaṃ sālavane): V́[2]giống như công viên Thūpārāma thuộc vua Anurādhapura, công viên trong thành phố Kusinārā[3] tọa lạc tại về phía tây nam. V́ lối dẫn vào thành phố từ phía công viên Thūpārāma[4] qua cổng phía nam quay về hướng bắc, sau khi đă đi dọc theo con đường dẫn về hướng đông, cũng như vậy các hàng cây salas từ công viên cũng quay về hướng bắc, sau khi đă đi dọc theo con đường hướng về phía đông[5], do đó ta gọi đó là khu rừng “Upavattana.[6]” Trong khu rừng Upavattana đó, cũng có khu rừng sala thuộc các vị vua Mallas. Trong căn cḥi toạ lạc trong rừng (araññakuṭikāyaṃ): căn cḥi được xây cất ở vị trí có cây xanh và lùm cây[7] che phủ không xa các hàng cây salas là mấy. Liên quan đến vấn đề này có lời nói rằng “họ đang lưu lại[8] trong căn cḥi trong rừng.” Tuy nhiên trong số các vị Tỳ khưu đó, vị nào nhập thiền cận hành định đều vắng mặt, chính v́ lư do đó có lời nói rằng “Phân tâm phóng dật[9]”v.v…là như vậy, về điểm này. Họ[10] đang phải “phân tâm phóng dật” do tâm bất ổn liên quan đến quá nhiều[11] điều phân tâm phóng dật[12] đang diễn ra. V́ tính tự phụ, giống như một đám lau sậy (naḷa) chính v́ đặc tính trống rỗng, nên được gọi là naḷa; đó chính là những “chỗ trũng” (unnaḷā [13]) v́ đám lau sậy đó là những cây có các luồng hơi phụt lên[14] ta gọi (uggato) naḷa, là thứ được gọi đó là kiêu mạn, có nghĩa là chúng là những loại cây có hơi phụt lên, không kiêu mạn. Ta gọi đó là “kiêu kỳ, kiểu cách” liên quan đến thực chất có đặc tính kiêu kỳ sẵn có, kiểu cách chính là cách trang điểm bằng bát khất thực và y cà sa v.v…[15]hay nói cách khác, đó là đặc tính kiêu kỳ, kiểu cách[16] của họ. Họ có giọng nói “khàn khàn” (mukharā) v́ từ miệng (mukhena) họ thốt ra tiếng rít ken két do giọng nói của họ thật khó nghe[17]. Họ đưa ra những “lời nói rải rác” (vikiṇṇavācā [18]) đó đây gây phiền toái (vācā) do có rất nhiều câu[19] chuyện tầm phào[20]. Họ thất niệm” v́ đối với họ chánh niệm quả là một việc làm nhạt nhẽo vô bổ, đă bị phai tàn lâu rồi, ư nghĩa ở đây: họ là các vị Tỳ khưu thiếu hẳn việc chánh niệm nội tâm, họ là những người đang rơi vào pháp lười biếng xao lăng. Họ tỏ ra “lơi là, lơ đễnh” do t́nh trạng họ thiếu “việc tập trung chú ư” dưới bất kỳ h́nh thức nào có thể.[21] [239] Họ tỏ ra không tập trung chú ư v́ họ không có khả năng làm điều đó được do chẳng c̣n chút tâm nào để tập trung tư duy được nữa, ngay chỉ trong một khoảng khắc ngắn ngủi như việc kéo ḅ con ra khỏi vú mẹ[22]tâm của họ lại “phóng túng khắp nơi” giống như con nai[23] phóng nhanh vào trong rừng, do bản chất của các vị là tham lam, ái dục các vị có “các căn (khả năng) rất dễ phát hiện” qua việc thể hiện bản chất các khả năng đó không được thu thúc pḥng hộ[24] do đến việc họ không thu thúc được các căn (khả năng) coi tâm họ chỉ là điều thứ sáu. Thẩm định vấn đề này (etam atthaṃ viditvā): biết rơ được việc các ngài đang an trú trong pháp dễ duôi này, do tính phân tâm v.v… về phía các vị Tỳ khưu đó. Đối với Phật Tự Thuyết này (imaṃ udānaṃ): đă khiến khởi sanh Phật Tự Thuyết này nhằm giải thích những nguy hiểm và lợi thế khi đang lưu lại nơi pháp dễ duôi tương ứng. Về điểm này. Không được canh giữ (arakkhitena): không được canh pḥng cẩn mật (aguttena) do lính gác không có mặt đó chính là chánh niệm. Do đó là kết quả của thân (kāyena): do kết quả của thân bao gồm sáu loại thức[25] - v́ đây là kết quả khởi sanh tham dục v.v… đang khi phải thấy một cảnh sắc qua nhăn thức[26] ngay khi vừa có được h́nh dáng chung chung và chi tiết về vấn đề này (người đó phải bị Ma vương khống chế) do các môn tâm thuộc dạng đó lại không được canh pḥng cẩn mật bằng cách chánh niệm. Phương pháp này cũng được áp dụng trong trường hợp nhĩ thức v.v… chính v́ thế liên quan đến pháp không được canh pḥng cẩn mật nơi thân xác bao gồm sáu thức mà Đức Phật cho rằng: “Do thân không được canh pḥng cẩn mật.” Tuy nhiên một số lại khẳng định ư nghĩa là kāyena chính là do kết quả của thân (? per se); (tuy nhiên) chánh niệm phải được phân tích (thêm nữa) ngay cả đối với họ, do việc phân tích ư nghĩa của họ theo cách đă được khẳng định. Một số người khác[27] lại giải thích[28] là ārakkhitena cittena (do kết quả tâm không được canh pḥng cẩn mật); tuy nhiên ư nghĩa, ngay cả đối với họ, vẫn giống hệt như cách thức đă được khẳng định ở trên. Do kết quả bị tà kiến bóp chết (micchādiṭṭhihatena [29]) : kết quả là do ô uế [30] gắn kết với những tà kiến như trong thường kiến v.v…do kết quả đă vượt thắng hôn trầm và thụy miên (thīnamiddhābhibhūtena [31]) do kết quả đă bị thụy miên nhận ch́m mà đặc tướng chính là điều miễn cưỡng về phía thân [32] là mối tương quan với kāyena đó (do kết quả thân xác), hay nói cách khác với cittena (là kết quả tâm[33]). Một người phải bị ma vương khống chế (vasaṃ Mārassa gacchati): một người đă bị Ma Vương khống chế [34] . Bắt đầu với các phiền năo ma vương v.v…[35] (có nghĩa là) ngài bắt buộc phải hành động theo như ước muốn của ḿnh, có nghĩa là người đó không thể vượt khỏi lănh vực ma vương khống chế. V́ thế sau khi đă thông qua đoạn kệ này để làm rơ qui tŕnh mở đầu với cách khiển trách những vị Tỳ khưu đang phải lưu lại trong t́nh trạng dễ duôi, Đức Phật đă nói, “Tâm của họ hoàn toàn không được canh pḥng cẩn mật do thiếu người canh gác đó chính là chánh niệm, những người đó đang trong ṿng ác cảm[36] cố chấp, bằng cách cho rằng đó là vĩnh cửu v.v… là kết quả do trít[37] thiếu phương pháp, do thiếu trí tuệ là điều tạo ra nguyên nhân do không khéo tác ư vậy. Do thiếu vắng tinh tấn khởi sanh trong lúc làm việc thiện, liên quan[38] t́nh trạng không thể ngóc đầu khỏi ṿng luân hồi.” Tiếp theo đó ngài thốt lên đoạn kệ thứ nh́ giải thích rằng, “Chính v́ thế tâm của ta phải được canh pḥng cẩn mật” để giúp giải thích rơ không c̣n ṿng luân hồi vậy. Về điểm này: Chính v́ thế ta phải là những người có tâm luôn được canh pḥng cẩn mật (tasmā’ assa) : v́ người nào có tâm không được canh pḥng cẩn mật, giống như người bị buộc phải hành động theo ước muốn Ma Vương, vẫn c̣n phải lưu lại trong ṿng luân hồi. Chính v́ thế chúng ta phải trở thành những người có tâm được canh pḥng cẩn mật, bằng việc canh giữ cẩn thận, khoá kỹ lại các khả năng ư quyền được coi là điều thứ sáu vậy, với thu thúc chính là việc chánh niệm. V́ khi tâm được canh pḥng cẩn mật [240] th́ các khả năng (căn) như nhăn căn v.v…cũng được canh pḥng như vậy. Người nào có hành xứ (pasturage) là chánh tư duy (sammāsaṅkappagocaro): v́ một khi người nào có hành xứ (pasturage) lại tà tư duy, bằng cách nắm vững nhiều tà kiến đa dạng về cách giải thoát thiếu phương pháp cách này cách khác[39] người đó đă buộc phải hành động theo những thèm muốn MaVương do tâm người đó đă bị tà kiến bóp hết, chính v́ thế, đang khi ta khéo tác ư vào lúc thực hiện công việc của ḿnh, chúng ta nên trở thành người có hành xứ (pasturage) lại là chánh tư duy dưới dạng giải thoát liên quan đến ly dục v.v…[40] chúng ta chỉ nên thực hiện chánh tư duy liên kết với thiền jhanas v.v… mà thôi tại vị trí tâm khởi sanh. Đối với người nào đă đề cao chánh kiến trước (sammādiṭṭhipurekkhāro): Nơi người nào tà kiến đă bị lung lay[41]do hành xứ (pasturage) của ḿnh lại chính là chánh tư duy (deliberation), sau khi đă biết chắc sanh và diệt, sau khi đă thiền chứng trí về sanh và diệt, khi ta có trạch pháp khởi sanh và diệt liên quan đến ngũ thủ uẩn lại gồm năm mươi cách[42] trong đó, khi ta hiểu rơ các hành (formattions) sau khi đă bắt đầu nhập thiền minh sát giống như người trước đó đă am hiểu về giới (morality) và chánh niệm[43] theo cách đă được khẳng định trước đó. Khi ta đă chọn ưu tiên[44] trước bất kỳ điều ǵ khác, chánh kiến có pháp là (trít rơ) hành động của ta chỉ thuộc về ta[45] mà thôi và đặc (tướng) do pháp lại hoàn toàn giống nhau, đó chính là trí về pháp cũng chính là pháp đó, sau khi[46] đă hăng hái tu luyện nhập thiền minh sát bằng cách tuỳ quán về đoạn diệt v.v…[47] - Mong rằng vị Tỳ khưu đó, là người chiến thắng hôn trầm và thụy miên Chính v́ thế mong rằng [48] vị Tỳ khưu đó đă diệt trừ hết các phiền năo nội tâm, đă bẻ gẫy (bhinnakileso) các phiền năo một cách toàn diện. Trước tiên liên quan đến việc diệt trừ các phiền năo đă được diệt trừ bằng các thánh đạo[49] thấp và diệt trừ, do đă diệt trừ đến tận gốc rễ qua thánh đạo được ngài đắc chứng diệt trừ hết hôn trầm và thụy miên trong tâm khởi sanh liên quan đến hôn trầm và thụy miên đi kèm với tham lam nhưng lại không đi kèm với tà kiến[50] - cũng như tự phụ kiêu mạn v.v…đă liên kết với hôn trầm và thụy miên đó, diệt trừ (forsake) các căn nhân tái sanh sau khi đă diệt trừ hoàn toàn, toàn bộ những khổ cảnh được cho là các sanh thú, do liên kết với ba loại đau khổ [51], ư nghĩa ở đây là mong rằng ngài (vị Tỳ khưu) được thiết lập[52] nơi những điều tột đỉnh đối nghịch lại với chúng[53] (những phiền năo đó), nơi Níp Bàn vậy. Việc giải thích Kinh Phật thứ hai đă kết thúc tại đây.
-ooOoo-
[1]. Là nơi Đức Phật vô dư Níp bàn – chú giải Ud-a 402 dưới đây. [2]. Điều diễn ra tiếp theo sau đó cũng được phát hiện thấy trong DA 573 và SA i 222. [3]. Chú giải Be Se DA giải thích là Kusinārāya (sở hữu cách) c̣n bản văn Ce SA ghi Kusinārāyaṃ (định sở cách), công viên trong thành phố Kusinārā ; tuy nhiên thuộc cách được lựa chọn để phản ảnh rơ Anurādhapurassa trong mệnh đề tiếp theo dưới đây. [4]. Điện thờ được xây cất tại Anurādhapura để trưng bầy di vật cổ được thu hồi tại Sri Lanka do con trai nhà vua Asoka, tên là Mahinda thực hiện.
[5]. DPPN i
399 cho rằng (h́nh như sai): “hàng cây sāla trải dài từ hướng
nam sang hướng đông và rồi tiếp tục trải về hướng bắc ‘giống
như con đường chính trong thành phố Anurā’). Vị trí địa lư của
vùng này được ghi lại như sau: Tuy nhiên điều này hoàn toàn đi ngược lại với cách tường thuật được đưa ra trong tác phẩm Thūpavaṃsa và Mahāvaṃsa. Trong tác phẩm thứ nhất ta biết được rằng trước khu bảo tháp được xây dựng, có một con voi đă mang di cốt xương cổ vào thành theo cách sau đây: Atha so hatthināgo pacchimadisābhimukho hutvā apasakkanto yāva nagarassa puratthimadvāraṃ tāva gantvā puratthimena dvārena nagaraṃ pavisitvā dakkhiṇadvārena nikkhamitvā Thūpārāmābhimukho eva paṭinivatti (Thūpavaṃsa 199) và Jayawickrama giải thích là: “Thế rồi chú voi kiêu ngạo này đă đi tới hướng Tây từ phía cổng hướng đông, từ phía cổng hướng nam đi tới một nơi được gọi là Pabhejavatthu (Thánh điện dạ xoa Maheja. (Chronicle, 66 n 2) đứng lại ở phía tây Bảo tháp Thūpārāma, rồi quay quanh một ṿng hướng về chính Bảo Tháp Thūpārāma” (Jayawickrama. Chornicle Thūpa, tr. 66). Có điều không rơ ràng là tại sao động từ apasakkanto ở đây lại được giải thích là “bước lui lại” (một ư nghĩa chưa được cả hai cuốn tự điển PED hay CPD xác nhận) có điều rơ ràng là v́ bất kỳ con voi nào hướng về phía tây và “bước lui lại thực chất cũng sẽ đi về hướng đông; và chính v́ thế nó có thể rời khỏi thành phố từ cổng phía đông, hơn là đi vào thành phố từ cùng một hướng đó; động từ Apasakkanto nên được hiểu theo một nghĩa thường được sử dụng đó là bước sang một bên (?bước sang một bên, quay đầu về phía bên trái. (= hướng về phía tây) khi
Tuy nhiên cũng nên lưu ư là các bài tường thuật này h́nh như muốn xác định vị trí Bảo Tháp Thūpārāma nằm tại khu vực đông nam thành phố, hơn là trong khu vực tây nam, điều này không những chỉ ngược lại với tác giả Dhammapāla, nhưng c̣n ngược lại với rất nhiều ṭa nhà trong thành phố Anurādhapura trên bản đồ t́m thấy trong tự điển bách khoa Phật Giáo i 756. cùng với Dhammapāla đă định vị được bảo tháp Thūpārāma nằm về hướng tây nam. C̣n tham khảo về “Cây Bồ Đề” trong câu chuyện Mahāvaṃsa rơ ràng ám chỉ một điểm như vậy đă được xác định một lần (chú giải bản dịch Geiger tr. 119 đoạn kệ 40) chuyện kể này đă trở thành đề tài của nhiều chương tiếp theo sau này. [6]. Có rất ít nghi ngờ rằng ở đây Upavattana được coi như là tên của toàn bộ cánh rừng, cũng giống như điều Jayawickrama (Inception 3) đă chủ trương; tuy nhiên Woodward (VofU 45) cũng có một câu tương tự như vậy như sau: Kusinārāyaṃ Upavattane Mallānaṃ sālavane, h́nh như để ám chỉ một địa điểm đặc biệt trong cánh rừng đó, tức là. “ tại khúc cua, trong cánh rừng Sāl thuộc vùng Mallas” cũng như Ireland đă cho rằng: “Tại khu Upavattana trong khu rừng Sāl thuộc sở hữu của những người Mallas” (tr. 56), và Ñāṇamoli cũng cho rằng: khu rừng cây Sālā thuộc sở hữu của người Mallas tại khúc quanh vào thành Kusinārā.” (MR&I 96), mọi người đều cho là như vậy, theo cách AA iii 107 đă giải thích là: Upavattane ti pācīnagatāya sālapantiyā uttarena nivattitvā ṭhitāya vemajjhaṭṭhāne. Chú giải BHSD, sv upavartana, trong một cuộc bàn cải dài ḍng, đă khẳng định rằng từ upavartana “chỉ thấy diễn ra ở tiếng Pāli và BHS liên quan đến nơi Níp bàn của Đức Phật” như vậy đă bỏ xót biến cho hiện hữu, không có lư do ǵ để cho rằng biến cố đó xảy ra lại có liên quan ǵ đến vô dư níp bàn cả. [7]. Ce Se giải thích là osañchanne ṭhāne (Be osañchannaṭṭhāne) c̣n bản văn ghi là osañchinne ṭhāna; gaccha, là bụi cây, được định nghĩa trong Thanh Tịnh Đạo 183. [8]. Bản văn Ce Be giải thích là viharati, số ít, Se (và Ud) ghi là viharanti; xin cũng đọc chú thích trong Ud . [9]. Bản văn giải thích là uddhaṭā. Ce Be Se Ud giải thích là uddhatā. [10]. Điều được chú giải tiếp theo có thể được cũng như vậy chú giải so sánh với những cách giải thích tương tự trong MA i 152, SA i 115, iii 257, AA ii 143 (không phải AA ii 43 như đă khẳng định trong SA iii 257 n 4) và Pugg-a (JPṭS 1913) tr. 217 (không phải 152 như đă được khẳng định trong SA i 115 n 1) [11]. Bahulattā; hay liên quan đến điều được đưa ra, được ưa thích, v.v… [12]. Xin đọc chú giải MA i 116 ≠ SA iii 257; uddhaccena hi ekārammaṇe cittaṃ vipphandati, dhajayaṭṭhiyaṃ vātena paṭāka viya – đối với tâm, liên quan đến phóng dật, nói huyên thuyên về một đối tượng duy nhất giống như những lá cờ, liên quan đến gió, trên cột cờ vậy. [13]. Thường được coi như là (td. BHSD sv unnaḍa) một dạng thổ ngữ unnata, kiêu căng; xin cũng đọc Ud-a 144 ở trên: (những con người trên thế giới này) tỏ ra kiêu căng bằng bảy loại kiêu mạn (sattahi mānehi unnato) [14]. Nghĩa đen là nổi lên, trổi dậy, kiêu kỳ v.v… và như vậy có lẽ cũng c̣n “kiêu căng nữa” [15]. Cách ám chỉ về Vibh 351. [16]. Bahukatāya; Be ghi lại một mục từ Khmer vl lahukatāya, có nghĩa là phù phiếm cũng có ư nghĩa rất đúng. [17]. Chú giải Ce Be Se giải thích là pharusavācatāya c̣n bản văn ghi là pharusavācanāya: chú giải Ud-a 340. [18]. Có thể, tự do hơn “với miệng lưỡi bông đùa” từ tương đương là “đăng trí, mau quên”. Xin đọc chú giải MA i 152 = SA i 115 = iii 257 ≠ AA ii 143: asaṃyatavacanā divasam pi niratthaka-vacanapalāpino – những người nào ăn nói bừa băi, những người đó chỉ nói chuyện tầm phào suốt cả ngày. [19]. Bahulatāya; hay là liên quan đến việc đưa ra trước đó, thích thú… [20]. Xin đọc chú giải Ud-a 106 ở trên. [21]. MA i 117 coi asampajānā (tỉnh giác) là paññā (vi) rahitā, những người đó có tuệ giác chỉ là ước muốn, thêm vào với chánh niệm là hai điều liên kết với tuệ giác, lại mạnh mẽ, và lại không liên kết với cùng một thứ, tỏ ra yếu ớt và ngay cả khi những người như vậy nhập chánh niệm, th́ đó chỉ là thất niệm mà thôi. do không tỉnh giác được, cũng xin đọc chú giải SA ii 142 ≠ It-a ii 114, giống như cá nhân các con quạ đă từ bỏ bữa ăn hay một con sói, con chó từ bỏ miếng thịt của ḿnh. [22]. Gaddūhanamattam pi kālaṃ; xin đọc chú giải MLS iii 173 n 1; KS ii 177 n 1; MQ i 154. [23]. Miga; hay là một con vật hoang; AA i 369 = Pugg-a 217 giải thích là bhantagāvībhantamigasappaṭibhago, giống như một con ḅ chạy như bay (chú giải Vv-a 106) hay là một con nai phóng như bay, Nhưng SA i 115 ghi là panthārūḷhavāḷamigasadisā, giống như một con vật hoang tránh được tai họa trên đường đi – xin cũng đọc SA ii 302 n 7. Rất có thể, đây chỉ là cách ám chỉ Thag 109 mà thôi. [24]. Giống như một chủ nhà đang nh́n ngắm các đứa con trai và con gái của ḿnh. [25]. Chú giải D iii 243; DA 1034 giải thích kāya (thân xác) ở đây là samūha, là tập hợp và khẳng định rằng nhăn thức cũng chính là tâm vậy; dựa trên thần kinh nhăn (cakkhupasāda – chú giải Ud-a 73 ở trên) tâm dị thục đó lại thuộc loại thiện hay bất thiện. [26]. Cách ám chỉ D i 70. Trung Bộ Kinh (M) i 180 (trích trong Thanh Tịnh Đạo 15tt). S iv 104 v.v…; xem Dhs 1345, Asl 400, Dial i 80 n 1 [27]. Cũng như Nett 85. [28]. Be giải thích là paṭhanti c̣n bản văn ghi là pavadanti, Ce Se vadanti. [29]. Chú giải Ce Be Se giải thích như vậy c̣n bản văn ghi là micchādiṭṭhigatena, tại điểm này và cả ở dưới đây nữa; xin đọc chú giải Ud [30]. Chú giải Ce Be Se giải thích là odūsitena c̣n bản văn ghi là obhūtena. [31]. Chú giải Be giải thích là thinao; xin đọc chú giải Ud [32]. Chú giải Dhs 1156tt và Asl 377. [33]. Các tập chú giải khác cũng giải thích giống như vậy. [34]. Chú giải Ce Be Se giải thích là vasaṃ; c̣n bản văn lại bỏ qua. [35]. Chú giải Ud-a 216 ở trên. [36]. Chú giải Ce Be (Se) giải thích là vipariyesa (g) gāhino c̣n bản văn ghi là vipariyāsagāhino; trong Ud-a 139 ở trên lại cho là gồm có bốn loại. Và được xác định trong Asl 253, với bốn cách bóp méo sự thật, về điểm này xin đọc Ud-a 157 ở trên. [37]. Ummujjanena; h́nh như đây là từ đồng nghĩa với tuệ giác (paññā) trong AA iii 163. không thấy liệt kê nghĩa này trong tự điển PED. [38]. Kusalakiriyāya; nhằm mục tiêu thực hiện điều thiện. [39] Be Se giải thích là tathā tathā c̣n bản văn Ce ghi là tathā. [40]. Chánh tư duy (hay một đại nguyện) tạo thành thánh đạo thứ nh́ trong bát thánh đạo. Được định nghĩa trong D ii 312 là quyết tâm có liên quan đến ly dục, vô sân và bất hại. Như vậy đây là yếu tố đối nghịch lại với ba tư duy đă tạo ra Meghiya trong Ud-a 219 ở trên. [41]. Vidhūta; không được liệt kê trong tự điển Childers hay PED. [42]. Năm mươi điều bao gồm nhận ra sanh và diệt nơi từng ngũ uẩn xuất phát từ góc độ năm quan điểm – chú giải Pṭs i 54tt; Thanh Tịnh Đạo 629tt. [43]. Be Se giải thích là sīlasamādhīsu yutto payutto, chú giải Ce sīlasamādhiyutto payutto, c̣n bản văn th́ ghi là sīlasamādhisampayuttaṃ; tôi chấp nhận theo chú giải Be Se, thừa nhận rằng yutto payutto cũng giống với yuttapayutta như trong tập chú giải Ud-a 61. 384. [44]. Chú giải Ce Se giải thích là pubbaṅgamaṃ katvā; Be purato katvā, c̣n bản văn ghi là purato katvā pubbaṅgamaṃ katvā. [45]. Chú giải Ce Be Se giải thích là kammassakatālakkhaṇaṃ c̣n bản văn ghi là kammassa katalakkhaṇaṃ; chú giải Trung Bộ Kinh (M) iii 203. Vv-a 347. [46]. Sau khi đă biết rơ sanh và diệt; chuỗi gồm các sự kiện trong câu phức tạp này, loại bỏ các chú thích và các ư tứ thêm vào. Phải được hiểu như sau đây: (1) sau khi đă bố trí được chánh kiến sẵn sàng, ngài (2) khởi sự nhập thiền minh sát, và rồi (3) khi ngài am hiểu được các hành, (4) ngài bắt đầu biết rơ sanh và diệt, sau đó (5) ngài tinh tấn tu luyện thiền minh sát bằng cách nhập thiền tịch tịnh. (dissolution). [47]. Chú giải Pṭs i 57tt. được trích dẫn và giải thích trong Thanh Tịnh Đạo 640tt. [48]. Chú giải Ce Be Se giải thích là bhikkhu c̣n bản văn ghi là bhikkhū. [49]. Ce Be Se giải thích là heṭṭhimamaggavajjhānaṃ c̣n bản văn ghi là heṭṭhimamaggavajjānaṃ (? Đây là điều các thánh đạo thấp hơn cần phải sát trừ.) Một điều không mấy rơ ràng tại sao Woodward lại chối bỏ cách giải thích này; chú giải Ud-a 283 dưới đây cũng tương tự như vậy. [50]. Diṭṭhivippayuttalobhasahagatacittuppādesu; đây là một tham khảo về tám loại hiện trạng tâm bất thiện; có căn nơi tham lam, trong Thanh Tịnh Đạo 454. 684. và được đặt, trong số toàn bộ 89 loại tâm, như thể (22) – (29). Trong số các tâm này, có bốn câu hành hỷ, (somanassa) bốn câu hành xả (equanimity) và hoặc tương ưng với, hoặc không câu hành với tà kiến, hoặc là hữu trợ hay bất thôi thúc:
V́ hôn trầm và thụy miên chỉ có thể đi kèm theo với các hiện trạng tâm hữu trợ, và v́ các tâm được nói đến ở đây cũng được hiểu là đă tách khỏi các tà kiến, rất có thể được qui cho hoặc là (25) hay (29). Xin cũng xem chú giải bản liệt kê trong Ppn 883 và trong Tự điển Phật Giáo. Tỳ khưu Bodhi cũng giải thích rằng: “Māna (kiêu mạn) được gọi là tadekaṭṭha (được kết hợp với/ cùng tồn tại với) liên quan đến hôn trầm và thụy miên, không hiểu theo nghĩa nhất thiết phải cùng tồn tại với cả hai mươi cùng một cittas – điều này có thể hoặc không thể diễn ra – những ǵ thuộc về cùng một nhóm các phiền năo cụ thể là những phiền năo đó phải được triệt tiêu đến tận gốc rễ nhờ thánh đạo thứ tư. Xin đọc cách giải thích các từ tadekaṭṭha trong Asl 345tt, và cách phân biệt sahajekaṭṭha và pahānekaṭṭha. Kiêu mạn và hôn trầm và thụy miên có thể nổi lên nơi các cittas (tâm) không tách khỏi kiêu mạn”. Tuy nhiên, chỉ có thánh đạo tột đỉnh mới co thể triệt tiêu được kiêu mạn mà thôi. [51]. Be Se giải thích là tividhadukkhatāyogena duggatisaṅkhātā c̣n bản văn Ce ghi là tividhaduggatisaṅkhātā. Đây cũng là một tham khảo về ba bản chất của đau khổ dưới dạng đau khổ nội tại, đau khổ liên kết với các hành và đau khổ liên kết với vô thường – Chú giải D iii 216. S iv 259. v.v… [52]. Patiṭṭheyya; Se tiṭṭheyya. [53]. Tāsaṃ parabhāge; h́nh như nghịch nghĩa với sabhāga, hiểu theo nghĩa “đồng nhất, tương đồng” (OP). Hiểu theo nghĩa đen “phần c̣n lại” hay rất có thể là “vật tương ứng” hay “phần bổ xung”, Tự điển PED chỉ đưa ra ư nghĩa là “phần ngoài, phần xung quanh” trích trong Pv-a 24 (= Chú giải Tiểu tụng (Khp-a) 206) trong đó ta thấy kuḍḍānaṃ parabhāgā (về phía bên kia (=phía bên ngoài) bức tường) trong phần giải thích tirokuḍḍā. Các trẻ con chỉ cho một ư nghĩa “cao hơn, xuất sắc”, và SED chỉ cho là “ sức mạnh vĩ đại hay công lao, xuất sắc, uy thế” điều đó dường như thích hợp trong bản văn hiện tại, mà không thích hợp trong SA ii 29 (ở đó nó dường như có nghĩa là một phần ám chỉ cá sấu trên mặt nuớc) hay SA ii 115 (ở đó nó dường như có nghĩa (đào bới) một lớp đất thêm). Ở đây Dhammapala hoà toàn phủ định một số quan điểm mà đă xác định một số loại đồng nhất giữa samsāra và nibbāna?
|
|